Gia đình

         Tôi lấy vợ năm 1982, ngày 07/02 làm hôn lễ, khi đó tôi mới 28 tuổi, vợ tôi 24 tuổi. Đám cưới của chúng tôi có lẽ là sang nhất nhà: có ăn hỏi, có đón dâu bằng xe ô tô Hải Âu, có tiệc ngọt rồi có cả tiệc mặn và cái nhất nhà là có cả chụp ảnh, ảnh màu KODAK hẳn hoi, cả quay phim, đương nhiên cũng là KODAK. 


       Thủ tục đầu tiên là lễ “dạm ngõ”, tôi đưa Bố tới nhà bạn gái vào một tối mùa đông, gọi là xin phép cho đôi trẻ “đi lại” theo lệ xưa. Xe đưa Bố tới đầu đường, cách lối vào nhà bạn gái chừng 50 mét, khuất tầm nhìn từ cửa nhà. Chỉ có hai bố con đi bộ vào nhà, nói chuyện chừng 15-20 phút gì đó. Chỉ hai tuần sau là lễ “ăn hỏi”. Khi đi ăn hỏi, bên nhà tôi cũng chọn vào buổi tối, vì không muốn rình rang phô trương ồn ào. Tất cả đồ lễ cho vào một cái bao tải vải (để đựng bột mì) và xếp gọn vào cái làn nhựa thường để đi chợ. Đoàn đến nhà gái có Mẹ, bác dâu (bên Mẹ) và tôi. Đồ ăn hỏi có đủ trầu, cau, bánh kẹo và thuốc lá. Sau này vợ tôi hay kể lại chuyện lễ ăn hỏi có 5 bao thuốc lá, tức là 10 bao đóng một tút thì bẻ đôi, làm nhà gái cảm thấy hơi… hẫng hụt, kiểu như có điềm gở báo trước. Những năm tháng ấy, đến gạo ăn hàng ngày còn phải mua theo tiêu chuẩn. Hàng bánh kẹo này chỉ có bán cung cấp cho cán bộ có tiêu chuẩn đặc biệt như Bố tôi, mỗi tháng cũng chỉ có 1 hay 2 kg thôi, mà đã mua kẹo thì thôi bánh… Vì vậy, Mẹ đã phải gom góp chuẩn bị từ mấy tháng trước. Riêng thuốc lá là tiêu chuẩn riêng của Bố, không ai được đụng chạm đến. Mỗi tháng chỉ có 10 bao, loại 20 điếu. Thế mà Mẹ trích ra được những 5 bao, tức là ăn lẹm vào nửa phần tiêu chuẩn của Bố rồi đấy. Bên nhà gái cũng phải mua bổ sung thêm bánh kẹo, thuốc lá… để đủ lễ cho họ hàng.


Sau ăn hỏi chừng hai tháng thì tổ chức đám cưới. Tổ chức đám cưới làm ngay ở nhà: phòng ngủ của Mẹ biến thành hội trường chính. Ở đây kê ba dãy bàn ghế mời các ông bà lớn tuổi hai họ, khách của bố mẹ tôi và gia đình. Bên dưới dãy hàng hiên nhà ngang, kê một dãy bàn dài để bạn bè của tôi và vợ đến chia vui. Trên bàn bày bánh kẹo, hạt dưa, hạt bí, thuốc lá và uống chè. Ngày tổ chức đám cưới là một ngày mưa rét đậm, lúc đón dâu về thì tạnh ráo một chút, sau đó mưa dầm dề suốt mấy ngày. Bữa tối, có tổ chức ăn mặn. Gọi là ăn mặn nhưng thực chất là gia đình tổ chức ăn cơm bình thường trong gia đình và vài người bạn thân hữu thôi. Nhưng cũng có đến 5-6 mâm, mà thời đó thì oách lắm rồi. Bố tôi cho 5.000 đồng, còn lại Mẹ lo hết chứ cái lương Trung úy của tôi được bao nhiêu, lo chi tiêu cho bản thân còn phải tằn tiện nữa là.

Nhớ lại tuổi 20 của tôi thì lãng mạn lắm, yêu nhiều và mơ mộng cũng lắm. Với bản chất nhút nhát, gần như tôi yêu tưởng tượng, yêu đơn phương, yêu ảo… Nghĩ là yêu nhưng thực ra chỉ là thinh thích thôi chứ có cầm “cưa” đi “cẩm” cô nào đâu. Trong môi trường Quân đội suốt những năm cấp II và 2/3 thời gian cấp III thì chưa khi nào nói chuyện với bạn gái cùng lứa tuổi cả. Lúc học lớp 10 cũng vậy và có lẽ vậy nên các bạn gái cũng ngại gần tôi, nói chuyện với tôi, có thể họ cho là tôi làm cao(!). Nói thế không có nghĩa là tôi không có dính gì đến chuyện tình yêu. Những năm sơ tán khi học Đại học, khi đó đã 18 tuổi cũng có chuyện trò với một cô hàng xóm kém tôi hai tuổi. Cô gái hiền lành, cái nhìn đáng yêu lắm và thường thì lửa gần rơm lâu ngày cũng… ấm. Tôi bắt đầu để ý nhiều đến cô ta. Từ khi cô ta đi làm công nhân, tôi cũng có hẹn hò. Tuy vậy sự việc cũng không tiến triển là mấy. Cô gái thuộc hiền lành, chẳng khi nào điệu điệu một chút như những cô khác. Rồi kéo dài mãi thế, không có hẹn ước, thề bồi gì cả. Tóm lại chỉ là bạn thân… hàng xóm thôi. Khi tôi có gặp vợ tôi thì tôi đã chủ động chấm dứt mọi chuyện vì tính tôi thích dứt khoát và hơn nữa chúng tôi không còn là hàng xóm của nhau nữa.

Hồi đó các bạn tôi phần lớn đã yên bề gia thất cả, họ cũng thường gợi ý tôi tìm hiểu, thậm chí còn đưa đi giới thiệu… Một tối, bạn Nhân hẹn đưa tôi lên nhà một cô bạn và lưu ý rằng đây là đối tượng sẽ giới thiệu cho tôi. Đến một ngã tư trên phố Nguyễn Công Trứ, Nhân vào nhà gọi cô gái ra vỉa hè nói chuyện. Tôi vẫn ngồi trên xe nên không nhìn rõ mặt vì trời tối mù, đèn đường như con đom đóm đực, chỉ thấy một cô gái nhỏ nhắn, tóc phi dê. Bạn Nhân giới thiệu thì chúng tôi chào hỏi nhau. Thế thôi! Tôi thấy kiểu này hơi nhiêu khê và hiệu quả thấp nên đã thôi ngay. Sau đó thì cũng từ chối khéo và không tham gia kiểu giới thiệu này lần nào nữa. Nhiều khi bạn “cưa” xong lại “nhường” cho mình thì dở hơi.

Thế rồi mọi việc cứ như có sự xếp đặt, định đoạt. Một hôm, bạn Dũng nhờ chuẩn bị đám cưới cho vợ chồng bạn. Bạn cần tôi đem cái máy nghe nhạc đến phòng cưới, lúc đó là cái đầu quay băng cối AKAI và hai thùng loa gỗ. Tôi đèo Nhân ôm hai thùng loa nặng chừng 40 kg bằng xe đạp từ nhà tôi lên Mai Xuân Thưởng. Đến nơi tôi chỉ có việc cắm dây, thử máy rồi cùng giúp các bạn chuẩn bị hội trường. Tôi vẫn nhớ hôm đó là buổi sáng ngày 31/12/1979. Trong khi lăng xăng đi ra đi vào, tôi thấy dưới hàng ghế hội trường có một cô gái bé nhỏ, mặc cái vỏ áo bông màu xanh, khuôn mặt có đôi mắt và cái mũi xinh xắn, đang ngồi yên lặng nhìn lên sân khấu. Tôi cũng có chút ấn tượng ngay: một khuôn mặt hiền hậu và giản dị. Nó ấn tượng bởi làm cho tôi liên tưởng đến bức tranh người phụ nữ Nga của Kramskoi mà tôi được ngắm nhiều lần ở chỗ bàn Bố tôi làm việc khi tôi mới vài tuổi ranh: lạnh lùng mà kiêu hãnh. Không hiểu tại sao và khi nào mà dạo ấy tôi rất không có cảm tình với những cô gái có hình thức kiểu cách. Trước đó, khi bắt đầu đi làm ở đơn vị tôi có mở một lớp học Trung cấp, nơi mà rất nhiều đồng đội với tôi đã xây dựng gia đình với các cô Trung cấp này. Khi đó, tôi cũng ngó nghiêng vài em nhưng chưa ai làm cho tôi có ý định theo đuổi, chỉ đứng xa xa và tán lếu tán láo với bạn bè…

Đám cưới bạn xong, trong một buổi gặp “lại mặt” các bạn bè đã giúp đám cưới, cô gái đó cũng đến dự. Trước đó, khi bạn hỏi, tôi cũng đã thổ lộ cảm tưởng về cô gái thoáng gặp này. Thì ra đó là bạn của Hà, vợ Dũng, nên khi tan cuộc, vợ chồng bạn đã nhờ tôi đưa cô gái về nhà. Tôi và cô gái cùng đạp xe ra phố vừa đi vừa nói chuyện bình thường. Khi về đến nhà, cô ta không quên mời đến nhà chơi khi rỗi, kiểu xã giao. Đã biết em là giáo viên đang dạy học ở một trường cấp hai ở Xuân Nộn, Đông Anh kề với xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn (lúc đó của tỉnh Vĩnh Phú). Vài tuần sau, tất nhiên vẫn bắn tin qua “môi giới”, tôi bắt đầu “tấn công”. Lần đầu tiên đến nhà bạn gái, tôi vẫn phải nhờ ông bạn Cường đi “tháp tùng”. Buổi tối hôm đó, tôi đã chuẩn bị một kịch bản chi tiết cho cuộc gặp: đầu tiên nói gì, câu sau nói gì, nói chuyện với gia đình như với mẹ cô ta, anh cô ta, em cô ta,… Nói chung là rất cụ thể từng chữ một cho đến câu cuối cùng. Cuộc viếng thăm không quá 30 phút và chủ động ra về mặc dù câu chuyện đang bắt đầu có tình tiết.

Thế rồi cứ theo một kế hoạch đã được vạch ra tương đối chi tiết, các cuộc gặp gỡ cứ thân mật dần, mau dầu. Lúc đầu thì hai tuần một lần, rồi tuần một lần và sau nữa là tuần hai lần trùng vào các ngày nghỉ của cô giáo. Lúc đầu khi ra khỏi nhà mỗi người một xe đạp, sau thì đèo nhau. Tôi cũng nhanh chóng đưa em đến nhà thông báo với Bố Mẹ. Trong một lần khi đưa em trở lại Hàng Vôi, lúc qua quảng trường trước cửa Ngân hàng Nhà nước ở phố Lý Thái Tổ, tôi đã nói lời cầu hôn theo kiểu thực dụng: Anh tìm hiểu là để tiến tới hôn nhân. Tất nhiên khi nói điều này cũng là thời điểm mà chúng tôi đã cảm thấy không thể dừng lại tình cảm đối với nhau. Em không nói gì và chứng tỏ điều đó là rất đúng lúc.

Mới qua lại được hơn hai tháng, tôi được cơ quan cử đi Liên Xô. Thế là chuẩn bị để xuất ngoại, tuy không phải làm gì nhiều nhưng em vẫn cứ lo lắng cho tôi. Lúc này đi nước ngoài, chúng tôi được cơ quan cho mượn đồ, từ va ly đến quần áo các kiểu. Lần tôi sắp xếp đồ vào va ly, em có đến và đã chuẩn bị từ trước, đưa cho tôi cái nhẫn. Tôi vẫn còn nhớ vì lúc đó tôi cảm động lắm. Cái nhẫn vàng có viên đá màu đỏ to bằng hạt đậu xanh. Em nói anh cầm lấy và mang đi phòng thân. Tôi thật thà không nhận và nói chẳng phải lo phòng thân, Nhà nước cung cấp cả rồi và rồi dứt khoát không cầm… Những ngày ở Liên Xô, tôi thư từ liên tục hàng tuần và cũng có nhận được những lá thư em gửi tuy không ở cố định một chỗ nào lâu. Trích ra đây vài lời trong những lá thư như vậy: “Giây phút yên tĩnh này anh muốn dành cho em những dòng chữ yêu thương nhất. Thật khó nói nhưng chắc em cũng hiểu ra. Anh đã yêu em từ cái buổi gặp gỡ đầu tiên”.

 Những ngày đầu của cái gia đình riêng nhỏ gọn thật vất vả. Trừ những ngày nghỉ trong tuần của người đi làm việc Nhà nước trong biên chế, khởi đầu từ 4 đến 5 giờ sáng. Tôi dắt cái xe đạp tòng tọc ra cổng đèo vợ lên bến Nứa đón xe sang Đông Anh dạy học. Quay về chuẩn bị ăn sáng rồi đi làm là vừa. May được cái khoản cơm nước có Mẹ đã chuẩn bị sẵn. Buổi chiều, vợ tự đi xe buýt về đến nhà lại lao vào chuẩn bị cơm nước với Mẹ. Khi đó, cả nhà tôi gồm vợ chồng anh Thắng, vợ chồng Điền vẫn ăn chung với Mẹ. Sau khi cả nhà ăn xong, vợ lại lúi húi tham gia dọn rửa cho mãi đến tối mịt. Bà mẹ chồng luôn chân luôn tay thành ra con dâu mới không dám đứng nhìn. Nhưng cũng có cái may: vợ tôi tuy là giáo viên đứng lớp, nhưng cũng ít khi phải chuẩn bị giáo án mới nên xong xuôi mọi việc nhà thì tầm hơn 7 giờ tối là có thể lên nhà ngó cái ti vi với mấy chương trình thời sự hoặc phim truyện. Chương trình ti vi cũng ngắn, tắt ti vi thì lên nhà đi ngủ.

Cuộc sống cứ như vậy cho đến khi chúng tôi quyết định có con. Thời ấy, người đi làm việc Nhà nước có tiêu chuẩn nghỉ đẻ 3 tháng. Làm giáo viên có thời gian nghỉ hè cũng khoảng 3 tháng. Nếu kết hợp khéo thì thời gian nghỉ đẻ sẽ là 6 tháng, có nghĩa là khi con cứng cáp mới phải gửi đâu đó để đi làm. Vậy là phải tính toán sao cho việc sinh con vào tháng Ba để khi hết thời gian nghỉ đẻ thì nghỉ hè luôn. Đối với chúng tôi, việc ấy… dễ. Thằng con trai đầu lòng sinh vào ngày 27 tháng 3 năm 1983, tức là sau ngày cưới 13 tháng và 20 ngày.



Tầm 10 giờ tối, vợ bảo đau bụng. Nghi sắp đẻ nên tôi đèo vợ ngay đến Bệnh viện C ở Tràng Thi, cách nhà có 800 mét. Đến Bệnh viện vợ vào, tôi lại đi về nhà. Sáng hôm sau, khoảng hơn 6 giờ vào viện nhưng vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Ngồi ở ghế băng ngoài phòng đẻ, dỗ vợ cái bánh giò nóng, vợ bảo vẫn đau nhưng bác sĩ bảo vẫn phải chờ. Vợ mệt mỏi, ngả người dựa vào tôi được một lát thì chợt nghĩ ra phải báo cáo ngay cho bà mẹ vợ biết nên vùng đứng dậy chạy đi. Đèo Mẹ vợ đến bệnh viện vừa lúc bác sĩ bảo đã đưa vợ lên bàn đẻ.

Chuyện cuộc sống gia đình cứ thế diễn ra như bao gia đình bình thường khác. Giời sinh voi thì giời sinh cỏ. Vất vả buổi ban đầu ấy dần dần quen thuộc. Đến khi cuộc sống cải thiện dần lại chả muốn quay lại cái thuở đầu tắt mặt tối chăm nuôi con mọm. Khi đó, bà mẹ vợ bắt đầu nghỉ buôn bán trên chợ, khuyên nhủ vợ: đẻ đi, mẹ trông cho. Vậy là tòi ra anh chàng thứ hai vào năm 1994. Mẹ vợ, theo đúng “cam kết” đã trông cháu cho vợ chồng lo cày cuốc hơn 3 năm ròng.

May mắn cho gia đình nhỏ bé này, con cái cứ thế lớn lên cho đến tận ngày nay, không hiếm những bữa cơm có đủ cả 4 thành viên. Chuyện cũng đơn giản như mọi gia đình bình thường khác, chả có gì đáng phải ghi chép lại…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Nhớ rừng Yên Thế

Viện sĩ