Khởi nghiệp ở Sơn Tây
Tháng 5/1977 tôi lên Nhà máy Z.151 nhận công tác. Mấy ngày đầu còn ở tạm nhà khách của Nhà máy chờ làm thủ tục. Điều kiện ăn ở không khác ở nhà nhiều nên cũng quen dần. Hơn nữa đã hết chiến tranh rồi, đời sống cũng cải thiện hơn: có nước ở vòi chảy ra – nước sông Hang bơm lên rồi chảy ra vòi, ăn bếp tập thể kết hợp tăng gia thêm, điện sinh hoạt có từ 19 giờ đến 21 giờ hàng ngày…
Khi bắt tay vào công việc, tôi được giao nhiệm vụ làm kỹ thuật
viên cho Phân xưởng cơ khí – còn gọi là C6. Việc cũng chả rõ phải làm gì, thời
gian chủ yếu là chờ đợi xem có công việc gì liên quan đến kỹ thuật thì giải
quyết hoặc tham gia giải quyết theo chỉ đạo của Quản đốc. Cùng Phân xưởng có anh Minh – Phạm Văn Minh, người
nhỏ nhưng rắn chắc và cơ bản là tính tình thân mật hay giúp đỡ tôi trong công
tác. Thời gian này, tôi bám vào anh như hình với bóng mặc dù anh chỉ làm công
tác kế hoạch trong xưởng nhưng điều độ công việc thì lại là người chủ trì. Phần
vì tôi là lính mới nên đi đâu, làm gì, giao tiếp với ai, công việc thế nào, tôi
đều theo chỉ bảo của anh. Anh hay nói, đủ thứ chuyện trên giời dưới biển, nhưng
chỉ với tầm hiểu biết của anh thôi. Phần vì vợ anh ở Hà Nội, công tác ở Phân
viện Thiết kế Cơ giới – cơ quan mà sau này tôi xin về công tác. Đi lại về nhà,
tôi chở anh. Lúc này tôi có con xe Honda Dame do anh cả mới từ miền
Được một thời gian quen dần công việc thì tham gia làm
các đồ gá, phát huy sáng kiến kỹ thuật. Tôi nhớ khi đó nhà máy đang thiếu trầm
trọng một loại vít nhỏ: vít răng tôn – dung ghép nối các lớp tôn thép phần vỏ
xe. Vít này tương tự như cái vít gỗ nhưng khó làm nhất do răng vít chạy đến sát
tán vít. Nhà máy thử làm bằng máy tiện nhưng năng suất thấp, thợ bậc cao mới
dám làm mà rất nguy hiểm: hay va dao cắt vào mâm cặp. Thỉnh thoảng vật tư nhà
máy mới mua được một ít, thế mà trong một chiếc xe cần biết bao nhiêu cái vít
nho nhỏ như thế. Ngày trước, Phân xưởng có một anh Phó Quản đốc tên Thịnh cũng đã
mầy mò làm thử. Trong góc Phân xưởng vẫn còn mấy cái giá máy và vài cặp quả cán
do anh chế thử, nhưng chưa sản xuất ra được sản phẩm. Anh Thịnh là người Nghệ
An, nhưng tính tình cực kỳ hay: phóng khoáng, tốt bụng,… sau về Nhà máy Z.167
để được “hợp lý hóa” gia đình. Được sự động viên của anh Minh và một số thợ bậc
cao: Thịnh (cũng Thịnh nhưng người Nam Định – còn gọi là Thịnh “cá vàng”), thợ
phay bào, Ngạch, thợ tiện, bác Tởn, thợ rèn… tôi bắt tay vào tìm hiểu và thiết
kế một đồ gá gắn trên máy tiện. Chỉ sau một tuần, tôi bắt đầu thử nghiệm. Phôi
vít được thợ tiện chuẩn bị sẵn, rãnh xẻ ở tán được thợ nguội cắt trước. Tôi
trực tiếp đứng vào một máy tiện cũ và cắt ren vít. Nguyên lý của dụng cụ cắt là
dao phay đĩa được mài theo profin của ren, quay tròn với tốc độ 300 vg/phút. Đồ
gá lắp trên xe dao máy tiện, gồm hai đầu: một đầu – bên phải – lắp phần nhọn
của đầu vít vào, có lò xo nén phía sau; một đầu để lắp tán của vít có miếng
thép ăn vào rãnh trên tán vít, di chuyển theo bước ren vít. Khi gia công, dùng
tay phải lắp phôi vít vào gá theo chiều: đầu nhọn vào bên phải, sau đó xoay đầu
bên trái vào cho đến khi phôi vít được kẹp chắc và xoay theo tay quay đồ gá thì
đưa bàn xe dao vào sát dao phay. Cắt ren từ phía đầu nhọn lên phía tán, bước
ren do đồ gá quyết định, dao phay cắt ren sát đến tán, càng xoay đồ gá vào,
phôi vít càng được kẹp chặt do lò xo nén. Ngày đầu làm độ vài chục sản phẩm,
cho nhập kho. Mấy hôm sau được phản hồi là sử dụng được. Trên Phòng Kỹ thuật
Nhà máy xuống kiểm tra và cho sản xuất. Tuy nhiên, do chỉ là tình thế nên thợ
đứng máy cũng chỉ làm cầm chừng mấy chục chiếc một ca. Sau tôi được tính là làm
sáng kiến cải tiến kỹ thuật được thưởng mức cao nhất nhà máy: 70 đ (khi đó
lương của tôi chỉ mới được 85% của 53 đồng). Thế là tổ chức ăn mừng hay gọi là
ăn tươi. Gọi là ăn tươi nhưng chỉ ra chợ Sơn Tây mua ít rau sống, cà chua, gói
mỡ lợn, mắm muối… Sau này tôi còn làm vài sáng kiến nữa như đồ gá khoan lỗ trên
guốc phanh chia độ, khuôn rèn, …
Một lần đi Quảng Ninh với Bố lên tàu Hải quân (năm 1976)
Ngoài giờ làm việc trong nhà máy cũng chẳng biết làm
gì cả, sau cũng tổ chức tăng gia: trồng sắn, trồng rau,… Chủ nhật thì về Hà
Nội. Một thời gian sau, anh cả rủ đi học tiếng Anh ban đêm. Lớp học ở Trường tiểu
học Trần Quốc Toản cuối phố Nhà Chung gần vườn hoa Nhà Chung. Hàng tuần học vào
tối thứ Tư và Chủ Nhật. Giáo viên là một ông giáo già ngoài 70 tuổi. Học viên
đa số là thanh niên, nam giới chiếm đa số nên phái nữ được chú ý hơn. Từ Nhà máy về Hà Nội chủ
yếu đi trên đường 32: đường xấu, vòng vèo nhất là đoạn Phùng phải vòng qua đập tràn
sông Đáy mấy cây số. Thế mà tuần nào cũng về Hà Nội để tham gia lớp học buổi
tối. May không gặp sự cố nào. Có một lần duy nhất bị bỏng bô. Hôm đó, ngày Chủ
nhật, sau khi lao động xã hội chủ nghĩa xong, tôi bắt đầu về Hà Nội. Trời trưa,
đang nắng bỗng đổ mưa, đi đến một con dốc đang đổ ngon lành bỗng phát hiện ra
đoạn phía trước vừa đổ nhựa đường bóng loáng, thế là phanh gấp nhưng không kịp.
Xe trôi vào vùng nhựa chưa khô. Tôi vội vàng, theo phản xạ tự nhiên, chống chân
xuống đường. Theo quán tính, chiếc xe bất ngờ quay 1800, cái bô chạm
vào cổ chân. Tôi lại dắt xe qua chỗ đường trơn, rồi tiếp tục đi mà chẳng để ý
gì. Đến gần Phúc Thọ, thấy bờ nước gần ven đường, tôi dừng xe xuống rửa chân.
Khi té nước vào chân thấy rát bên má cổ chân trái. Nhìn xuống thấy một vết bỏng
trắng ởn to bằng trôn bát. Sau đó, chỗ bỏng bô bị nhiễm trùng, tôi phải xuống y
tế băng bó. Mấy tuần sau mới khỏi.
Thỉnh thoảng trong vai thợ thâu băng ca
nhạc
Một kỷ niệm khó quên khác ở Sơn Tây trong thời kỳ khó
khăn nhất của cả nước, đó là từ cuối năm 1977… Mọi thứ đều thiếu thốn mà rõ rệt
nhất là bữa ăn hàng ngày ở đây. Từ chỗ lương thực có ăn độn thêm bột mỳ, ngô
khoai sắn khô đến lúc phải ăn hạt bo bo, không phải là độn mà hoàn toàn luôn.
Bo bo là một loại hạt ngũ cốc dạng lúa mì nguyên hạt chưa xay được Liên Xô viện
trợ cho ta làm lương thực, ăn rất cứng, khó nhai… nếu nấu theo kiểu truyền
thống như nấu cơm. Thực phẩm thì chủ yếu là rau, đậu… đến lúc cũng không còn
thường xuyên trong bữa ăn. Có một món ăn rất phổ biến ngày ấy là su hào muối:
củ su hào đã gọt vỏ ngoài ngâm muối và xì dầu. Khi ăn, su hào được thái miếng
như miếng giò, bày lên đĩa trông thâm sì sì cả mâm cơm. Rồi đến lúc muốn ăn su
hào muối cũng chẳng còn, thức ăn chỉ còn độc món: mắm tôm chưng với bột mì, một
bãi sền sệt đổ vào đĩa bốc hơi nghi ngút, nếu khéo đổ có khi thành cái chóp nữa
thì ra… đống cứt nát. Và đương nhiên, món này ăn với hạt bo bo.
Mấy tuần liền như vậy nên Nhà máy phát động tăng gia.
Chúng tôi cũng tích cực trồng rau các loại, nhiều nhất là rau cải vì dễ mua hạt
giống, rau lên nhanh, ít phải tưới tắm… Thu hoạch, mang rau xuống nhà bếp cân
để lấy điểm thi đua, cải thiện bữa ăn. Tận dụng những rẻo đất hoang quanh nhà
trồng sắn mà hom thì đi xin trong dân quanh vùng. Đầu năm 1978, tôi được lựa
chọn cùng một số cán bộ, công nhân ra nhà ăn riêng để bồi dưỡng. Một tuần với
mâm cơm có nhiều thức ăn làm chúng tôi như khỏe lại. Lúc đó mới thấy miếng ăn
quý giá như thế nào!



Nhận xét
Đăng nhận xét