Những kỷ niệm về ngôi nhà 97
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn!
(Trích Tiếng
hát con tàu – Chế Lan Viên)
Chuyện bắt đầu từ ngày Bố tôi ở chiến trường miền Nam ra Bắc, đó là
khoảng cuối mùa Xuân năm 1974. Sau 10 năm ở chiến trường ác liệt bậc nhất trong
các cuộc chiến tranh ở đất nước này, Bố tôi được trở về.
Những ngày đầu trở lại đất Bắc, Bố tôi về lại ngôi nhà ở Hà Đông. Nơi
đây nguyên là chỗ gia đình tôi đã ở từ năm 1963, khi Quân khu 3 thành lập trên
cơ sở nhập lại từ Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Tả Ngạn.
![]() |
| Ngôi nhà ở Hà Đông năm 1974 |
Lan man thêm đôi dòng về cái thời đó. Mặc dù chỉ kéo dài chừng hơn 1
năm – từ mùa Hè năm 1963 đến cuối năm 1964, khi đó tôi đang học lớp 4, năm cuối
của cấp I. Bố tôi gửi tôi vào học ở trường làng Vạn Phúc. Gọi là trường nhưng
tất cả học sinh dồn vào mấy gian nhà chạy dọc hai bên Đình chính làng Vạn Phúc.
Lớp học thông thống, tiếng giảng bài, tiếng gõ thước kẻ của các thày cô lẫn
tiếng học sinh đọc bài hòa lẫn vào nhau. Giờ ra chơi thật náo động. Sân đình ào
ào như ong vỡ tổ. Trước cửa đình có đắp tượng hai ông thần: ông Ác và ông
Thiện. Lũ học trò nghịch ngợm thách đố nhau móc chim tưới vào các ông vì chúng
bảo nhau là đứa nào đái vào ông Ác thì chim sẽ bị sung to lên và đau nhức, gọi
là buồi bống. Nhưng có lẽ hoạt náo nhất lại là trong đình làng. Nơi đây có
nhiều thứ đồ chơi hấp dẫn hơn bên ngoài sân. Mặc dù trong đình có ông từ, người
canh chừng lũ học sinh, hò hét quát mắng lũ trẻ hiếu động nhưng vẫn có nhiều
đứa leo vào gian thờ, rút những thanh gươm, thanh đao, bát xà mâu,… trên giá
Chấp kích đem ra múa may, dứ dứ vào nhau.
Tôi là thằng bé tỉnh lẻ mới ra nên thật lẻ loi cô độc ở đây trong suốt
năm học lớp 4 vì lúc đó, trẻ con trong khu Gia đình của Quân khu đều được gửi
ra học ngoài phố Thị xã Hà Đông, bên kia cây cầu xi măng quét vôi trắng. Hàng
ngày, cứ lủi thủi, lẽo đẽo cuốc bộ đi về hơn 1 cây số vào làng đi học. Thế rồi
cũng xong được cái lớp cuối cấp trong làng Vạn Phúc.
Trở lại năm 1974, Bố tôi vẫn công tác trong Quân đội. Tháng 4 năm 1974,
ông được phong quân hàm Trung tướng cho những công lao kháng chiến đánh Mỹ 10 năm
ở chiến trường Nam bộ và giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội.
Trong chuyến về Bắc này, Bố tôi đi bằng ô tô chạy dọc đường Trường Sơn
suốt từ Lộc Ninh ra đến Hà Nội. Bố tôi vào Nam chiến đấu lần đầu phải đi sang
Quảng Châu, Trung Quốc. Sau đó, đi bằng tàu buôn của Trung Quốc đến cảng
Sihanoukville của Campuchia. Từ cảng, xe của sứ quán Trung Quốc ra đón đưa về
Phnom Pênh. Sau đó, tình báo của ta đưa bằng xe hơi đến biên giới, rồi đẩy các
cụ “vượt biên”. Bên ta có người đón đưa các cụ về căn cứ Bộ Chỉ huy Miền.
Năm 1969, Bố tôi có ra Hà Nội họp, sau đó ở lại chịu tang Bác Hồ. Lần
này, cả đi lẫn về đều bằng máy bay từ Phnom Pênh sang Trung Quốc trong vai là
các nhà buôn, rồi từ đó đi tàu hỏa hoặc ô tô về Việt Nam.
Ra Bắc lần này được đi ô tô dọc đường mòn Hồ Chí Minh là mong ước của
Bố tôi. Dọc đường vừa đi vừa nghỉ, Bố tôi có nhiều tấm ảnh và thước phim về con
đường lịch sử và phong cảnh bên đường của các vùng miền. Trong Hồi ký, khi kể
về chuyến đi này, Bố tôi viết: Ngót mười năm ở chiến trường, sau khi Hiệp định
Pa-ri được ký kết, Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền gợi ý cho Bố tôi tranh thủ
ra Bắc nghỉ ngơi một thời gian. Đầu năm 1974, sau khi bàn giao xong mọi công
việc, Bố tôi lên đường trở ra Bắc.
Trong Hồi ký, Bố tôi kể: “Lần này ra Bắc, tôi không đi máy bay như hồi
1969… mà là đi dọc Trường Sơn theo con đường chiến lược mang tên Hồ Chí Minh.
Khi được tin này tôi rất thích thú, bởi nó rất phù hợp với nguyện vọng của tôi
bấy lâu nay”. Bố tôi còn ghi lại những cảm nghĩ về con đường: “Lần này ra Bắc
lại được đi theo đường Trường Sơn, con đường chiến lược huyền thoại, thì đối
với tôi là một niềm vui lớn. Vốn từ lâu, tâm trí tôi đã luôn hướng về con đường
mà hàng vạn hàng vạn đồng đội của tôi đã lần lượt băng qua để từ hậu phương lớn
vào tiền tuyến lớn. Tôi muốn tận mắt nhìn thấy và chia sẻ nỗi gian nan, vất vả
với họ.
Nhưng cũng từ trên con đường lịch sử này, Bố tôi còn mang một nỗi niềm
riêng mà ông chưa từng thổ lộ với ai. Về việc này, anh Trần Thắng có lần nói:
Hình như trong Bộ Chỉ huy Miền, Bố tôi có chuyện mâu thuẫn về quan điểm nên
được kéo ra Hà Nội. Và rồi qua chắp nối những câu chuyện được nghe, được đọc… ở
đâu đó, tôi tạm sắp xếp như thế này:
Sau khi Hiệp định Paris, ông Tố Hữu, lúc đó là Bí thư Trung ương Đảng
có vào Bộ Chỉ huy Miền phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 với
tư tưởng chỉ đạo là thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định. Với tư tưởng ấy, Bố tôi
đi truyền đạt trong toàn lực lượng Quân Giải phóng miền Nam. Thậm chí, ở trong
một Hội nghị, Bố tôi còn yêu cầu đưa “ra tòa” những chỉ huy vi phạm Hiệp định.
Trong tình hình phát triển của chiến trường sau Hiệp định, quân đội Việt Nam
Cộng hòa đánh lấn chiếm ra vùng Giải phóng. Quân Giải phóng đánh trả và chiếm
lại những nơi bị lấn sang. Nhiều nơi, thừa thắng xông lên, Quân Giải phóng tiếp
tục mở rộng them phần đất để củng cố thế chiến lược. Sang năm 1974, thế trận
trên chiến trường thay đổi nhanh chóng, có lợi cho Quân Giải phóng, khi có cơ
hội thuận lợi và nhất là sau Hội nghị Quân ủy Trung ương vào tháng 3 năm 1974
thì Quân Giải phóng chủ động phản công và tiến công liên tục mở rộng vùng kiểm
soát. Và có lẽ do vậy, Bố tôi được đưa ra Bắc “nghỉ ngơi”. Kể về chi tiết này
là vì sau khi đọc Hồi ký của Đại tướng Lê Đức Anh, có đoạn:
“Trở về
miền Nam, tôi được anh Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh Bộ đội 559 - tổ chức đi theo
đường Đông Trường Sơn. Vào đến Đông Hà - Quảng Trị, gặp anh Trần Độ từ Miền ra,
tôi hỏi:
-
Anh ra thì ai thay?
Anh
im lặng không nói gì, sau đó anh bảo:
-
Sau khi có Hiệp định Paris, tình hình phức tạp quá. Khi anh Tố Hữu vào phổ biến
thì tin ở Trung ương.
Tôi
bảo:
-
Tin ở Trung ương là đúng, nhưng phải phản ánh đúng thực tế chiến trường với
Trung ương và phải kết hợp hai vấn đề đó lại.
Anh
bảo giờ anh ra Bắc. Tôi bắt tay chào anh, thấy anh không vui, tôi cũng không
hỏi vì sao anh ra”. (Trích chương 7, hồi ký "Cuộc đời và sự nghiệp cách
mạng" của Đại tướng Lê Đức Anh)
Đầu năm 1975, khoảng sau Tết
Nguyên đán, Bố tôi được Tổng cục Chính trị Quân đội thu xếp chuyển về ở số nhà
97 phố Trần Hưng Đạo. Đương nhiên là cả gia đình kéo về đoàn tụ. Lúc này, Bố
tôi giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục. Đồ đạc kéo từ Hà Đông ra chả có mấy, toàn
đồ của công trang bị như ti-vi, tủ lạnh và vài cái tủ áo, bàn ghế đóng bằng gỗ…
Khi mới ra Bắc, Bố tôi chỉ còn đống sách vở từ trước lúc đi B và cái giường
“huyền thoại” mà tôi đã có dịp mô tả lại trong một câu chuyện. Khi ở Hà Đông,
Bố tôi đặt đóng bộ ba cái tủ rất “hiện đại”: một cái hai ngăn, ngăn trên cửa
lật, ngăn dưới cửa hai cánh. Các cánh cửa đều có khóa chìm chắc chắn, nhưng
phía sau tủ không có tấm hậu – để trống, gọi là “thủng đít”. Có lẽ thợ mộc cũng
hết sức thắc mắc vì trong đời làm nghề của mình chưa từng thấy cái tủ nào lạ
lùng như vậy. Đó là cái tủ để dàn máy âm thanh mà Bố tôi đặt mua mới từ nước
ngoài gồm một tăng âm và 1 đầy máy quay băng hiệu AKAI. Hai cái tủ còn lại có
thiết kế đối xứng nhau, kê hai bên cái tủ để dàn máy. Chúng giống như cái tủ
sách nhưng ô ngăn phía ngoài thì để trống. Chỗ đó, đặt vừa vặn cho hai thùng
loa to nặng hiệu Pionner CS-99A. Toàn bộ dãy tủ này đặt vừa bức tường dài của
căn phòng vừa làm nơi tiếp khách, vừa là nơi làm việc của Bố tôi.

Hình ảnh Khu Đấu Xảo chụp năm 1938 thấy rõ nhà 97
Nhà số 97 là khu biệt thự có từ thời Tây cai trị. Có vài tấm ảnh chụp toàn khu vực từ những năm đầu thế kỷ XX thấy đã có ngôi nhà đứng đó. Hình ảnh rõ nhất chụp từ trên máy bay toàn bộ Khu Đấu xảo năm 1938 cho thấy nhà 95 và nhà 97 được xây hoàn chỉnh. Nhà 99 mới bắt đầu triển khai xây dựng. Một tấm ảnh chụp trước đó, chú thích là chụp năm 1923 thì chưa thấy nhà cửa gì ở khu đất này.
Nhà 97 nổi bật với tòa nhà hai tầng mái ngói tường gạch nằm giữa khu đất hình chữ nhật ngay ngắn. Tầng
dưới chỉ gồm 1 phòng khách rộng, hai ngăn, có cửa mở ra phía trước – ngoài
đường. Căn phòng phía sau có cửa thông xuống dưới. Ngăn cách phòng khách và
phòng sau là cây cầu thang gỗ lim đen đúa, có cửa đi bên cạnh. Trên tầng 2, có
hai phòng ngủ phía ngoài. Phòng ngoài, có ban công trông ra phía trước, có lối
đi riêng từ cầu thang vào. Phòng trong có cửa mở ra ngay lối cầu thang lên.
Phía sau là một khoảnh sân thượng nhỏ nhưng bị chắn bởi mấy ngăn nhà nhỏ phía
cuối để làm bếp và nhà tắm và vệ sinh.
Giữa nhà trên, ngôi nhà hai tầng và nhà dưới, từ dãy nhà ngang có một
khoảnh sân con với chỗ rửa ráy, giặt giũ và một bể nước xây xi măng cao tầm mét
rưỡi. Lúc đầu, còn nhiều nước, nhiều đêm nước chảy tràn cả ra ngoài nên dùng
thoải mái. Sau yếu dần, cái bể lúc nào cũng chỉ có ít nước lưng lửng dưới đáy.
Phía sau ngôi nhà hai tầng là dãy nhà ngang một tầng, lợp ngói và ngăn
riêng ra các phòng nhỏ. Sau cùng là nhà bếp, nhà để xe và nhà vệ sinh chung.
Khu nhà nằm trên miếng đất rộng hơn 400 mét vuông với chiều rộng mặt trước hơn
10 mét và chiều sâu hơn 40 mét. Qua thời gian, thay đổi nhiều chủ sử dụng nên
có nhiều công trình mới xây dựng mà hầu như là làm tạm bợ, hầu như đã cũ nát.
Lúc gia đình chúng tôi chuyển đến, nhà 97 đã được sửa chữa, vôi ve lại, nhưng
cũng chỉ là dùng được thôi. Tuy vậy, đối với lũ chúng tôi, từ quê ra tỉnh, thế
là tươm quá rồi.
Công trình kiên cố nhất trong khu nhà có lẽ là căn hầm kiên cố được xây
dựng thời chiến tranh ở khoảnh sân trước nhà. Sau năm 1975, Bố tôi cho dọn đi
nhưng vì tường bao quanh hầm khá chắc chắn, rất vất vả khi đục phá nên đành xây
quay lại thành vườn cao nửa thước và đổ đất, trông các loại cây, cả cây cảnh,
hoa hoét và cây ăn quả. Hồi đó, Bố tôi còn có cái xe Jeep, cho chạy vào Hà Đông
chở đất ra để lấp vào khoảnh vườn này.
Góc tường chỗ căn hầm này có cây sấu cổ thụ được giữ lại lấy bóng mát cho cả khu nhà. Cạnh cây sấu, cũng sát tường, còn có cây khế to, tỏa bóng mát sang cả nhà bên cạnh, nhà 99 nên gốc bên này mà quả chín vàng thì sang hết bên kia. Giữa sân, phía đầu nhà ngang có một cái hốc đất giữa nền láng xi măng, Bố tôi trồng cây kim giao, mang từ rừng Cúc Phương về năm 1974. Cây mang về cao hơn 1 mét, chuyển từ Hà Đông ra. Đến khi xây dựng lại nhà 97 năm 2006, đem cho đi vì nó cao đến 3 mét không biết xếp vào đâu. Cạnh gốc kim giao có trồng một dàn nho, khi nho lan ra khắp dàn, trĩu trịt quả nhưng chua vãi đái. Những năm thiếu đói, Mẹ tôi trồng cả thiên lý, mướp, gấc… lung tung cả. Bố tôi rất thích trồng hoa, ven tường xung quanh nhà, ông cho xây những ô hẹp, đổ đất vào rồi trồng hoa hồng, thược dược, đồng tiền,… và cả những chậu hoa loa kèn đỏ rực rỡ. Có một thời gian dài, ở ô đất sau nhà hai tầng được trồng nhiều cây chuối pháo.
| Nhà 97 những năm đầu thế kỷ XXI |
Khu nhà được khai thác sử dụng hết diện tích có thể. Lối cạnh bên nhà hai tầng và tường ngăn với nhà 99 được lợp giấy dầu làm nơi chứa than củi đun nấu suốt thời gian đầu.
Hồi đầu, phần nhà ngang phía sau dành toàn bộ cho bộ phận đi theo phục
vụ Bố tôi từ chiến trường ra, gồm một nhóm lính 3-4 bảo vệ, súng ống lỉnh kỉnh.
Anh Lê Văn Nu, người dân tộc ở Thanh Hóa làm cần vụ. Anh Thụy, lái xe, người
Thái Bình. Một số làm cấp dưỡng, bảo vệ và bác sĩ thì lấy người trong Tổng cục
ra. Bằng ấy con người xếp gọn trong ba gian ở dãy nhà ngang.
Đồ đoàn được vận chuyển ra số nhà 97 có lẽ chỉ trong một buổi để sắp
xếp ổn định cuộc sống nơi định cư mới. May sao, chỉ một thời gian ngắn, sau
ngày 30 tháng Tư năm ấy thì giải tán đội bảo vệ, trong nhà chỉ còn lái xe, bảo
vệ, cấp dưỡng và cần vụ. Sau này, Bố tôi lấy thêm anh Nghiêm Hà từ tỉnh đội Hà
Đông ra làm thư ký thì ba gian nhà sau được sử dụng hết.
Dãy nhà cuối trong khu, ngoài một gian làm nhà để xe của Bố tôi, Mẹ tôi
sắp xếp nhà bếp, nhà ăn của gia đình và gian kho tàng ở cạnh nhà vệ sinh.
Lúc này, nhà 97 có Bố, Mẹ tôi và chỉ có tôi đang theo học Bách khoa ở
đấy. Anh Trần Thắng vẫn ở trong Nam. Trần Điền đi học nghề ở Bungari. Trần Hải
đi lính nghĩa vụ rồi lên Lạng Sơn học văn hóa, sau học Đại học Xây dựng. Bố tôi
sắp xếp cả hai gian phòng khách làm nơi tiếp khác và phòng làm việc. Phòng ngủ của
Bố tôi ở trên gác hai, phòng gần lối cầu thang lên. Còn phòng phía trước là
riêng của Mẹ tôi. Tôi nằm ở cái giường con ở phòng phía sau, dưới tầng 1. Phòng
này có kê cái tivi Ba Lan mà mỗi buổi tối là nơi tụ tập cả nhà xem phim, nghe
hát… và cũng là phòng ăn của Bố tôi. Một thời gian, tôi lại chuyển cái giường
đơn lên tầng 2, kê vào gian nhà tắm cũ, ngoài cái sân thượng, nằm ngủ và hưởng
trọn cái không gian riêng có này…
Năm 1977, anh Trần Thắng ra Bắc về ở đây. Bố tôi nhường cái phòng ngủ
trên gác hai cho anh và rút xuống tầng 1: dồn chỗ làm việc ra gian ngoài, lấy
gian trong làm nơi nghỉ ngơi, tiếp khách. Cuối năm ấy, anh Trần Thắng lấy vợ,
sinh Phước Trung vào năm 1978 vẫn ở căn phòng trên gác 2 cho đến cuối năm 1981.
Những năm sau, anh Trần Thắng đưa gia đình về ở Khu tập thể Kim Liên – căn hộ
của gia đình vợ. Căn phòng này chuyển cho tôi lúc lấy vợ vào đầu năm 1982 và
cũng là nơi sinh Trần Tuấn vào năm 1983. Căn phòng này, gia đình tôi sử dụng
cho đến năm 2006.

Bụi hoa chuối pháo bên ngoài phòng của Mẹ
Năm 1979, Trần Điền từ nước ngoài về. Mẹ tôi cũng nhường căn phòng trên
tầng 2 cho Trần Điền và chuyển xuống tầng 1. Trần Điền lấy vợ năm 1981 và ở căn
phòng này cho đến năm 2006.
Căn phòng dưới tầng 1 trở thành nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi của Mẹ tôi vừa
là chỗ ăn của Bố tôi. Những bữa ăn chiều, cả nhà quây quần ở căn phòng này. Ăn
xong, mâm bát chuyển ngay ra chỗ bể nước rửa ráy rất thuận tiện… Căn phòng này
có sàn đá hoa được Mẹ tôi lau chùi sạch sẽ, luôn luôn mát mẻ dù trời mùa hè
nóng rực. Trần nhà do bị ngấm nước lâu ngày nên một hôm nó sập một góc. Từ đó,
phát hiện ra nhiều dầm gỗ đã ải mục, nguy cơ sập toàn bộ cái sân thượng là rất
cao. Vì thế, đã cho thay thế dầm gỗ bằng các thanh sắt chữ I, loại dỡ ở đường
tàu điện ra. Cái trần vôi rơm được thay bằng trần ván nhựa. Đề phòng cái sân
thượng bị ngấm nước mưa, năm 1992 cũng được lợp mái tôn che kín. Mẹ tôi ở căn
phòng này cho đến năm 2006.
Như đã kể ở trên, nhà ngang ngăn làm 3 phòng. Lúc đầu là nơi những
người đi theo giúp việc Bố tôi sử dụng. Năm 1976, Bố tôi chuyển ra ngoài Quân
đội nên chỉ giữ lại anh Nghiêm Hà, làm thư ký; cô Thủy (và sau đó là anh Phạm
Hồng Quyền), cấp dưỡng, Lê Văn Nu, cần vụ, anh Thụy (và sau đó là Phạm Xuân Lũy),
lái xe. Gian đầu (gần bể nước) là nơi nghỉ và làm việc của anh Nghiêm Hà, gian
giữa là lái xe, cần vụ. Gian sau dành cho cấp dưỡng. Khi anh Quyền ra làm cấp
dưỡng thì gian sau được gia đình anh Trần Thắng dùng làm nơi ở tạm và bếp từ
năm 1982. Lúc Bố tôi về làm việc ở Quốc hội thì anh Nghiêm Hà được phân nhà
dưới Vân Hồ và chuyển đi, gian nhà đó, Trần Hải sửa sang lấy vợ rồi ở đây từ
năm 1984. Gian phòng giữa, lái xe Lũy đưa gia đình lên ở. Gian cuối, cấp dưỡng
Quyền ở một thời gian cho đến khi nghỉ hưu, sau đó tôi sửa thành nhà bếp của
riêng. Khi Trần Hải chuyển nhà vào Nam năm 1986, Trần Điền sửa gian đầu nhà làm
bếp. Sau khi gia đình lái xe Lũy chuyển đi vào đầu những năm 1990, Trần Điền
sửa lại gian giữa nhà ngang làm nơi sinh hoạt, lúc đó gọi là “phòng lạnh” vì có
lắp điều hòa nhiệt độ.
Từ cuối những năm 1980, Trần Điền dựng cửa hàng buôn bán trên mảnh vườn
nhỏ phía trước, phía trong tựa hẳn vào mặt trước ngôi nhà hai tầng. Khi Bố tôi
nghỉ công tác, cửa hàng mở rộng thêm vào gian phòng vốn là nơi làm việc của ông
vì khi đó, Bố tôi dồn cả cuộc sống vào gian bên trong, cả nghỉ ngơi, làm việc
và tiếp khách. Căn phòng vẩy ra phía sau, vốn là chỗ rửa ảnh (gọi là buồng tối)
của Bố tôi được sửa sang thành một phòng vệ sinh khép kín. Hè năm 1992, Trần
Điền và tôi tiếp tục cải tạo sửa chữa dãy nhà ngang, kéo dài mái che ra sân
bằng khung thép, mái tôn, quay xung quanh bằng khung nhôm kính và gọi là “nhà
kính”. Anh em chia nhau sử dụng: Trần Quang sử dụng gian đầu và một nửa “nhà
kính”. Trần Điền sử dụng hai gian sau và nửa “nhà kính” phía trong.

"Nhà kính" được xây dựng năm 1992
Dãy nhà sau cũng được cải tạo sửa chữa: bếp của Mẹ tôi được làm trên
nền nhà để xe (vì lúc này ông không còn sử dụng nữa). Gian bếp cũ được tôi sửa
sang, sử dụng sau khi xây thêm bàn bếp, lát nền… Bếp cũ thời cấp dưỡng Hồng
Quyền được Trần Điền sửa làm nhà vệ sinh, có cửa thông với gian cuối của nhà
ngang… Đến cái hố xí chung của nhà 97 cũng được đặt lên vị trí cũ cái bệ xí xổm
bằng sứ sạch sẽ hơn. Phía sau hố xí có một khe rộng gần một mét có thời được Mẹ
tôi ngăn lại để nuôi lợn. Suốt ngày, Bà lóc cóc cái xe đạp mini của Trần Điền
mang từ Bungari về lang thang dọc phố nhặt nhạnh rau cỏ mang về nấu cám chăm
lợn. Vui nhất ngày bán lợn, thế nào cũng được ăn tươi.
Ngoài việc chuyển cái buồng vệ sinh bé tý ở chân cầu thang trên nhà hai
tầng vào gian “buồng tối” cho Bố tôi sử dụng, tôi cũng sửa sang nâng cấp thêm chỗ
đó cho gia đình sử dụng. Tuy thế, nước sinh hoạt là câu chuyện vô cùng nan
giải. Thời gian những năm 1980, nước cấp ngày càng ít, hầu như chỉ chảy vào ban
đêm. Đã vậy, cơn bão năm 1989 quật đổ cây hoa sữa trước cổng, rễ của nó bật
tung toàn bộ đường nước cấp cho nhà 97. Mất nước hoàn toàn. Suốt 1 tuần Mẹ tôi
đi xin nước, vợ tôi sang vòi nước công cộng bên ngõ Tức Mặc gánh nước. Tắm giặt
hầu như đều phải thực hiện ở… cơ quan. Sau khi có đường nước mới nhưng tình
hình vẫn chả khá hơn, buộc phải đào một cái bể xi măng ở ngay cánh cổng để hứng
nước. Từ đây, phải xách nước vào trong nhà để sử dụng. Thời gian làm “nhà kính”
có lắp máy bơm trực tiếp vào đường ống cấp và bơm nước lên bể inox đặt trên sân
thượng cho sinh hoạt của cả nhà.

Hoa loa kèn đỏ rực vườn nhà 97
Nhân tiện lại kể thêm về chuyện điện nhà 97. Vốn là khu nhà công vụ thời bao cấp, từ nhà riêng cho các tướng lĩnh đến chỗ ở tạm cho các chuyên gia và sau cùng nó trở thành một căn cứ thông tin liên lạc quân sự. Khi chúng tôi về ở, khu nhà có điện 3 pha. Từ cột điện ngoài đường vào nhà có 3 dây cáp cỡ 10 ly để trần và 1 dây “mát”.
Thời ấy, điện đóm phập phù, khi có khi không, lúc không nhiều hơn lúc
có. Hơn nữa, điện áp không ổn định. Tối đến, ánh đèn tù mù như con đom đóm đực,
nhìn thấy rõ từng sợi dây tóc. Sau 1975, nhiều nhà bê cái biến áp tự ngẫu từ
Sài Gòn ra dùng nên điện đóm càng trở nên thảm hại. Các thiết bị điện hầu như
không sử dụng được, tivi thì co hẹp màn hình, hình ảnh run lẩy bẩy; tủ lạnh
chảy nước ra… Khi có biến áp thì sử dụng điện có khá hơn nhưng lại có nỗi lo
thường trực. Đó là khi đồng loạt các nhà tắt tivi, điện áp tăng lên vòn vọt,
chuông báo động trong các biến áp rú lên hoảng loạn, chậm tay là cháy tủ lạnh,
bốc khói tivi như chơi.
Trận bão kinh hoàng năm 1989, cũng giật đứt luôn ba cái dây cáp điện
nên khi nối lại đường điện thì chỉ có 1 pha duy nhất và lúc đó cũng chuyển đổi
sang sử dụng lưới điện áp 220V. Cũng do nguồn điện không ổn định do thiếu điện
nên cơ quan Bố tôi “móc nối” cho ông một đường điện “ưu tiên”. Nguồn điện này
lấy từ bên số nhà 101 của một cơ quan ngành giáo dục. Chức vụ của Bố tôi đương
nhiên là có tiêu chuẩn dùng điện “ưu tiên”. Trong nhà cũng rất nghiêm túc, tách
riêng đường điện ấy chỉ dùng cho Bố tôi, ngoài việc cắm cái tủ lạnh sung chung
cho cả nhà. Đến một hôm, thanh tra điện lực vào kiểm tra, phát hiện và báo cáo
thế nào đấy mà một thời gian sau dỡ bỏ luôn cái nguồn “ưu tiên” này. Thời điểm
ấy, có thủy điện Hòa Bình nên sử dụng điện không khó khăn như trước nữa.
Rồi đến thời gian làm Hợp đồng tiêu thụ điện và trả tiền theo chỉ số công tơ. Thiên hạ rỉ tai nhau mẹo “ăn cắp” điện, có nghĩa là dùng thoải mái nhưng chỉ phải trả ít tiền. Thiết bị “ăn cắp” cũng thật đơn giản, chỉ cần cắm vào ổ điện và ngoắc cái đầu dây thứ ba vào dây “lửa” là đĩa quay của đồng hồ đếm điện quay theo chiều ngược lại.
Nhà 97 sau ngày Bố tôi mất đi vào năm 2002, chỉ còn hai hộ là Trần Quang và Trần Điền chia nhau cai trị. Bà Hằng cần có một phòng trên nhà hai tầng và một gian bếp, nguyên trước đấy là cái nhà để xe. Căn phòng Bố tôi dành làm nơi thờ tự và không gian trú chân cho Trần Thắng và Trần Hải khi ra chơi. Cuộc sống có lẽ cứ êm đềm như vậy nếu không có biến cố mấy anh em bàn nhau đập bỏ ngôi nhà cũ và xây nên một tòa nhà cao tầng trên chính mảnh đất ấy...


Nhận xét
Đăng nhận xét