Viện sĩ

               Tháng 4/1978 tôi về Phân viện Thiết kế Cơ giới nhận công tác. Và việc gì đến thì nó phải đến, ngày 26/9/1978, thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp đã ký Quyết định số 581/BB89 trao quân hàm Thiếu úy cho tôi. Đúng là người may mắn, muốn gì là được nấy. Cái này người đời vẫn truyền tụng chẳng sai, “con ông cháu cha” mà. Nếu không có cái oai của ông cụ thì chắc mình cũng chẳng là cái gì cả. 



         Tôi được phân về Phòng Thiết kế Ô tô, một trong những phòng chuyên môn chính của Phân viện. Những ngày đầu cũng phải làm quen dần. Tuy nhiên tôi hơn mấy anh sinh viên mới ở trường ra vì đã có một năm thực tế. Tác phong, cách làm việc cũng đàng hoàng hơn, chuyên môn cũng vững hơn vì có thực tế mà. Tôi luôn xác định phải phấn đấu nắm vững kiến thức về chuyên môn mới có cơ hội vươn lên bằng chính năng lực của mình. Các cụ cũng chỉ là người thả mình vào bể bơi thôi, có nổi lên mặt nước hay chìm nghỉm, bơi nhanh hay bơi chậm là do cố gắng của bản thân. Lính mới hay bị bỡ ngỡ, lúng túng ban đầu, các đàn anh ra sức “chỉ bảo”. Tuy vậy, cũng chỉ sau tháng đầu tôi đã vững vàng cả về chuyên môn và bản lĩnh. Sẵn sàng tranh luận đến cùng nếu mình đúng. Giai đoạn này tôi được tham gia một chương trình thiết kế lớn trang bị cho Quân đội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Tiến sĩ Nguyễn Tu, Trưởng Phòng chúng tôi. Mặc dù sau đó không đưa vào thực tế nhưng đã giúp tôi vững vàng trong thiết kế và đủ độ tin cậy để được giao chủ trì các nhiệm vụ những năm về sau.

Năm 1980, tôi được cơ quan cho đi thăm quan thực tập ở Liên Xô sáu tháng, kể cũng sung sướng vì được đi Tây. Thời gian này, chúng tôi cố gắng thu nhận thật nhiều những hiểu biết, kinh nghiệm công tác. Ngày vào thăm quan các phân xưởng, lên lớp học lý thuyết, tôi ghi chép dày đặc đến gần chục cuốn vở 100 trang kẻ ca rô. Tối về khách sạn lại còn tiếp tục vẽ sơ đồ, ghi chép lại những nội dung mà ban ngày chưa kịp viết hoặc không tiện viết ra. Tuy vậy, khả năng áp dụng cũng rất hạn chế vì nền tảng hạ tầng của hai nền công nghiệp quá xa nhau. Hơn nữa, không hiểu vì lý do gì mà tất cả sách vở của chúng tôi gửi qua đường tàu biển lại không đến tay chúng tôi. Nhưng những chuyện đáng nhớ trong dịp này lại là những chuyện chả liên quan gì đến chuyên môn.

Một lần được trở lại nước Nga

Đó là chuyện đi Tây. Thời đó, được đi Tây là một diễm phúc lớn lao của mọi người. Mà đi Tây là phải quan tâm đến việc tính toán hiệu quả kinh tế: mua gì để bán được và có tiền mua gì để có lãi cao vừa trả nợ vừa có chút ít của cải, tiền nong. Có nhiều anh bạn còn cho tôi xem một cuốn sổ tay ghi chép tỷ mỉ các mặt hàng cần mua, nhãn mác, giá cả,… Tôi bị cuốn hút ở mức độ nhất định nhưng trước khi lên đường, mọi người khuyên cố mua cái gì mang về, không dùng thì bán được ít tiền… Thậm chí, cha tôi cũng dặn: cố mua lấy cái quạt tai voi mà dùng… Ngay ngày đầu tiên sang nước Nga, trú tạm ở nhà khách Sứ quán cũng kịp mua một cái bàn là của người quen anh bạn. Chúng tôi đi tầu hỏa xuống thành phố Va rô nhét và ở đây 3 tháng. Cũng lần mò mua được khăn voan đỏ, quạt máy, may so,… Về cơ bản thì sứ mệnh đã hoàn thành. Nhưng trong đầu óc lại nảy ra tính toán phải mua được một chiếc xe đạp “cuốc” mới oách. Thế là ngày đêm tính toán chi tiêu làm sao lòi ra được chừng hơn 100 rúp để có thể mua được cái xe đạp. Những tính toán này kéo dài cho đến khi chúng tôi rời đi thành phố Rốp nô (nước Cộng hòa XHCN Ukrain). Đến đây thì đã rõ kế hoạch rất thuận lợi: ở đây mua xe đạp dễ hơn ở Nga, hàng chuyển xuống cảng Khác cốp về Việt Nam. Vì vậy, anh thì bán đồng hồ, anh thì bán nhẫn vàng, v.v… để chuẩn bị đóng thùng hàng hóa. Hầu như tất cả đã đặt mua xe đạp, có anh mua hai chiếc. Tôi tính toán có thể mua được 1 cái xe về thay “ông lão” Sterling đã suốt 40 năm phục vụ cha tôi rồi anh cả. Nhưng như vậy sẽ chả còn mua được gì nữa: nào quà cáp, nào đồ dùng cho nhu cầu cá nhân,… Lúc này trong nước có phong trào thuốc lá cuốn, nhà nhà cuốn thuốc lá. Mà cuốn thuốc lá thì cần giấy pơ luya. Theo một “chuyên gia” cho biết mua được giấy pơ luya về lãi gấp 3 đến 5 lần. Thế là tôi tính chỉ cần mua 10 kg giấy này (giá chừng 30 rúp) về bán lãi gấp 3 lần thôi là mua được một con xe “cuốc” mà không phải lo nghĩ tính toán cũng như lo gửi hàng, nơm nớp chờ đợi hàng về… Các bạn cứ lo lắng mua xe, gửi xe đi, về nước tôi chỉ bán xong mớ giấy pơ luya này là mua lại xe của các bạn ngon ơ. Và thế là công việc được thực hiện nhanh chóng. Tôi còn mua được Pan tô gờ rin (Sâm nước), mua được vải hoa, mua được áo bay, áo ấm,… nói chung là mua sắm thỏa mái. Còn thời gian nghỉ đi chơi khắp thành phố, la cà vào nhà dân, chụp ảnh vô tư. Dân ở đây rất mến khách, chúng tôi đã có lần vào nhà uống vốt ca – loại tự nấu – nhấm nháp miếng mỡ lợn gác trên bếp lò, hoặc vào khu tập thể sinh viên ăn món dân tộc: khoai tây nghiền, cá sống đỏ hỏn,… Thỉnh thoảng còn mua bia uống, ăn các loại kem, bánh trái châu Âu. Khi Ban Giám đốc nhà máy chúng tôi thực tập có ý định tặng quà cho chúng tôi (nhưng hạn chế khoảng 5 rúp) thì khác mọi người, tôi yêu cầu món quà là đĩa hát của nghệ sĩ Ala Pugatrôva. Khi tất cả đoàn nhận mỗi người một cái đồng hồ để bàn giá 4,5 rúp thì tôi nhận một lúc hai cái đĩa hát giá hơn ý định của bạn một chút. Vừa lãi hơn, vừa… rất sang trọng!

Dạo mới đi Tây về

           Khi về nước hóa ra giấy bán rất khó, để mãi không có ai hỏi. Thì ra mua có bạn, bán có phường chứ không phải cứ có hàng, mà là hàng xịn, thì bán được như tính toán. Mãi sau mới có người mua mà cũng không mua hết 10 kg, giá tính ra là hòa, thì ra tôi chỉ làm anh khuân vác thôi. Và tất nhiên phải “gia hạn phục vụ tại ngũ” cho lão Sterling nhiều năm nữa. Những năm sau có con, kinh tế eo hẹp, còn có mấy chiếc áo bay, áo ấm bán đi mua sữa cho con. Thế là mãn nguyện rồi.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Nhớ rừng Yên Thế