Cao bồi thôn
Lũ trẻ con trong khu tập thể ngày
ấy chỉ độ hơn chục đứa, nhưng phần đông đều ở bên dãy nhà số 3. Dãy nhà số 1 nơi
gia đình tôi ở lại khá vắng vẻ, chỉ có mỗi mình tôi là trẻ con nên quanh năm
suốt tháng chẳng có ai đồng trang lứa để bầu bạn. Thành ra, cứ ăn cơm xong hay
học bài xong là tôi lại lững thững chạy sang nhà số 3. Nơi ấy lúc nào cũng có
tiếng người, tiếng trẻ con í ới gọi nhau, tạo nên một thứ không khí rộn ràng rất hấp dẫn.
Nhà số 3 đông trẻ con thật, nhưng lạ một điều là chúng
ít khi tụ tập để bày ra những trò chơi tập thể. Mấy thằng con trai lớn hơn như
anh em nhà Quý, hay Bảo con ông Triệu thì đã bước vào cái tuổi choai choai.
Chúng bắt đầu biết để ý đến mấy cô gái ở phố huyện, suốt ngày đạp xe đi qua đi
lại, chải tóc bóng mượt, ăn mặc ra dáng người lớn. Với bọn chúng, lũ nhãi con
như tôi chẳng đáng để chơi cùng. Vì thế, thế giới của tôi chủ yếu xoay quanh
đám con gái. Có cái Liên, con ông Long. Có hai chị em Thảo và Hiền, con ông Thái. Rồi còn thằng Hải, em út
trong nhà ấy - nhỏ người nhưng rất nhanh nhẹn. Đó là những người bạn thân thiết
nhất của tôi trong những năm tháng xa xưa.
Trò chơi của chúng tôi chẳng có gì mới lạ. Thời đó làm
gì có điện thoại, máy tính hay đồ chơi mua sẵn như bây giờ. Nguồn giải trí lớn
nhất của lũ trẻ là những buổi xem tuồng, xem chèo hoặc những vở diễn ở Nhà hát.
Xem xong, về nhà là bắt chước ngay.
Thế là chúng tôi tự dựng sân khấu, tự phân vai và diễn
lại những gì đã nhìn thấy. Chỗ diễn quen thuộc nằm phía sau dãy nhà ngang dùng
làm bếp tập thể. Nơi đó có một khoảng sân xi măng khá rộng, ít người qua lại.
Giữa sân nổi lên một cái bể phốt lớn của cả khu tập thể. Nghe thì có vẻ chẳng
thơ mộng gì, nhưng thực ra bể phốt ấy được đậy kín, sạch sẽ, quanh năm khô ráo.
Người lớn hầu như không để ý tới khu vực đó, nên nó nghiễm nhiên trở thành lãnh
địa riêng của lũ trẻ.
Với trí tưởng tượng phong phú của tuổi thơ, chúng tôi
biến nơi ấy thành đủ thứ. Hôm thì là hoàng cung nguy nga tráng lệ, hôm là chiến
trường khói lửa, hôm lại thành sơn trại của những vị anh hùng hảo hán. Mỗi viên
gạch, mỗi gốc cây đều mang một ý nghĩa riêng trong thế giới tưởng tượng ấy.
Ở góc sân có một cây đa già rất lớn. Thân cây phủ đầy
những vệt rêu trắng mốc, vươn thẳng lên cao rồi vượt hẳn qua bức tường bao
quanh khu tập thể. Tán lá xòe rộng, xanh um, che kín cả một khoảng trời. Những
ngày hè oi bức, đứng dưới gốc đa luôn cảm thấy mát mẻ diệu kỳ.
Quanh gốc đa và xung quanh bể
phốt mọc đầy những bụi khoai ráy. Lá khoai to như cái quạt, xanh thẫm, lúc nào
cũng rung rinh trước gió. Trong mắt lũ trẻ chúng tôi, đó chính là những hàng
khán giả trung thành. Mỗi khi diễn tuồng, nhìn những chiếc lá lay động, tôi
thường tưởng tượng như có hàng trăm người đang chăm chú theo dõi và cổ vũ.
Trước khi bắt đầu một vở diễn, việc quan trọng nhất là
phân vai. Đây thường là công đoạn kéo dài nhất vì ai cũng muốn được đóng vai tốt
đẹp.
Tôi là đứa hay nghĩ trò và cũng
là người đứng ra tổ chức, nên nghiễm nhiên được giữ vai chính. Vai tôi thích
nhất là Vua. Chẳng biết vì sao, có lẽ do xem tuồng thấy vua lúc nào cũng ngồi
giữa, được mọi người quỳ lạy, nói câu nào cũng oai phong nên tôi rất mê.
Chiếc ngai vàng của tôi thực chất là một đoạn ống cống
nhô lên từ bể phốt. Tôi ngồi chễm chệ trên đó, lưng ưỡn thẳng, mắt nhìn xa xăm.
Râu vua được làm bằng một nắm cỏ khô hoặc sợi bao tải tước nhỏ. Tay vuốt râu,
miệng nói những câu học lỏm từ sân khấu:
– Trẫm truyền!
– Kẻ nào dám trái ý!
– Mau đem công chúa tới đây!
Mỗi lần như vậy, đám trẻ con xung quanh lại phá lên
cười nhưng vẫn rất nghiêm túc nhập vai.
Con Thảo thì gần như lúc nào cũng
giành vai Hoàng hậu. Nó không đẹp theo kiểu dịu dàng của con gái phố huyện mà
mang vẻ hoang dã rất riêng. Tuổi ngang tôi nhưng người cao lêu nghêu, chân tay
dài ngoằng. Mái tóc nó mỏng, có màu vàng hoe vì nắng gió. Khuôn mặt lúc nào
cũng lấm tấm những vệt bụi đất sau những buổi chạy nhảy ngoài sân.
Những đứa con gái còn lại thường tranh nhau làm công
chúa. Đứa nào cũng thích được mặc váy, được vua yêu quý hoặc được hoàng hậu che
chở. Bọn nhỏ hơn thì bị xếp vào vai quân hầu, lính gác hoặc sứ giả. Chúng cũng
chẳng phản đối, miễn được tham gia là vui rồi. Ban đầu mọi chuyện thường diễn
ra rất trật tự. Tôi đọc lời thoại. Hoàng hậu đứng cạnh. Công chúa quỳ phía
dưới. Lính tráng xếp hàng hai bên.
Nhưng chỉ được vài phút là mọi thứ bắt đầu lệch khỏi
kịch bản.
Nguyên nhân hầu như luôn đến từ con Thảo.
Nó rất nhiệt tình tham gia trò
chơi, nhưng tham gia theo cách riêng của nó. Trong khi tôi cố gắng diễn giống
trên sân khấu thì nó lại thích ứng biến. Tôi bảo hoàng hậu khóc thì nó cười.
Tôi bảo hoàng hậu quỳ thì nó chống nạnh. Có lúc đang diễn đoạn cảm động, nó bất
ngờ giật râu vua rồi bỏ chạy. Thế là cả đoàn diễn viên tan hàng để đuổi theo.
Nhiều lần tôi bực mình quát:
– Hoàng hậu phải nghe lời vua!
Nó lập tức vênh mặt:
– Không đấy, làm gì được nào!
Rồi hai đứa cãi nhau om sòm.
Cuộc tranh cãi thường bắt đầu từ chuyện rất nhỏ nhưng
kết thúc bằng những màn rượt đuổi khắp sân. Tôi vốn quen làm thủ lĩnh nên không
chịu nhường. Còn Thảo cũng chẳng phải dạng vừa. Nó khỏe hơn phần lớn con gái
cùng tuổi và đặc biệt lì lợm.
Có lần đang cãi nhau, nó đưa tay cốc cho tôi một cái
rõ đau vào đầu. Tôi ôm trán nhăn nhó còn nó thì đứng chống nạnh cười đắc thắng.
Đám khán giả bất đắc dĩ là những chiếc lá khoai ráy dường như cũng rung lên
theo tiếng cười của lũ trẻ.
Ấy thế mà hôm sau chúng tôi lại tiếp tục chơi với nhau
như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Tuổi thơ vốn giản dị như thế. Giận đó rồi quên
đó. Không ai để bụng lâu.
Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy những buổi chiều sau
dãy nhà bếp ấy quý giá biết bao. Chúng tôi chẳng có đồ chơi đắt tiền, chẳng có
sân khấu thật, chẳng có trang phục lộng lẫy. Tất cả chỉ là một khoảng sân xi
măng cũ kỹ, một cái bể phốt, một cây đa già và vài bụi khoai ráy. Thế nhưng
bằng trí tưởng tượng của trẻ con, nơi ấy đã trở thành cả một thế giới rộng lớn.
Trong thế giới ấy, tôi từng là một ông vua quyền uy.
Con Thảo là bà hoàng hậu ngang bướng. Những cô công chúa, những người lính,
những sứ giả đều là những người bạn tuổi thơ đã cùng tôi tạo nên biết bao kỷ
niệm.
Dịp nghỉ hè, lũ trẻ ở nhà số 1 được bổ sung thêm khá đông
vui. Từ Hà Nội, chú Điền và chú Hải được mẹ cho về chơi với bố và các anh chị ở
Nam Định. Hai chú nhỏ tuổi hơn tôi, người gầy nhẳng, chân tay khẳng khiu như
hai cây sậy. Dưới nhà lại có thêm thằng Lương, con chú Giao làm cấp dưỡng. Trên
nhà có cậu con trai của chú Phong thư ký. Đến giờ tôi vẫn không nhớ nổi tên nó
là gì, hình như tên Nam. Trí nhớ tuổi già nhiều khi thật kỳ quặc, chuyện xảy ra
cách đây mấy chục năm thì nhớ vanh vách, còn cái tên quen thuộc ngày nào lại
biến mất sạch.
Tính ra trong đám trẻ con ấy, tôi là đứa lớn nhất. Mà
hễ đã lớn nhất thì nghiễm nhiên thành thủ lĩnh. Chẳng ai bầu bán gì, cũng chẳng
có quyết định chính thức nào, nhưng mọi trò nghịch ngợm đều do tôi nghĩ ra, còn
đám còn lại thì hoặc tham gia nhiệt tình, hoặc miễn cưỡng làm theo.
Thằng Lương là nhân vật đặc biệt nhất. Nó sinh ra và
lớn lên ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm quen với việc chăn trâu cắt cỏ. Mới
hơn bốn tuổi mà thân hình đã chắc nịch. Da đen sạm vì nắng gió, mặt tròn vo như
cái bánh đa mới nướng. Mỗi lần cười, nó để lộ hàm răng sún đen xỉn vì chẳng mấy
khi đánh răng. Thế nhưng bù lại, nó có một nụ cười vô cùng hiền lành. Tôi chưa
bao giờ thấy thằng Lương giận ai. Bảo làm gì là làm nấy, sai bảo thế nào cũng
nghe theo. Bị trêu chọc cũng chỉ cười. Bị thua trò chơi cũng cười. Thậm chí bị
ngã đau cũng cười méo xệch rồi phủi quần đứng dậy. Có điều, dù tính tình dễ bảo
như thế, nó lại ít tham gia những phi vụ nghịch ngợm của chúng tôi. Nguyên nhân
rất đơn giản: chú Giao, bố nó, nổi tiếng nghiêm khắc.
Ngày ấy người lớn chẳng cần roi mây hay thắt lưng như
bây giờ người ta hay kể. Trong tay chú Giao lúc nào cũng sẵn một chiếc đũa cả
hoặc một khúc củi. Chỉ cần thấy thằng Lương lảng vảng ở nơi nào đáng nghi là
chú đã quát một tiếng khiến nó co rúm người lại. Nếu chẳng may gây chuyện thật
thì chiếc đũa cả kia có thể lập tức giáng xuống mông. Vì thế, thằng Lương
thường chỉ đứng ngoài quan sát chúng tôi nghịch ngợm rồi cười ngây ngô.
Thành ra, trong cả đám trẻ con nhà số 1, chỉ còn cậu
con trai của chú Phong là người đủ gan để trở thành đồng minh thân cận của tôi.
Nó nhỏ hơn tôi vài tuổi, người trắng trẻo, lanh lợi và đặc biệt là rất ham
chơi. Hễ tôi nghĩ ra trò gì thì nó là người hưởng ứng đầu tiên.
Chúng tôi từng chơi đủ thứ trò. Khi thì lấy cành cây
làm kiếm đánh trận giả. Khi thì trèo lên đống gạch xây dựng để làm pháo đài. Có
hôm lại chia phe ném quả bàng khô như ném lựu đạn. Những trò chơi ấy bây giờ
nghe có vẻ nguy hiểm, nhưng hồi đó trẻ con nào cũng vậy. Chỉ cần không gãy tay
gãy chân là người lớn coi như bình thường.
Thế rồi tai nạn xảy ra trong một buổi chiều hè nóng
nực.
Hôm ấy chẳng biết nghĩ ra trò gì mới, hai đứa tôi chạy
đuổi nhau quanh nhà. Ngôi nhà số 1 có khoảng sân rộng vừa đủ để trẻ con chạy
vòng vòng. Nó chạy trước, tôi chạy sau. Cứ thế hai đứa rượt nhau hết vòng này
sang vòng khác.
Đến giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ hình ảnh ấy. Thằng cu
người nhỏ thó, đôi chân trắng trẻo liên tục vắt qua vắt lại. Nó chạy hớt hải
nhưng lại cười ré lên vì thích thú. Còn tôi phía sau cũng cười ngặt nghẽo,
quyết tâm phải đuổi kịp.
Sau vài vòng, tôi nảy ra ý định nghịch ngợm. Thay vì
cố bắt lấy nó, tôi định đá nhẹ vào gót chân để nó giật mình. Lần đầu trượt. Lần
thứ hai cũng trượt. Tôi càng hăng máu. Cuối cùng, một cú đá đã trúng đích. Nhưng
đời không như tính toán. Thay vì đá vào bàn chân như dự định, mũi chân tôi lại
chọc đúng vào giữa khoeo chân sau đầu gối của nó. Mọi việc diễn ra nhanh đến
mức không ai kịp phản ứng. Thằng cu khuỵu xuống ngay lập tức. Tiếng cười biến
mất. Thay vào đó là tiếng khóc thét.
Nó ôm chân lăn lộn dưới đất, gào lên đau đớn. Tôi đứng
chết lặng. Ban đầu còn nghĩ chắc nó khóc nhè như mọi lần. Nhưng rồi chú Phong
từ trong nhà chạy ra, bế con lên dỗ dành mãi mà nó vẫn khóc không ngớt. Mặt chú
bắt đầu biến sắc. Một lúc sau, người lớn quyết định đưa nó vào bệnh viện.
Tôi ở nhà mà lòng thấp thỏm. Đến tối mới biết kết quả:
nó bị gãy xương. Nghe tin ấy, tôi sợ xanh mặt.
Ngày nay nghĩ lại thấy thật khó
tin. Chỉ một cú đá trong lúc đùa nghịch mà lại gây hậu quả lớn như vậy. Hồi đó
tôi còn nhỏ, chẳng hiểu hết mức độ nghiêm trọng. Điều đầu tiên xuất hiện trong
đầu lại không phải cảm giác tội lỗi, mà là một nỗi buồn rất trẻ con.
Đồng bọn của mình đã mất rồi. Người duy nhất có thể
theo các trò nghịch ngợm của tôi giờ đang nằm viện. Thằng Lương thì quá hiền. Chú
Điền với chú Hải thì bé tí, chạy vài vòng đã thở hồng hộc. Vậy còn ai để cùng
tôi bày trò nữa đây?
Suốt mấy ngày sau đó, sân nhà số 1 bỗng trở nên vắng
vẻ lạ thường. Không còn những cuộc rượt đuổi vòng quanh nhà. Không còn tiếng hò
hét đánh trận giả. Tôi lang thang một mình mà thấy buồn buồn.
Nhiều năm sau, mỗi lần nhớ lại chuyện ấy tôi đều vừa
buồn cười vừa áy náy. Buồn cười vì cái suy nghĩ trẻ con ngày đó. Áy náy vì chỉ
vì một phút ham vui mà khiến bạn mình phải vào viện.
Nhưng dù sao, đó vẫn là một phần ký ức không thể nào
quên của tuổi thơ. Những ngày hè đầy nắng, những trò nghịch ngợm vô tư, những
trận đòn của người lớn, những tiếng khóc rồi lại tiếng cười. Tất cả đã trở
thành một phần của quãng đời đẹp nhất.
Bây giờ mỗi người một nơi, có người còn gặp lại, có
người đã bặt tin từ lâu. Thế nhưng hình ảnh lũ trẻ nhà số 1 ngày ấy vẫn hiện
lên rõ mồn một trong trí nhớ tôi.
Một thời oanh liệt, ngây ngô và không thể trở lại.
Cũng thời gian ở Nam Định, tôi có một chuyện nữa vẫn
chưa quên, đó là thói ăn vụng. Một hôm, Bà nội từ quê lên chơi. Từ ngày có Bà,
căn phòng bỗng trở nên ấm áp hơn hẳn. Quan trọng hơn, trong chiếc tủ gỗ kê cạnh
bàn nước xuất hiện một báu vật mà trước đó tôi chưa từng được nhìn thấy: một
hộp sữa đặc Liên Xô.
Đó là hộp sữa đặc có nhãn xanh trắng, vỏ hộp bằng sắt,
nặng trịch. Đối với trẻ con thời ấy, đó là thứ quà sang trọng chẳng khác gì sơn
hào hải vị. Mỗi sáng, trước khi đi làm, Bố đều pha cho Bà một cốc sữa đầy. Ông
cẩn thận khuấy đều rồi đặt lên bàn. Chỉ khi thấy Bà uống hết, Bố mới yên tâm
xách cặp đi làm.
Tôi ngồi bên cạnh nhìn mà thèm đến cháy ruột.
Mỗi lần Bà đưa cốc sữa lên môi, mắt tôi lại dõi theo
từng ngụm. Tôi còn nhớ rất rõ cái cảm giác nuốt nước bọt theo từng nhịp lên
xuống của yết hầu trên cổ Bà. Hương sữa thơm ngọt lan khắp căn phòng khiến bụng
tôi réo lên từng hồi.
Có hôm Bà vừa uống vừa nhăn mặt với Bố tôi:
– Ngọt quá! Mẹ buồn nôn đây này!
Nghe Bà than thế, tôi vừa ngạc nhiên vừa tiếc. Một thứ
ngon lành đến vậy mà sao Bà lại chê?
Những ngày may mắn nhất là khi Bố đi làm vội. Khi ấy
Bà thường gọi tôi lại:
– Lại đây, uống nốt cho Bà.
Nghe thế, tôi mừng quýnh. Gọi là
uống "sái" nhưng thực ra trong cốc vẫn còn gần như đầy, thậm chí có
hôm còn nguyên cả cốc. Tôi ôm cốc hai tay, ngửa cổ uống một hơi không kịp thở.
Sữa ngọt lịm, béo ngậy chảy qua cổ họng, xuống tận bụng, cảm giác như sữa chảy
đến đâu là biết tới đó. Tôi sung sướng đến mức muốn được tận hưởng mãi mãi. Uống xong, Bà còn lấy thêm ít nước đổ vào cốc tráng kỹ
rồi đưa cho tôi uống tiếp.
– Uống hết đi, phí của Giời đấy!
Tôi ngoan ngoãn nuốt sạch, đến giọt cuối cùng cũng
không bỏ.
Nhưng trẻ con vốn không biết kiên nhẫn. Tôi không muốn
chờ những dịp may hiếm hoi ấy nữa. Trong đầu bắt đầu nảy sinh một kế hoạch táo
bạo.
Một hôm cả nhà đi vắng, chỉ còn mình tôi ở nhà. Nhìn
quanh không thấy ai, tôi lén mở tủ lấy hộp sữa ra. Trên nắp hộp đã được đục sẵn
hai lỗ nhỏ đối diện nhau để tiện rót sữa. Tôi ôm hộp sữa như ôm báu vật.
Ban đầu tôi thử ghé miệng vào mép hộp rồi hút. Dòng
sữa đặc từ từ chảy vào miệng. Rít một ngụm, rồi hai, ba ngụm… Ngọt lịm. Tuyệt
vời. Cảm giác ấy còn thích hơn uống bằng cốc rất nhiều. Hình như cái gì ăn vụng
cũng ngon hơn ăn công khai.
Lần sau, tôi phát hiện ra một "sáng kiến"
mới. Thay vì nghiêng hộp để sữa tự chảy ra, tôi thổi thật mạnh vào lỗ phía
trên. Kỳ diệu thay, dòng sữa lập tức phụt ra ở lỗ còn lại như một vòi nước nhỏ.
Tôi thích thú cười khúc khích rồi hứng lấy bằng cốc. Chỉ trong chốc lát, lượng
sữa trong hộp vơi đi đáng kể.
Sau khi no nê, tôi còn cẩn thận thực hiện công đoạn
phi tang chứng cứ. Tôi đổ nước vào cốc để tráng như cách Bà vẫn làm. Nhưng thay
vì uống, tôi đem đổ thẳng vào chiếc bô đặt dưới gầm bàn nước. Tôi cho thế là xong.
Chẳng ai có thể phát hiện được.
Nhưng trẻ con thì làm sao qua mắt được người lớn. Buổi
trưa hôm ấy, Bố về nhà ăn cơm. Vừa ngồi xuống bàn, ông đã nhìn thấy chiếc bô chứa
nước thải có màu trắng đục bất thường. Chỉ cần liếc qua, Bố đã hiểu chuyện gì
xảy ra. Cuộc điều tra diễn ra rất ngắn. Nghi phạm duy nhất là tôi. Bằng chứng
thì quá rõ ràng. Kết quả, tôi bị lệnh tụt quần nằm sấp trên giường nhận ba roi
bằng cán phất trần. Những đường roi không quá đau nhưng đủ làm tôi nhớ đời. Sau
đó còn phải đứng úp mặt vào góc nhà suốt buổi trưa để kiểm điểm hành vi.
Tội danh được tuyên rất trang trọng: Ăn vụng!
Ngày ấy tôi thấy mình oan lắm. Có phải tôi lấy của ai
đâu. Sữa vẫn ở trong nhà cơ mà. Chỉ là tôi uống trước một chút thôi.
Có lẽ tuổi thơ của ai cũng từng có vài lần như thế.
Một chút tham lam rất trẻ con, một chút liều lĩnh ngây ngô và một bài học nhớ
đời. Còn chuyện sau này lớn lên có còn "ăn vụng" kiểu khác hay không
thì... xin phép được giữ bí mật.
Dù sao, bây giờ đã hạ cánh an toàn rồi. Hee hee...

Nhận xét
Đăng nhận xét