Nhớ rừng Yên Thế
Thời chiến, xe ô tô thường chạy ban đêm để tránh máy bay địch. Tối đó, chúng tôi nai nịt gọn gàng, ba lô trên lưng tập hợp ở cái bãi chợ Bầu. Nơi đây, mỗi lần có chiếu phim là cả bọn lại kéo nhau đi xem. Xem phim là phụ, mục tiêu chính là “gẹo” gái làng. May mà trai làng rủ nhau đi bộ đội sạch, chứ chúng nó mà ở nhà thì thế nào bọn tôi cũng có anh sứt đầu mẻ trán…
Đoàn xe của bộ đội đưa chúng tôi lên Kho
K680 Quân khí đóng quân trong một khu rừng nằm giữa hai tỉnh Bắc Giang và Lạng
Sơn mà “tương truyền” là nơi nghĩa quân Hoàng Hoa Thám lập căn cứ chống Pháp cuối
thế kỷ XIX. Xe chạy suốt đêm, mờ sáng vào đến Nhã
| Suối Mỏ Trạng, Yên Thế |
Ban ngày, chúng tôi đi bộ vào làm việc
trong các nhà kho sâu trong rừng, trưa về nhà bếp ăn trưa. Nghỉ trưa chừng một
tiếng, sau đó làm việc tiếp cho đến khi có kẻng báo thì về nhà ở nghỉ ngơi, làm
vệ sinh rồi ăn tối. Nhà bếp bố trí bên cạnh một bờ suối lớn, ngoài sân có một
cây nhãn già. Lúc này vào khoảng tháng 7 nên cây nhãn được bao một tấm lưới lớn
để ngăn dơi phá.
Chúng tôi cũng lần lượt thay phiên nhau nấu
ăn, mỗi đợt làm liên tục một tuần lễ. Khi đến lượt, cũng bắt chước nhau “giấu”
thức ăn vào chậu đựng cơm cho các bạn hữu của mình, tổ mình,… So với những năm
tháng còn nhỏ, tôi sơ tán theo trường Văn hóa Quân đội ở Đại Từ, Thái Nguyên
thì ở đây thực sự là sung sướng hơn rất nhiều.
Một trong những kỷ niệm khó quên của tôi
với bạn Cường, bạn Đạt là trong một lần rủ nhau “mò” vào nhà dân kiếm ăn. Vào
một nhà, thấy có cây mít quả lúc lỉu, chúng tôi liền hỏi mua. Nghe nói vỗ bồm
bộp là mít chín, chúng tôi chọn được một quả xem ra có vẻ sắp ăn được: thơm
phức, tròn vo, mắt đã thưa và… quả nhỏ hợp với khả năng tài chính của bọn đói
ăn chúng tôi. Chủ nhà quả quyết là chén được ngay nên cả bọn hí hửng vác ra
suối dự định tắm xong sẽ làm… mít. Nhưng khi dịch vị đã tràn cả ra mép cả ba
thằng thì quả mít bổ ra vẫn chưa chín. Cố ăn nhưng miếng mít sường sượng, nhạt
hoét. Tiếc của, lại đậy lại chờ cho chín. Nhưng bàn tính nếu mang về nhà thì
lộ, vả lại “thóc đâu mà đãi gà rừng”. Thế là quyết định chôn ngay tại chỗ tức
là bên bờ suối. Hai ngày sau không nhịn được nên cả bọn quyết định ra đào lên
thì ôi thôi, mít đã bốc mùi thum thủm.
![]() |
| Cùng những người bạn trong một lần trở lại Mỏ Trạng |
Chủ nhiệm Kho là ông Thiếu tá Lê Trung. Ông
này tôi có được gặp vài lần ở kho, dáng người không to cao nhưng được cái rất
oai vệ, lúc nào cũng khệnh khạng, tay cầm ba toong, dắt chó béc ghê đi theo.
Tôi nhớ nhất là khi ông đứng nói chuyện thì hai tay tỳ vào cây ba toong chống
phía trước… Sau này lên công tác ở Kho KV1, tôi được biết gia đình ông vẫn theo
Kho đi các nơi, ông đã mất vài năm rồi, con trai ông hiện công tác tại kho đó.
Kho K680 còn có trung úy Hảo – ban kỹ thuật. Sau lấy vợ là cô Phương, sinh viên
K15 Chế tạo máy, cũng lên K680 lao động đợt ấy. Khi về công tác ở Tổng cục Kỹ
thuật, tôi có gặp lại anh Hảo – lúc này là Phó Cục trưởng Quân khí.
Thế rồi cũng qua những tháng ngày “quần
quật”, chúng tôi kết thúc chuyến công tác đặc biệt trở về tiếp tục học tập. Hôm
ra về, ai cũng được một tặng phẩm: đó là một cái thùng sắt vuông cỡ 40 x 40,
sâu 15 phân sơn màu xanh quân sự kiểu như thùng đạn, để làm cái chậu tắm rửa
thì còn gì bằng. Trên thân thùng có dòng chữ sơn trắng: K680 KINH TANG (kính
tặng). Mang về Hà Nội, bà già lấy làm đồ chứa nước và giặt khăn lau nhà – công
việc ưa thích nhất của bà. Đương nhiên là nó mau gỉ và hư hỏng.
Riêng tôi còn được Ban lãnh đạo Kho cấp cho
Bằng khen về thành tích lao động do Thiếu tá Lê Trung ký. Do khen thưởng đợt
này mà tôi được bạn bè nể trọng hơn. Những khuyết điểm nhỏ sau này tôi phạm
phải, sẽ kể vào dịp khác, phụ trách lớp và các bạn cũng lơ đi cho.

Nhận xét
Đăng nhận xét