Chào đời
Tôi được sinh ra vào những ngày cuối cùng của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, khi cả dân tộc đang hướng về chiến trường Điện
Biên Phủ với niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi. Theo giấy khai sinh, tôi cất
tiếng khóc chào đời ngày 08 tháng 3 năm 1954 tại làng Thanh Cù, huyện Thanh Ba,
tỉnh Phú Thọ. Đó là vùng đất trung du yên bình, nằm trong khu vực căn cứ địa
Việt Bắc, nơi được xem là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến và cũng là một
phần của “Thủ đô kháng chiến” năm xưa.
Sau này, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác
liệt, chính cái tên mà ông đã đặt cho tôi lại được ông chọn làm bí danh hoạt
động trong suốt mười năm ở chiến trường miền Nam. Đồng đội và nhân dân nơi ông
công tác đều biết đến ông với cái tên Chín Vinh. Mỗi lần nhớ lại điều đó, tôi
luôn cảm thấy giữa hai cha con có một mối liên hệ đặc biệt. Cái tên không chỉ
là dấu ấn cá nhân mà còn gắn liền với những năm tháng chiến đấu gian khổ của
người cha và cả vận mệnh của đất nước.
Mẹ tôi thường kể rằng khi mới sinh ra, tôi là một cậu
bé rất bụ bẫm. Bà bảo: “To ôi là to!”, rồi vừa kể vừa dang rộng hai tay như để
minh họa cho kích thước của đứa con sơ sinh năm ấy. Theo lời bà, tôi nặng tới
bốn cân hai, một trọng lượng đáng kể đối với điều kiện sinh nở ở vùng nông thôn
thời chiến. Câu chuyện ấy được mẹ nhắc lại nhiều lần trong suốt cuộc đời nên
tôi gần như thuộc nằm lòng từng chi tiết. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ dáng điệu của
bà mỗi khi kể chuyện: vừa đung đưa người như ru trẻ, vừa cười hiền hậu, giọng
nói có phần pha chút tự hào và đôi khi cũng không tránh khỏi sự phóng đại đáng
yêu của một người mẹ.
So với lần sinh người anh cả của tôi là Trần Toàn
Thắng vào tháng 9 năm 1947 tại Thái Nguyên, điều kiện lúc sinh tôi đã đỡ vất vả
hơn phần nào trong những năm đầu kháng chiến vô cùng thiếu thốn. Khi sinh anh
tôi, mẹ phải sống giữa núi rừng, xa cơ sở y tế, xa người thân và gần như không
có bất kỳ sự trợ giúp nào. Bà đã tự mình vượt cạn, rồi tự tay cắt cuống rốn cho
con. Đó là câu chuyện mà mỗi lần nghe kể lại, tôi đều cảm thấy vô cùng xúc động
và khâm phục nghị lực phi thường của Mẹ.
Mẹ kể rằng khi ông Độ mời được bác sĩ tới thăm khám
thì mọi việc đã hoàn tất từ vài tuần lễ trước. Đứa trẻ đã chào đời khỏe mạnh,
người mẹ cũng đã tự xoay xở xong mọi việc. Điều khiến nhiều người kinh ngạc hơn
nữa là chỉ một ngày sau khi sinh tôi, bà đã mang quần áo và đồ dùng xuống suối
để giặt giũ như bình thường. Chuyện kiêng cữ sau sinh gần như không tồn tại
trong cuộc sống của những người phụ nữ kháng chiến năm ấy.
Năm 2010, trong một buổi gặp gỡ
và nói chuyện với các đại biểu phụ nữ của Thành phố Hà Nội, Mẹ tôi có dịp kể
lại những câu chuyện của mình. Khi nghe đến chi tiết bà tự sinh con giữa rừng
rồi hôm sau đã xuống suối giặt giũ, cả hội trường đều ngạc nhiên. Nhiều người
mở to mắt, không giấu nổi sự thán phục. Có người còn thốt lên rằng thật khó có
thể tưởng tượng nổi lại có những người phụ nữ gan dạ, mạnh mẽ đến như vậy.
Thực ra, những gì mọi người biết mới chỉ là một phần
nhỏ trong cuộc đời đầy gian truân của mẹ tôi. Trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945, bà từng bị thực dân Pháp bắt giam và tra tấn trong Nhà tù Hỏa Lò. Những
năm tháng tù đày khắc nghiệt ấy đã rèn luyện cho bà một ý chí sắt đá và một
nghị lực phi thường. Có lẽ chính những trải nghiệm đó đã giúp bà vượt qua mọi
thử thách của chiến tranh, từ những ngày hoạt động cách mạng bí mật, những năm
sống giữa núi rừng kháng chiến cho đến những lần sinh con trong hoàn cảnh vô
cùng thiếu thốn.
Thời gian tôi được sinh ra, mẹ tôi đang công tác tại
Cửa hàng Lương thực Thanh Cù, thuộc vùng trung du Phú Thọ, nay là địa bàn xã Vũ
Yển, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Nghe tên gọi là “cửa hàng” thì nhiều người
dễ hình dung đó là một cơ sở khang trang, có nhà cửa đàng hoàng như các cửa
hàng quốc doanh sau này. Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Đó chỉ là một căn chòi
nhỏ dựng tạm dưới chân một quả đồi cọ, xung quanh là rừng cây, nương bãi và
những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo. Phía trước cửa hàng có một con suối nhỏ
trong vắt chảy qua, ngày đêm róc rách giữa không gian hoang sơ, vắng vẻ của
vùng trung du những năm đầu sau hòa bình lập lại. Lúc đó tôi còn rất nhỏ, chưa
biết đi, chưa biết nói. Hằng ngày, mẹ đặt tôi nằm trong một chiếc cũi đơn sơ
rồi tất bật với công việc. Một mình bà vừa phụ trách thu mua lương thực, vừa
quản lý kho, vừa tổ chức cấp phát gạo, ngô và các loại nhu yếu phẩm cho nhân
dân, cho bộ đội và các cơ quan trong vùng. Công việc bận rộn từ sáng sớm đến
tối mịt, nhưng điều khiến bà lo lắng hơn cả lại là hoàn cảnh sinh hoạt quá đỗi
heo hút.
Ban ngày thỉnh thoảng còn có người qua lại, nhưng khi
màn đêm buông xuống, cả khu vực chìm trong sự tĩnh mịch đến rợn người. Chung
quanh là đồi cọ, là rừng cây và những bãi đất hoang. Những đêm tối trời, nằm
trong căn chòi nhỏ, mẹ tôi thường nghe tiếng thú rừng đi kiếm ăn giẫm lên lớp
lá khô dưới chân đồi phát ra những âm thanh sột soạt kéo dài. Mỗi tiếng động
bất thường đều khiến bà giật mình. Một người phụ nữ trẻ, vừa nuôi con nhỏ, vừa
trông coi kho lương thực giữa nơi hẻo lánh như vậy, không khỏi có lúc lo sợ.
Sau này mẹ kể lại rằng trong hầu hết những lá thư gửi
cho bố tôi thời gian ấy, bà đều nhắc đi nhắc lại một mong muốn: bố tìm cách gửi
cho bà một khẩu súng lục để phòng thân. Không phải vì bà muốn sử dụng nó, mà
chỉ để có chút cảm giác yên tâm giữa những đêm dài cô quạnh nơi rừng núi.
Tuổi thơ của tôi cũng gắn với khung cảnh đặc biệt ấy.
Mẹ kể rằng khi tôi mới chập chững biết đi, có lần bà đang bận công việc trong
kho thì tôi tự mò ra phía vườn chuối cạnh cửa hàng. Phía cuối của vườn chuối là
khu vệ sinh. Nước tiểu được lưu trữ dùng làm phân bón cho rau màu, được chứa
đựng vào những chiếc nồi đất nung cỡ lớn đặt cố định trong góc vườn. Khi tưới
cho rau màu hoặc cây ăn quả thứ nước này được pha loãng với nước sông, nước ao
tự nhiên thành một thứ phân bón rất hiệu quả. Quay lại câu chuyện, lúc đó do không
ai để ý, tôi ngồi thụp xuống bên một chiếc nồi lớn rồi dùng hai bàn tay nhỏ xíu
nghịch ngợm khoắng vào trong đó…
Cuối năm 1955, hoàn cảnh công tác của mẹ tôi có sự
thay đổi quan trọng. Sau nhiều năm làm việc tại Phú Thọ, bà được điều chuyển về
Hà Nội. Chức vụ lúc đó vẫn là Trưởng cửa hàng Lương thực. Điều đáng nói là
trước đó, trong quá trình công tác tại địa phương, bà từng giữ chức Phó Chủ
nhiệm Công ty Bách hóa Phú Thọ. Tuy nhiên, trong điều kiện cán bộ còn thiếu,
việc điều động và bố trí công việc không hoàn toàn phụ thuộc vào chức vụ cũ mà
chủ yếu căn cứ vào nhu cầu thực tế của ngành.
Dù chuyển về Hà Nội, cuộc sống
của mẹ tôi vẫn rất vất vả. Bà gần như gắn bó hoàn toàn với nơi làm việc. Cửa
hàng vừa là nơi công tác, vừa là nơi sinh hoạt thường ngày. Đi đâu bà cũng phải
đưa tôi theo. Tuổi thơ của tôi vì thế gắn liền với các cửa hàng lương thực, kho
hàng và những khu tập thể cán bộ nhiều hơn là với những sân chơi của trẻ nhỏ.
Đến năm 1957, gia đình tôi đón thêm một thành viên
mới. Mẹ sinh người em trai thứ ba của tôi là Trần Điền. Thời điểm đó bà đang
theo học bổ túc văn hóa tại Trường Cán bộ Thương nghiệp Trung ương. Điều kiện
học tập lúc ấy còn rất đơn sơ. Khu trường được dựng bằng những dãy nhà tranh,
vách nứa tạm bợ trên khu vực mà ngày nay là sân vận động của Trường Trung học
phổ thông Chu Văn An ở Hà Nội.
Tôi vẫn còn nhớ khá rõ những hình ảnh của quãng thời
gian đó. Đó là những dãy nhà mái tranh thấp bé, vách đan bằng nứa, nền đất nện,
mùa hè nóng nực còn mùa mưa thì ẩm thấp. Cuộc sống tuy thiếu thốn nhưng không
khí học tập của các cán bộ rất sôi nổi. Ai cũng cố gắng học tập để nâng cao
trình độ phục vụ công việc trong giai đoạn đất nước đang từng bước xây dựng sau
chiến tranh.
Trong ký ức tuổi thơ của tôi còn lưu lại một kỷ niệm kinh
hoàng nhưng cũng rất khó quên. Một hôm, đang ở trong khu nhà tập thể, tôi nghe
thấy tiếng động cơ máy bay từ xa vọng tới. Những năm ấy, trẻ con rất hiếm khi
được nhìn thấy máy bay nên mỗi lần có tiếng động cơ trên bầu trời đều cảm thấy
vô cùng tò mò.
Nghe tiếng máy bay, tôi vội vàng xỏ chân vào đôi dép
rồi chạy thật nhanh ra ngoài sân để ngửa mặt lên trời tìm kiếm. Trong lúc hấp
tấp, tôi không để ý rằng bên cạnh phản nằm có đặt một chiếc đĩa đựng bột nóng
vừa được múc ra chuẩn bị cho em Điền ăn. Khi lao người qua, bàn tay trái của
tôi vô tình chống thẳng vào đĩa bột ấy. Cảm giác bỏng rát lập tức khiến tôi
khóc thét lên. Cả bàn tay đỏ ửng vì bị hơi nóng làm phỏng. May mắn là bột đã
được để nguội bớt nên vết bỏng không quá nặng. Dù vậy, suốt nhiều ngày sau đó,
bàn tay vẫn đau nhức và rát buốt mỗi khi chạm vào vật gì.
Mẹ tôi lúc ấy vừa bận học tập, vừa phải chăm sóc em
Điền còn nhỏ nên không thể trực tiếp đưa tôi đi theo bên mình. Vì vậy, Bố tôi,
khi đó đang giữ cương vị Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn và công tác tại Nam Định,
đã đón tôi về sống cùng ông. Đó là khoảng thời gian để lại trong tôi nhiều ký
ức sâu sắc về gia đình và những năm tháng tuổi thơ gắn liền với cuộc sống quân đội.
Khi tôi về Nam Định, trong nhà đã
có anh Trần Toàn Thắng và chị Trần Hoàng Tâm sinh sống cùng Bố tôi. Chị Tâm là
con nuôi của bố mẹ tôi, nhưng cũng được bố mẹ tôi yêu thương, chăm sóc như những
người em trai trong gia đình. Anh Trần Toàn Thắng sinh năm 1947 tại Định Hóa,
Thái Nguyên. Thời điểm anh ra đời cũng là lúc Mẹ tôi đang công tác tại cơ quan
Phụ nữ Trung ương, còn Bố tôi làm việc trong cơ quan Bộ Quốc phòng. Do điều
kiện công tác thường xuyên xa nhà và hoàn cảnh chiến tranh còn nhiều khó khăn,
Bố tôi đã gửi anh Thắng cho một số gia đình bạn bè thân thiết nuôi dưỡng, chăm
sóc. Trong số đó có gia đình ông bà Đỗ Hữu Dư, những người đã dành cho anh
nhiều tình cảm yêu thương trong những năm tháng tuổi thơ. Mãi đến năm 1958, khi
điều kiện thuận lợi đoàn tụ gia đình, anh Thắng được đón về Nam Định để sống
cùng Bố tôi.
Câu chuyện về chị Trần Hoàng Tâm lại mang màu sắc đặc
biệt và nhiều xúc động hơn. Sau chiến thắng năm 1954, khi đất nước bước vào
giai đoạn hòa bình ở miền Bắc, bố mẹ tôi đã nhận chị làm con nuôi. Theo những
gì tôi được nghe kể lại, mẹ đẻ của chị Tâm cùng chị sống trong khu vực gần
doanh trại nơi đơn vị của Bố tôi đóng quân tại Bắc Ninh. Không may, một sự việc
đau lòng đã xảy ra. Vì một mâu thuẫn liên quan đến tiền bạc, mẹ chị Tâm bị một
người trong đơn vị bắn chết. Khi đó chị còn rất nhỏ, bơ vơ không nơi nương tựa.
Trước hoàn cảnh đáng thương ấy, đơn vị của Bố tôi đã đứng ra nhận trách nhiệm
chăm sóc, nuôi dưỡng chị. Sau này, khi Bố tôi được điều động nhận nhiệm vụ mới
tại Nam Định, ông đã quyết định nhận chị Tâm làm con nuôi chính thức và đưa chị
theo để nuôi dạy như con trong gia đình.
Ở Nam Định, cuộc sống của chúng tôi diễn ra khá ổn
định. Anh Thắng tiếp tục theo học các bậc trung học cơ sở và trung học phổ
thông. Chị Tâm được Bố tôi tạo điều kiện học tập văn hóa và theo học đàn violin
trong đoàn Văn công của Quân khu. Điều đó cho thấy Bố tôi luôn quan tâm đến
việc giáo dục và phát triển khả năng của các con, dù là con đẻ hay con nuôi.
Ông mong muốn mỗi người đều có điều kiện học tập, rèn luyện để trưởng thành và
tự lập trong cuộc sống.
Về phần mình, tôi bắt đầu những năm tháng học tập đầu
tiên tại Nam Định. Từ lớp vỡ lòng cho đến những năm cấp I, tuổi thơ của tôi gắn
liền với mảnh đất này. Những ký ức về trường lớp, bạn bè, những con đường quen
thuộc và nhịp sống của một thành phố tỉnh lỵ thời đó vẫn còn lưu lại khá rõ
trong tâm trí. Tuy còn nhỏ nhưng tôi cảm nhận được không khí của một thời kỳ
đất nước đang từng bước khôi phục sau chiến tranh, mọi người đều nỗ lực học tập
và lao động để xây dựng cuộc sống mới.
Đến giữa năm 1964, một sự thay đổi lớn lại diễn ra
trong cuộc sống gia đình tôi. Quân khu III được thành lập và Bố tôi được điều
động giữ chức Chính ủy Quân khu. Trụ sở đóng quân đặt tại Hà Đông. Một lần nữa,
cả gia đình lại thu xếp chuyển nơi ở để theo nhiệm vụ công tác của ông. Việc
chuyển nhà đối với chúng tôi khi ấy dường như đã trở thành điều quen thuộc, bởi
cuộc đời quân ngũ luôn gắn liền với những chuyến đi và những lần thay đổi nơi sinh
sống.
Tại Hà Đông, anh Thắng học nốt năm cuối cấp III. Sau
khi tốt nghiệp lớp 10, anh tình nguyện nhập ngũ vào quân đội, tiếp nối truyền
thống phục vụ Tổ quốc của gia đình. Tôi tiếp tục học năm cuối cấp I tại đình
làng Vạn Phúc, nơi được sử dụng làm lớp học trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Ngôi
đình cổ với sân rộng, mái ngói rêu phong và những hàng cột gỗ lớn đã trở thành
một phần ký ức đẹp của tuổi học trò.
Đầu năm 1965, chiến tranh ngày càng diễn biến ác liệt.
Bố tôi nhận lệnh vào chiến trường miền Nam công tác. Từ đó, tôi lên Hà Nội sống
cùng Mẹ tại số nhà 98 phố Sinh Từ, nay là phố Nguyễn Khuyến. Một chặng đường
mới trong cuộc đời lại bắt đầu.
Nhìn lại quãng thời gian tuổi thơ ấy, tôi thấy đó là
những năm tháng tuy không dài nhưng vô cùng ý nghĩa. Do đặc thù công tác của Bố
mẹ, tôi được sống ở nhiều địa phương khác nhau, gặp gỡ nhiều con người và chứng
kiến nhiều hoàn cảnh đặc biệt. Những ký ức ấy không quá nhiều, nhưng hầu hết
đều in đậm trong tâm trí tôi. Đó là hình ảnh những người thân yêu trong gia đình,
những lần chuyển nhà theo đơn vị, những mái trường đơn sơ, những người bạn tuổi
thơ và cả những câu chuyện buồn vui của một thời đất nước còn nhiều khó khăn.
Tất cả đã góp phần tạo nên những ký ức không thể nào quên của tuổi thơ tôi.



Nhận xét
Đăng nhận xét