Hà Đông
Đầu năm 1964, gia đình tôi chuyển từ Nam Định ra Hà
Đông. Đó là một dấu mốc đáng nhớ trong tuổi thơ của tôi, bởi quãng thời gian
sống ở đây đã để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc về gia đình, bạn bè và vùng đất khi
ấy còn mang đậm dáng dấp của một thị xã yên bình nằm bên cửa ngõ phía tây Hà
Nội.
Thời điểm đó, Bố tôi đang giữ cương vị Chính ủy Quân
khu 3. Gia đình được bố trí ở trong khu nhà dành cho cán bộ lãnh đạo của Quân
khu, gần làng Vạn Phúc nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. Ngôi nhà chúng
tôi ở là một căn biệt thự một tầng lợp ngói, nằm trên con đường dẫn vào cơ quan
Quân khu. Phía trước là khu gia đình của cán bộ, phía sau là nhà của ông Hoàng
Sâm, Tư lệnh Quân khu 3 lúc bấy giờ.
Khu đất dành cho ngôi nhà khá rộng rãi. Xung quanh có
vườn cây, ao chuôm và nhiều khoảng đất trống tạo nên một không gian thoáng
đãng, khác hẳn với những khu phố đông đúc. Ngôi nhà được xây dựng theo kiểu
biệt thự đơn giản nhưng chắc chắn, mái ngói đỏ, tường dày và hàng hiên rộng
chạy dọc phía trước. Vào những ngày hè, hàng hiên ấy trở thành nơi tránh nắng
lý tưởng, vừa mát mẻ vừa đón được những cơn gió từ các ao hồ xung quanh thổi
tới.
Khi nhận nhà, Bố tôi đã tự tay phác thảo cách bố trí
lại các phòng cho phù hợp với nhu cầu sinh hoạt của gia đình cũng như công việc
của ông. Toàn bộ ngôi nhà có dạng hình vuông khá cân đối, được chia thành hai
phần chính bởi một hành lang lớn ở giữa. Hành lang này chạy xuyên suốt từ mặt
trước ra phía sau nhà, vừa là nơi đón khách, vừa là không gian sinh hoạt chung
của cả gia đình.
Phần diện tích phía trước chủ yếu được dành cho công
việc của Bố tôi. Có một căn phòng rộng dùng để tiếp khách và làm việc. Đây là
nơi thường xuyên diễn ra các cuộc gặp gỡ, trao đổi công việc với cán bộ trong
Quân khu. Phía sau phòng làm việc là hai căn phòng nhỏ hơn phục vụ các nhu cầu
riêng. Đặc biệt, trong khu vực này còn có một căn phòng tối được bố trí chuyên
dùng để làm ảnh. Thời ấy việc chụp và tráng ảnh còn khá công phu, nên căn phòng
này luôn khiến tôi tò mò và thích thú.
Phần còn lại của ngôi nhà là không gian dành cho gia
đình. Sau nhà có hai phòng nhỏ cho anh em chúng tôi sinh hoạt và nghỉ ngơi. Bên
cạnh đó là một phòng dành cho bảo vệ và lái xe của Bố tôi. Mặc dù diện tích các
phòng không lớn nhưng nhờ khuôn viên rộng nên mọi người đều cảm thấy thoải mái.
Điều tôi nhớ nhất chính là khu vườn bao quanh ngôi
nhà. Trước sân có những cây nhãn được trồng thành hàng. Mỗi mùa quả chín, những
chùm nhãn sai lúc lỉu khiến lũ trẻ chúng tôi vô cùng thích thú. Xen giữa các
cây ăn quả là những luống hoa và cây cảnh được chăm sóc cẩn thận. Những buổi
sáng sớm, hương hoa thoảng nhẹ trong không khí tạo nên cảm giác rất dễ chịu.
Phía sau nhà là một khoảng sân rộng. Nơi đó có vài cây
phi lao cao vút, thân cây thẳng tắp vươn lên trời xanh. Mỗi khi có gió, những
tán lá phi lao phát ra âm thanh vi vu nghe rất đặc trưng. Khoảng sân rộng ấy
cũng là nơi chúng tôi thường chơi đùa, đá bóng, chạy nhảy hoặc tổ chức những
trò chơi của trẻ con trong khu gia đình.
Xa hơn nữa là những ao hồ bỏ hoang nằm phía sau khu
biệt thự. Những mặt nước rộng, phủ đầy bèo và cỏ dại tạo nên khung cảnh vừa
hoang sơ vừa bí ẩn đối với trí tưởng tượng của lũ trẻ. Chúng tôi thường tò mò
khám phá xung quanh, tìm bắt tôm cá, cào cào hay ngắm những đàn chuồn chuồn bay
lượn trên mặt nước.
Nếp sinh hoạt thời ấy vẫn còn mang nhiều nét của vùng
nông thôn Bắc Bộ. Vì vậy, khu vệ sinh không nằm trong nhà như bây giờ mà được
xây tách riêng. Một dãy nhà ngang phía sau gồm bếp, phòng tắm và khu vệ sinh.
Điều này tuy có phần bất tiện nhưng lại là cách bố trí rất phổ biến vào thời
đó. Những buổi tối mùa đông, việc đi từ nhà chính ra khu tắm giặt thường khiến
lũ trẻ chúng tôi ngại ngần vì trời lạnh và tối.
Như đã kể ở trên, nhà chúng tôi ở cạnh nhà gia đình
ông Hoàng Sâm, khi đó là Tư lệnh Quân khu. Hai khu nhà được ngăn cách bởi một
bức tường thấp, nhưng phía dưới dãy nhà ngang dùng làm bếp nấu ăn và khu vệ
sinh thì không ngăn cách, phía trước dãy nhà đó có một con đường nhỏ chạy xuyên
suốt từ nhà tôi, đi qua nhà ông Hoàng Sâm rồi dẫn vào khu cơ quan. Hằng ngày,
bố tôi và ông Hoàng Sâm đều đi làm trên con đường ấy. Hình ảnh người Bố hàng
ngày xách cặp da lớn, bước đi nhanh nhẹn trên con đường quen thuộc đã trở thành
một phần của ký ức tuổi thơ tôi.
Sau này, khi bố tôi lên đường vào chiến trường miền
Nam công tác, con đường đó được rào lại và không còn nhộn nhịp như trước. Đến
năm 1974, cha tôi từ miền Nam trở ra và tiếp tục ở trong khu nhà này một thời
gian. Gia đình tôi vẫn gắn bó với nơi đây cho đến đầu năm 1975 mới chuyển về Hà
Nội, đến ngôi nhà số 97 phố Trần Hưng Đạo. Đó là một dấu mốc quan trọng, khép
lại một chặng đời nhiều kỷ niệm gắn với Hà Đông và những năm tháng tuổi thơ
không thể nào quên.
Khi chuyển về Hà Đông, tôi tiếp tục theo học năm cuối
của cấp I. Đây là giai đoạn tôi bắt đầu có nhiều nhận thức rõ ràng hơn về cuộc
sống xung quanh. Từ khu Quân khu đi ra trung tâm Hà Đông phải qua cầu Am. Khu
phố thị xã lúc đó cũng đã có nhiều trường học thuận tiện cho việc đi lại. Tuy
nhiên, Bố tôi không muốn tôi học ở trường phố mà quyết định cho tôi vào học tại
trường làng Vạn Phúc.
Lúc đầu tôi cũng thấy hơi lạ vì nghĩ rằng trường làng
chắc sẽ đơn sơ hơn trường phố. Nhưng khi đến nơi, tôi mới nhận ra đó là một
ngôi trường rất đặc biệt. Trường được đặt ngay trong khuôn viên đình làng Vạn
Phúc, một ngôi đình cổ nổi tiếng của vùng đất này. Những mái đình rêu phong,
những cây cổ thụ tỏa bóng mát và khoảng sân rộng trước đình tạo nên một môi
trường học tập rất khác biệt.
Đối với lũ học sinh chúng tôi, ngôi đình vừa là lớp
học, vừa là nơi vui chơi. Sau giờ học, chúng tôi có thể chạy nhảy trong sân
đình, chơi các trò chơi dân gian hoặc ngồi dưới bóng cây để trò chuyện. Không
gian ấy vừa trang nghiêm vừa gần gũi, khiến việc đến trường trở thành niềm vui
mỗi ngày.
Làng Vạn Phúc khi ấy đã nổi tiếng khắp nơi với nghề
dệt lụa truyền thống. Trên những con đường nhỏ trong làng, thỉnh thoảng tôi bắt
gặp tiếng khung cửi đều đều vang lên từ các gia đình làm nghề. Những tấm lụa
mềm mại với nhiều màu sắc khác nhau được phơi hoặc bày bán tạo nên một nét đẹp
rất riêng của vùng quê ven đô.
Con đường dẫn vào làng Vạn Phúc ngày ấy khác xa với
những con đường rộng rãi, lát bê tông phẳng phiu của bây giờ. Từ ngoài đường
cái đi vào đến ngôi đình làng, nơi đặt trường học của chúng tôi, chỉ là một con
đường đất nhỏ chạy giữa những thửa ruộng lúa xanh ngắt. Vào mùa khô, mặt đường
bụi mù mỗi khi có người qua lại. Nhưng đến mùa mưa, con đường trở nên trơn
trượt vô cùng. Chỉ cần sơ ý một chút là có thể ngã nhào xuống ruộng hoặc trượt
chân xuống con mương chạy dọc bên đường.
Con mương ấy là nơi dẫn nước thải từ xí nghiệp nhuộm
trong làng chảy ra sông Nhuệ. Nước lúc nào cũng đen sì, đặc quánh và bốc lên
một mùi hôi khó chịu. Đối với người lớn, đó chỉ là một con mương nước bẩn cần
tránh xa, nhưng với đám trẻ con chúng tôi, nó lại là một phần quen thuộc của
khung cảnh làng quê. Tuy nhiên, không ít lần nó trở thành nỗi ám ảnh của những
đứa trẻ bất cẩn. Tôi còn nhớ chú Điền, em trai tôi, trong một lần đi học đã
trượt chân rơi tõm xuống dòng nước đen ấy. Quần áo lấm lem, người nồng nặc mùi
thuốc nhuộm, chú phải bỏ dở buổi học để quay về nhà thay đồ. Chuyện ấy sau này
trở thành một kỷ niệm được nhắc đến mỗi khi nhớ về tuổi thơ.
Đến cuối con đường là cổng đình làng Vạn Phúc. Hai bên
cổng có tượng hai vị hộ pháp dân gian mà bọn trẻ chúng tôi thường gọi nôm na là
ông “thiện” và ông “ác”. Những pho tượng ấy đứng uy nghiêm, ngày ngày chứng
kiến biết bao thế hệ học trò ra vào. Đối với trẻ con, đó vừa là hình ảnh quen
thuộc vừa có phần đáng sợ. Những hôm trời âm u hoặc những ngày đông giá lạnh,
nhìn hai pho tượng sừng sững bên cổng đình cũng khiến không ít đứa rùng mình.
Bọn bạn học cùng lớp thường kể
cho nhau nghe đủ thứ chuyện ly kỳ liên quan đến ngôi đình làng. Trong số đó,
câu chuyện khiến lũ trẻ chúng tôi vừa sợ vừa tò mò nhất là chuyện về một cậu bé
nghịch ngợm đã dám tiểu tiện vào tượng một trong hai ông hộ pháp đứng canh ở
cổng đình, cụ thể là tượng ông mà mọi người vẫn gọi là ông “ác”.
Theo lời kể, ngay tối hôm đó cậu bé bỗng bị sưng đau ở
chỗ kín. Cái bệnh đến rất bất ngờ, khiến cậu ta đau đớn, đi lại khó khăn và
phải nghỉ học liền mấy ngày. Người lớn trong làng cho rằng đó là do cậu đã xúc
phạm thần linh nên bị quở phạt. Mẹ cậu bé hoảng hốt, phải sắm lễ mang ra đình
khấn vái liên tiếp nhiều ngày để xin tha tội cho con. Chỉ sau khi làm lễ xong,
bệnh tình của cậu mới dần thuyên giảm và trở lại bình thường. Chuyện thực hư
thế nào chẳng ai kiểm chứng được, nhưng đối với lũ trẻ ngày ấy, câu chuyện ấy
có sức thuyết phục rất lớn.
Từ đó, mỗi lần đi qua cổng đình, đứa nào cũng len lén
nhìn hai ông hộ pháp với tâm trạng vừa kính sợ vừa dè chừng. Đặc biệt là khuôn
mặt dữ tợn của ông “ác” với đôi mắt trợn tròn, bộ ria mép và vẻ mặt nghiêm nghị
khiến đứa trẻ nào cũng thấy lạnh gáy. Chẳng ai dám nghĩ đến chuyện nghịch ngợm
hay có hành động bất kính ở nơi đó.
Thực ra, vào những năm ấy, hai
pho tượng hộ pháp không đẹp đẽ như ngày nay. Trải qua thời gian dài không được
tu sửa, lớp sơn đã bong tróc gần hết. Nhiều chỗ nứt nẻ, loang lổ, bám đầy bụi
bẩn và bùn đất. Những cơn mưa gió cùng sự tàn phá của thời gian khiến các pho
tượng trở nên cũ kỹ, thậm chí có phần đáng sợ hơn trong mắt trẻ con. Sau này
đình được tu bổ, các pho tượng được sơn sửa lại với màu sắc tươi mới, nhưng cảm
giác huyền bí và đáng kính của ngày xưa thì dường như không còn nguyên vẹn nữa.
Bước vào bên trong là khoảng sân
đình rộng rãi. Chính giữa là ngôi đình cổ, mái ngói rêu phong, không có tường
bao quanh như nhiều ngôi đình khác. Bên trong đình đặt bàn thờ Thành hoàng
làng, hương khói quanh năm. Hai bên bàn thờ là đôi hạc quý đứng chầu trang
nghiêm trên lưng rùa. Phía trước là bộ đồ tế khí dùng trong các dịp lễ hội và
tế lễ truyền thống của làng. Tất cả tạo nên một không gian vừa linh thiêng vừa
cổ kính.
Hai bên ngôi đình là hai dãy nhà ngang chạy dài từ
cổng vào tận phía trong. Đó chính là nơi đặt các lớp học của trường làng ngày
ấy. Cơ sở vật chất vô cùng đơn sơ. Trường chỉ có bức tường bao bên ngoài để ngăn
cách với khu dân cư, còn phía quay vào sân đình hoàn toàn để trống. Mỗi khi có
gió lớn, bụi từ sân đình hoặc từ ngoài đồng có thể bay thẳng vào lớp học. Mùa
đông thì gió lùa lạnh buốt, còn mùa hè lại nóng nực oi bức. Thế nhưng trong ký
ức của chúng tôi, đó vẫn là một ngôi trường thân thương.
Ngày ấy, điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn. Bàn
ghế cũ kỹ, bảng đen đã mờ màu sơn, sách vở cũng chẳng được đầy đủ như bây giờ.
Nhưng chính từ ngôi trường giản dị ấy mà bao thế hệ học trò đã được học chữ,
được dạy dỗ nên người. Mỗi khi nhớ lại, tôi luôn cảm thấy biết ơn những thầy cô
giáo tận tụy cùng mái trường làng đã góp phần tạo nên hành trang cho cuộc đời
mình.
Ấn tượng sâu đậm nhất còn đọng lại trong tâm trí tôi
không phải là những bài học trên lớp mà là những trò nghịch ngợm vô tư của tuổi
học trò. Mỗi khi tiếng trống báo giờ ra chơi vang lên, cả đám học sinh ùa ra
sân đình như đàn chim được xổ lồng. Đứa thì đuổi bắt quanh sân, đứa chạy ra
cổng đình, đứa tụ tập dưới gốc cây trò chuyện. Có những đứa nghịch hơn lại chạy
ra bờ ao vuông trước đình để ném đất, ném đá xuống nước, thi xem ai ném xa hơn
hoặc làm nước bắn tung tóe hơn.
Nhiều cậu bé còn rủ nhau chạy ra bờ ruộng phía sau
đình để giải quyết “nỗi buồn” một cách hết sức tự nhiên của trẻ con nông thôn
ngày ấy. Những chuyện tưởng chừng bình thường ấy giờ đây nghĩ lại lại trở thành
những ký ức vui vẻ và đáng nhớ.
Trong đám học trò luôn có vài cậu nổi tiếng nghịch
ngợm, thường được gọi là những thằng “đầu gấu” của lớp. Chúng không chỉ nghịch
ngoài sân mà còn dám mon men đến sát khu vực bàn thờ trong đình. Có lần chúng
lén rút những món binh khí trang trí trong bộ bát bửu đặt cạnh bàn thờ. Đứa cầm
thanh đao, đứa cầm cây thương, đứa khác lại vung kiếm giả làm tướng lĩnh ra
trận. Chúng vừa hò hét vừa dứ dứ binh khí vào mặt nhau khiến cả đám đứng xem
cười nghiêng ngả.
May mắn thay, ngôi đình luôn có ông từ trông coi. Mỗi
lần nghe tiếng ồn ào hoặc phát hiện đám trẻ nghịch dại, ông lại tất tả chạy ra
quát tháo. Chỉ cần nghe tiếng ông từ cất lên là cả bọn lập tức bỏ chạy tán
loạn, đứa chui vào lớp, đứa trốn sau cột đình, đứa chạy thẳng ra sân. Nếu không
có sự nghiêm khắc của ông, chẳng ai biết đám trẻ hiếu động ấy còn có thể gây ra
những chuyện gì nữa.
Thời gian đã trôi qua nhiều năm. Ngôi trường làng xưa có thể đã thay đổi, những con đường đất ngày nào có lẽ cũng đã được trải nhựa hoặc đổ bê tông. Nhưng trong ký ức của tôi, hình ảnh con đường nhỏ giữa đồng lúa, ngôi đình cổ kính và những trò nghịch ngợm hồn nhiên của tuổi thơ vẫn luôn hiện lên rõ ràng như mới hôm qua. Đó là một phần ký ức đẹp đẽ, giản dị nhưng vô cùng quý giá của những năm tháng học trò nơi làng quê Vạn Phúc.



Nhận xét
Đăng nhận xét