Bước qua cổng parabol
Tháng 5 năm 1970, Trường Nguyễn Văn Trỗi giải tán. Khi
ấy tôi vừa học xong lớp 9 phổ thông hệ 10 năm. Mỗi người một ngả, ai về nhà nấy
để tiếp tục tìm đường học tập. Những năm ấy chuyện chọn trường không phải do
mình hoàn toàn quyết định. Ngoài nguyện vọng cá nhân còn có nhiều yếu tố khác
như hộ khẩu, nơi cư trú, sự sắp xếp của ngành giáo dục. Tôi cũng như nhiều bạn
bè khác, cầm hồ sơ đi xin học ở các trường phổ thông cấp III tại Hà Nội.
Nghe theo lời rủ rê của đám bạn, tôi nộp đơn vào
trường cấp III Chu Văn An. Hồi đó, Chu Văn An là một ngôi trường có tiếng, học
sinh nào cũng mong được vào học. Thế nhưng cuối cùng tôi lại được phân về học ở
trường cấp III Nguyễn Trãi, nằm trên phố Giang Văn Minh ngày nay, đối diện Bộ
Tư lệnh Thông tin liên lạc. Có lẽ vì tôi thuộc khu vực Hoàn Kiếm nên ngành giáo
dục sắp xếp như vậy.
Thời gian học ở Nguyễn Trãi không dài, chỉ khoảng một
năm học. Hơn nữa tính tôi vốn nhút nhát, ít nói, gặp người lạ thường ngại giao
tiếp nên không tạo được nhiều mối quan hệ thân thiết. Vì thế kỷ niệm về trường
lớp cũng không nhiều như những năm ở Trường Nguyễn Văn Trỗi. Tuy nhiên, vẫn có
một số hình ảnh còn đọng lại khá rõ trong trí nhớ.
Người tôi nhớ nhất là thầy giáo dạy Văn tên Văn Tâm.
Mỗi lần bước lên bục giảng, thầy luôn ăn mặc rất chỉnh tề. Quần áo không hẳn là
mới nhưng sạch sẽ, phẳng phiu, cổ áo cài ngay ngắn. Tóc tai chải chuốt, giày
dép gọn gàng. Trong hoàn cảnh những năm chiến tranh, cuộc sống còn nhiều thiếu
thốn, sự chỉn chu ấy tạo cho học sinh chúng tôi một ấn tượng đặc biệt. Sau này
nghe người lớn nói thầy có liên quan đến vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Hồi đó tôi
còn nhỏ nên chẳng hiểu chuyện ấy là gì, chỉ biết đó là một điều gì đó khiến người
ta nói về thầy với vẻ dè dặt.
Điều đáng tiếc là mặc dù rất quý phong thái của thầy,
tôi lại học Văn cực kém. Môn Văn đối với tôi giống như một ngọn núi cao khó
vượt. Những bài phân tích, cảm nhận, bình giảng luôn làm tôi lúng túng. Cuối
năm, điểm trung bình môn Văn hình như chỉ đạt khoảng 3,5 điểm. Nếu bây giờ gặp
lại thầy Văn Tâm, chắc tôi vẫn phải thành thật nhận lỗi rằng ngày ấy học trò
của thầy quá dốt Văn.
Một giáo viên khác để lại ấn tượng sâu sắc là cô dạy
Sinh vật. Thành thật mà nói, cô không phải người có ngoại hình nổi bật. Khuôn
mặt tròn, đôi môi dày, miệng rộng. Khi giảng bài, cách phát âm và cử động của
cô khiến tôi liên tưởng tới hình ảnh đang nhai cơm. Học trò tuổi mới lớn thường
hay tinh nghịch trong suy nghĩ. Có lần cô giảng rằng nhờ biết ăn chín uống sôi,
biết sử dụng nhiều thực phẩm giàu dinh dưỡng nên con người ngày càng đẹp hơn
qua các thời kỳ tiến hóa. Nghe cô nói vậy, trong đầu tôi chợt nảy ra một ý nghĩ
rất trẻ con: "Nếu đúng như thế thì sao cô vẫn chưa đẹp hơn?". Dĩ nhiên
tôi chỉ nghĩ thầm chứ không dám nói ra. Học trò thời ấy ngoan hơn bây giờ
nhiều, có nghĩ gì cũng chỉ giữ trong bụng.
Cô giáo chủ nhiệm tên là cô Mận, dạy môn Lịch sử. Trái
với vẻ nghiêm nghị của nhiều giáo viên khác, cô luôn đối xử khá gần gũi với học
sinh. Có lẽ cô dành cho nhóm học sinh từ Trường Nguyễn Văn Trỗi chuyển sang một
sự quan tâm đặc biệt vì con trai cô cũng từng học ở đó. Chúng tôi cảm nhận được
điều ấy qua cách cô trò chuyện, hỏi han và giúp đỡ.
Một kỷ niệm khá thú vị diễn ra trong đợt lao động tại
Mễ Trì. Những năm ấy, học sinh thường được tổ chức đi lao động giúp dân. Chúng
tôi về ở trong nhà dân, ban ngày tham gia các công việc sản xuất, sinh hoạt như
những người nông dân thực thụ. Không khí nông thôn đối với nhiều học sinh thành
phố rất mới lạ. Trong chuyến đi ấy, cô Mận giao cho chúng tôi một nhiệm vụ gì
đó khá bí mật. Tôi nhớ mang máng là có chuyện theo dõi, quan sát và báo cáo
tình hình nào đó. Vì quá lâu rồi nên nội dung cụ thể tôi không còn nhớ, chỉ nhớ
rằng bọn học sinh chúng tôi cảm thấy vô cùng hồi hộp, cứ thì thào bàn tán như
đang tham gia một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.
Học cùng lớp với tôi khi ấy có Đỗ Việt Dũng và Nguyễn
Lương Ngọc. Hai người đều ở khu phố Lý Nam Đế. Tôi khá thân với các bạn và
thường qua lại chơi bời. Điều thú vị là cả hai đều có biệt danh liên quan đến
mái tóc. Dũng được gọi là Dũng "trọc", còn Ngọc là Ngọc
"mốc". Những biệt danh học trò thời ấy thường rất đơn giản, xuất phát
từ một đặc điểm dễ nhận biết nào đó rồi theo người ta suốt cả thời đi học.
Hết lớp 10, như một lẽ tự nhiên
của thanh niên thời ấy, chúng tôi bước vào kỳ thi đại học. Không có nhiều lựa
chọn như bây giờ. Ai học khá thì thi đại học, học trung bình thì tìm đường đi
làm hoặc học nghề. Tôi đăng ký thi vào khối kỹ thuật. Từ nhỏ tôi vốn thích các
môn tự nhiên hơn các môn xã hội nên quyết định ấy cũng không có gì bất ngờ.
Là năm đầu tiên việc tuyển chọn sinh viên cho các
trường đại học có thi cử nên kỳ thi đại học năm ấy được tổ chức rất nghiêm túc.
Những ngày ôn tập và chờ đợi kết quả mang lại cảm giác vừa hồi hộp vừa háo hức.
Trong số các trường kỹ thuật, Đại học Bách khoa Hà Nội là cái tên mà hầu như
học sinh nào cũng biết đến. Đó là ngôi trường danh giá nhất trong lĩnh vực kỹ
thuật lúc bấy giờ. Tôi đăng ký vào Khoa Chế tạo máy, một ngành học được xem là
xương sống của nền công nghiệp cơ khí.
Khi nhận số báo danh đi thi, tôi còn nhớ rất rõ những
thí sinh dự thi vào Bách khoa đều có ký hiệu bắt đầu bằng chữ C. Chỉ một ký
hiệu nhỏ như vậy thôi nhưng đối với chúng tôi lúc ấy lại mang ý nghĩa đặc biệt.
Nó đánh dấu bước chuyển từ đời học sinh phổ thông sang cánh cửa đại học đang ở
phía trước. Không ai biết mình có đỗ hay không, nhưng tất cả đều nuôi hy vọng
rằng một ngày nào đó sẽ được bước qua cánh cổng nổi tiếng của trường Đại học
Bách khoa Hà Nội, bắt đầu một chặng đường hoàn toàn mới của cuộc đời.
Nếu mọi việc diễn ra bình thường thì câu chuyện thi đại học của tôi có lẽ
cũng chẳng có gì đáng nhớ. Thi xong, chờ kết quả, nhận giấy báo rồi nhập học –
hàng vạn học sinh thời ấy đều đi theo một quy trình như vậy. Thế nhưng riêng
tôi lại gặp một sự cố khá kỳ lạ, đến bây giờ nhớ lại vẫn thấy vừa buồn cười vừa
khó tin.
Sau kỳ thi đại học năm 1971, tôi trở về nhà với tâm trạng khá yên tâm.
Làm bài không đến nỗi tệ nên tôi hy vọng mình có cơ hội trúng tuyển vào Đại học
Bách khoa Hà Nội. Những ngày đầu chờ kết quả còn tương đối thoải mái, nhưng
càng về sau tôi càng sốt ruột. Hết người này đến người khác trong đám bạn bè
nhận được giấy báo nhập học. Người đỗ trường này, người đỗ trường kia, ai cũng
đã có nơi có chốn. Chỉ riêng tôi vẫn bặt vô âm tín.
Ngày nào tôi cũng ngóng người đưa thư. Mỗi khi loáng
thoáng thấy người bưu tá đến là chạy ra xem có thư từ gì không. Thế nhưng hết
ngày này sang ngày khác vẫn chẳng thấy giấy báo nhập học đâu cả. Trong lòng bắt
đầu xuất hiện những suy nghĩ không hay. Hay là mình thi hỏng? Hay là có sai sót
gì trong hồ sơ? Càng nghĩ càng thấy bất an.
Không chỉ tôi mà mẹ tôi cũng đứng ngồi không yên. Thấy con trai thấp thỏm
mãi, bà quyết định nhờ ông Chu Phác tìm hiểu giúp. Đối với gia đình tôi, ông
Chu Phác là người rất thân thiết. Những năm cha tôi công tác xa trong chiến
trường miền Nam, ông thường xuyên thay mặt gia đình và cơ quan qua lại thăm
nom, giúp đỡ mẹ con tôi. Trước đó ông từng là thư ký riêng của ông Vương Thừa
Vũ, sau này lại làm việc cùng cha tôi từ thời ở Nam Định. Vì vậy ông hiểu hoàn
cảnh gia đình tôi hơn nhiều người khác.
Trong những năm cha tôi đi B, ông Chu Phác gần như là chiếc cầu nối giữa
gia đình với người cha đang ở chiến trường. Những lá thư, những món quà nhỏ,
những khoản tiền hỗ trợ của cơ quan gửi về đều được ông tận tình chuyển giúp.
Bởi thế khi mẹ tôi nhờ cậy, ông nhận lời ngay.
Sau khi tìm hiểu tại Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, ông Chu Phác
mang về một thông tin khiến cả nhà vừa ngạc nhiên vừa sửng sốt. Hóa ra tôi
không hề thi trượt. Ngược lại, tôi đã đủ điểm đỗ vào Đại học Bách khoa Hà Nội
với tổng số 17,5 điểm, trong khi điểm chuẩn chỉ là 15 điểm. Tuy nhiên, hồ sơ
của tôi bị giữ lại vì có một lá đơn tố cáo.
Nội dung lá đơn thật khó tin. Người tố cáo cho rằng trong những năm sống
ở Nam Định, tôi đã từng tham gia băng cướp mang tên “Rồng Xanh”. Nghe xong tôi
vừa sửng sốt vừa buồn cười. Đúng là ở Nam Định thời cuối những năm 1950, đầu
những năm 1960 từng tồn tại một băng nhóm tội phạm có tổ chức mang tên “Rồng
Xanh”, gây ra nhiều vụ cướp của giết người nghiêm trọng. Nhưng vấn đề là vào
thời gian ấy tôi mới chỉ khoảng tám, chín tuổi. Một đứa trẻ còn đang tuổi đi
học tiểu học thì tham gia cướp bóc kiểu gì được?
Ông Chu Phác tất nhiên không chấp nhận một sự việc vô lý như vậy. Ông lập
tức chất vấn cơ quan có trách nhiệm về tính xác thực của đơn tố cáo. Chỉ cần
xem xét qua độ tuổi của tôi lúc xảy ra các vụ việc cũng đủ thấy nội dung ấy
hoàn toàn phi lý. Sau khi được xác minh, mọi khúc mắc nhanh chóng được giải
quyết và tôi được gọi đến trường làm thủ tục nhập học.
Ngày tôi đến Đại học Bách khoa Hà Nội là ngày 30 tháng 9 năm 1971, cũng
là hạn cuối cùng dành cho sinh viên nhập trường. Chỉ chậm thêm một ngày nữa
thôi có lẽ mọi việc sẽ trở nên rất rắc rối.
Khi làm thủ tục, ông Khôi, cán bộ giáo vụ của khoa, ghi tên tôi vào danh
sách sinh viên nhập học rồi bảo tôi xác nhận rằng mình đã có mặt tại trường từ
ngày 15 tháng 9. Thấy tôi ngạc nhiên, ông giải thích rằng làm như vậy sẽ được
tính trợ cấp cho toàn bộ tháng 9. Đối với một sinh viên vừa bước chân vào giảng
đường, khoản trợ cấp ấy là điều rất đáng quý. Nghe giải thích xong, tôi lập tức
đồng ý ký xác nhận mà chẳng hề thắc mắc thêm điều gì. Lúc ấy trong đầu tôi chỉ
có một niềm vui duy nhất: cuối cùng thì mình cũng đã chính thức trở thành sinh
viên Đại học Bách khoa Hà Nội.
Bước qua cổng trường có hình đường cong parabol, tôi cũng bỡ ngỡ lắm, chả khác
gì mấy anh “nhà quê ra tỉnh”. Nói như vậy nghe có vẻ khiêm tốn, nhưng thực chất
tôi đúng là anh nhà quê một trăm phần trăm. Điều đặc biệt là tôi không chỉ có
một quê mà có đến vài quê. Tuổi thơ tôi gắn với nhiều vùng đất khác nhau. Sinh
ra ở Phú Thọ, lớn lên ở Nam Định, rồi theo gia đình lên Hà Đông. Những năm chiến tranh lại đi sơ
tán hết nơi này đến nơi khác. Khi thì ở Hiệp Hòa, Bắc Giang, khi lại lên Đại
Từ, Thái Nguyên. Sau đó chuyển về vùng Hưng Hóa, Trung Hà của Phú Thọ.
Mãi đến năm 1970 tôi mới trở lại Hà Nội. Chưa kịp quen với nhịp sống thành phố
thì đã thi đỗ đại học.
Bởi vậy, dù mang tiếng là người Hà Nội, trong lòng tôi
vẫn thấy mình thuộc về những cánh đồng, những bờ tre và những con đường đất
nhiều hơn. Khi đặt chân vào khuôn viên Đại học Bách khoa Hà Nội, cảm giác đầu
tiên của tôi là choáng ngợp. Trường rộng hơn bất cứ nơi nào tôi từng học trước
đó. Những giảng đường cao lớn đứng sừng sững, những dãy nhà dài nối tiếp nhau,
nhìn đâu cũng thấy vẻ bề thế của một trường đại học đầu ngành.
Hồi ấy khuôn viên trường còn rất khác bây giờ. Nhiều
khoảng đất vẫn để trống, cỏ mọc um tùm. Con đường đôi chạy từ cổng Parabol vào
phía trong chưa đông đúc như hiện nay. Hai bên đường là những bụi cây dại,
trong đó nhiều nhất là cây xấu hổ gai góc. Chỉ cần vô ý bước lệch khỏi lối đi
là có thể bị gai cào rách ống quần. Những ngày đầu, tôi vừa đi vừa ngó nghiêng,
hết nhìn các tòa nhà lại nhìn những sinh viên khóa trên với ánh mắt đầy tò mò.
Ấn tượng mạnh nhất đối với tôi là lần đầu được tập
trung tại hội trường C2. Trước đó tôi chưa bao giờ bước vào một hội trường rộng
đến thế. Hàng trăm, có lẽ hàng nghìn sinh viên ngồi kín các dãy ghế. Không khí
đông người khiến tôi cảm thấy ngột ngạt. Tôi có cảm giác như lượng ô xy trong
phòng bị rút bớt đi mất. Buổi họp kéo dài khá lâu, đến khi tan tôi vẫn còn lâng
lâng như người vừa đi tàu xe đường dài. Phải mất hàng giờ đồng hồ sau mới hoàn
toàn lấy lại được cảm giác bình thường.
Dù vậy, niềm vui được trở thành sinh viên Đại học Bách
khoa vẫn lớn hơn tất cả. Thời ấy, đỗ đại học đã là một thành công đáng tự hào,
còn đỗ Bách khoa lại càng đáng tự hào hơn. Tôi nhớ mỗi lần có người hỏi đang
học ở đâu, tôi đều trả lời rất nhanh và rất rõ ràng: “Đại học Bách khoa Hà
Nội”. Câu trả lời ấy luôn mang lại cho tôi một cảm giác sung sướng khó tả.
Thế nhưng niềm tự hào ấy không đồng nghĩa với việc tôi
trở thành một sinh viên xuất sắc. Ngược lại, học lực của tôi chỉ thuộc loại
trung bình. Tôi không phải người học quá kém nhưng cũng không phải người nổi
bật. Kết quả học tập khá thất thường. Có môn học được, có môn học mãi không
vào.
Năm học đầu tiên là quãng thời gian vất vả nhất. Từ
môi trường phổ thông chuyển sang đại học là một thay đổi rất lớn. Không còn
thầy cô kiểm tra bài hàng ngày, không còn ai nhắc nhở học hành từng chút một.
Mọi việc đều phụ thuộc vào ý thức của sinh viên. Tôi chưa quen với cách học mới
nên gặp khá nhiều lúng túng. Kết quả là phải thi lại vài môn. May mắn đó đều là
những môn phụ nên cũng không ảnh hưởng quá nghiêm trọng. Những năm sau tình
hình có khá hơn. Có lẽ do đã quen dần với phương pháp học tập ở đại học. Tôi
biết cách ghi chép, đọc tài liệu và chuẩn bị cho các kỳ thi tốt hơn trước. Tuy
nhiên kết quả chung vẫn chỉ ở mức trung bình. Nếu xếp hạng trong lớp, chắc tôi
luôn nằm ở khu vực giữa bảng.
Điều thú vị là có những môn tôi học rất tốt. Chẳng hạn
môn Vẽ kỹ thuật. Tôi khá thích những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và khả năng
hình dung không gian. Có lần đề thi yêu cầu vẽ hình chiếu thứ ba của một chi
tiết máy. Làm xong bài, tôi còn hứng chí vẽ thêm cả hình chiếu trục đo mặc dù
đề không yêu cầu. Có lẽ đó là một trong số ít lần tôi cảm thấy thực sự tự tin
với bài làm của mình.
Ngược lại, có những môn khiến tôi vô cùng sợ hãi. Điển
hình là môn Hình học họa hình. Những mặt phẳng, giao tuyến, hình chiếu phức tạp
làm tôi hoa cả mắt. Mỗi lần mở giáo trình ra là đã thấy nản. Tôi luôn nghĩ đây
sẽ là môn khiến mình thi trượt. Thế nhưng thật kỳ lạ, cả hai lần thi tôi đều
đạt điểm khá. Đến giờ tôi vẫn không hiểu vì sao mình lại vượt qua được môn học
ấy một cách thuận lợi như vậy.
Năm năm đại học trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Đến khi
tổng kết toàn khóa, điểm trung bình của tôi đạt 3,5. Một kết quả chẳng có gì
đặc biệt nhưng cũng đủ để tốt nghiệp đúng hạn. Khi làm đồ án tốt nghiệp, tôi
cùng thực hiện với một số người bạn như Đạt “dê”, Trần Vĩnh Hý và vài người
khác. Những ngày làm đồ án khá căng thẳng nhưng cũng rất vui vì đó là quãng
thời gian cuối cùng của đời sinh viên.
Kết quả đồ án của tôi đạt 4,75 điểm. Theo quy định làm
tròn khi ấy, con số đó được nâng lên thành 5 điểm. Nhờ vậy việc tốt nghiệp diễn
ra thuận lợi. Và rồi tôi nhận tấm bằng ra trường. Nói là bằng đỏ nghe có vẻ oai
lắm, nhưng thực ra thời đó phần lớn sinh viên tốt nghiệp Bách khoa đều được cấp
loại bằng ấy. Dẫu sao, đối với một anh “nhà quê” bước qua cổng parabol với bao bỡ ngỡ ngày nào, việc
hoàn thành năm năm học và cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp vẫn là một niềm vui
lớn, đánh dấu sự khép lại của một chặng đường thanh xuân đầy kỷ niệm.



Nhận xét
Đăng nhận xét