Khởi nghiệp ở Sơn Tây
Tháng 5 năm 1977, tôi
chính thức lên Nhà máy Z.151 nhận công tác sau khi tốt nghiệp đại học. Đó là
một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời, bởi từ đây tôi thực sự bước vào môi
trường lao động sản xuất với tư cách một kỹ sư trẻ, chấm dứt những năm tháng
học tập, sơ tán và cuộc sống sinh viên nhiều biến động.
Những ngày đầu tiên,
tôi được bố trí ở tạm trong khu nhà khách của nhà máy để chờ hoàn tất các thủ
tục tiếp nhận. Mọi thứ đều còn mới mẻ nhưng không đến mức quá bỡ ngỡ. Điều kiện
ăn ở tuy còn đơn sơ song nhìn chung cũng không khác cuộc sống ở gia đình là
mấy. Hơn nữa, chiến tranh đã kết thúc được hai năm, đất nước bước vào thời kỳ
khôi phục và xây dựng nên đời sống vật chất đã có những cải thiện đáng kể so
với những năm sơ tán gian khổ trước đây.
Điều làm tôi cảm nhận
rõ nhất sự thay đổi ấy là việc có nước máy sử dụng hàng ngày. Nước được bơm từ
sông Hang lên bể chứa rồi dẫn đến các khu tập thể. Chỉ cần mở vòi là có nước
chảy ra, một điều tưởng như bình thường nhưng với những người từng nhiều năm
phải dùng nước giếng, nước ao hay nước suối như chúng tôi thì đó là một tiện
nghi đáng kể. Điện sinh hoạt tuy còn hạn chế, chỉ được cấp từ 19 giờ đến 21 giờ
mỗi tối, nhưng như vậy cũng đã là khá hơn nhiều so với thời chiến. Hai tiếng
đồng hồ có điện đủ để giải quyết các công việc lặt vặt trước khi đi ngủ.
Việc ăn uống được tổ
chức tại bếp tập thể của nhà máy. Ngoài phần lương thực thực phẩm do nhà nước
cung cấp, các đơn vị còn tích cực tăng gia sản xuất nên bữa ăn cũng phong phú
hơn. Sau những năm tháng thiếu thốn triền miên, cảm giác được ăn những bữa cơm
tương đối đầy đủ khiến ai cũng thấy phấn khởi. Cuộc sống tuy chưa thể gọi là
sung túc nhưng ít nhất đã mang lại cảm giác ổn định và yên tâm.
Sau vài ngày làm quen
với môi trường mới, tôi được phân công về Phân xưởng cơ khí, thường gọi là C6,
với nhiệm vụ kỹ thuật viên. Nghe tên chức danh thì có vẻ quan trọng, nhưng thực
tế ban đầu tôi cũng chưa hình dung rõ mình sẽ phải làm những công việc gì. Kiến
thức học trong trường khá nhiều về lý thuyết, còn công việc thực tế trong nhà
máy lại là một lĩnh vực hoàn toàn khác.
Thời gian đầu, công
việc của tôi chủ yếu là quan sát, học hỏi và chờ đợi. Khi có vấn đề kỹ thuật
phát sinh hoặc có nhiệm vụ liên quan đến chuyên môn, tôi sẽ tham gia giải quyết
theo sự phân công của Quản đốc phân xưởng. Nhiều lúc cả buổi chỉ đi quanh
xưởng, xem công nhân vận hành máy móc, ghi chép một vài thông số hoặc tham dự
các cuộc trao đổi kỹ thuật. Dù công việc chưa nhiều nhưng đó là khoảng thời
gian rất cần thiết để tôi làm quen với môi trường sản xuất thực tế.
Trong phân xưởng,
người có ảnh hưởng lớn nhất đến tôi những ngày đầu là anh Phạm Văn Minh. Anh
Minh có vóc dáng người thấp nhỏ nhưng rất rắn chắc, nhanh nhẹn và có tính cách
cởi mở. Anh không phải cán bộ kỹ thuật mà làm công tác kế hoạch của phân xưởng.
Tuy vậy, do phụ trách điều độ sản xuất nên anh nắm rất rõ mọi hoạt động trong
đơn vị. Từ việc bố trí nhân lực, tiến độ công việc cho đến các mối quan hệ công
tác trong xưởng, anh đều hiểu tường tận.
Là một kỹ sư mới ra
trường, lại lần đầu tiên làm việc trong môi trường công nghiệp, tôi gần như bám
theo anh Minh như hình với bóng. Đi đâu, gặp ai, giải quyết việc gì, tôi đều
quan sát và học hỏi từ anh. Anh tận tình chỉ dẫn cho tôi từ những việc tưởng
như nhỏ nhặt nhất, chẳng hạn cách liên hệ với các bộ phận khác, cách trình bày
một báo cáo hay cách ứng xử với công nhân lâu năm trong xưởng.
Anh Minh là người rất
thích trò chuyện. Hầu như lúc nào anh cũng có chuyện để kể. Từ tình hình sản
xuất của nhà máy, chuyện đời sống tập thể, chuyện gia đình cho đến những câu
chuyện trên trời dưới biển, anh đều có thể nói một cách say sưa. Dĩ nhiên, tất
cả chỉ trong phạm vi hiểu biết và trải nghiệm của anh, nhưng đối với tôi khi
ấy, đó lại là nguồn thông tin vô cùng hữu ích giúp nhanh chóng hòa nhập với môi
trường mới.
Một lý do khác khiến
tôi và anh Minh trở nên thân thiết là vì vợ anh đang công tác tại Phân viện
Thiết kế Cơ giới ở Hà Nội. Thật trùng hợp, đó cũng chính là cơ quan mà thời
gian sau này tôi đã xin chuyển về làm việc. Có lẽ nhờ sự gần gũi về hoàn cảnh
nên giữa chúng tôi dễ dàng tìm được tiếng nói chung.
Thời gian ấy, mỗi lần
anh Minh về Hà Nội thăm gia đình, tôi thường chở anh bằng chiếc Honda Dame của
mình. Đó là tài sản quý giá nhất mà tôi có được lúc bấy giờ. Chiếc xe do anh cả
tôi mới từ miền Nam ra giao cho tôi sử dụng. Trong hoàn cảnh phương tiện đi lại
còn rất hiếm, sở hữu một chiếc xe máy là niềm mơ ước của nhiều người. Xe tuy đã
qua sử dụng nhưng còn rất tốt, máy nổ êm, ít hỏng vặt và hình thức vẫn khá đẹp.
Tôi nghe nói giá mua khoảng bốn trăm đồng, một khoản tiền không nhỏ vào thời
điểm đó.
Được một thời gian làm việc ở Nhà máy, tôi dần quen
với nhịp độ sản xuất cũng như môi trường lao động của Phân xưởng. Những ngày
đầu còn bỡ ngỡ đã qua, tôi bắt đầu hiểu hơn về công việc của từng tổ sản xuất,
cách vận hành của các loại máy móc và những khó khăn mà nhà máy đang gặp phải.
Ngoài công việc thường ngày, tôi còn rất hứng thú với việc nghiên cứu các đồ
gá, dụng cụ chuyên dùng và tìm cách cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất
lao động.
Đúng vào thời điểm đó, Nhà máy
đang gặp một vấn đề khá nan giải. Trong quá trình sản xuất xe ô tô, một loại
chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng luôn ở trong tình trạng thiếu hụt. Đó là loại
vít răng tôn dùng để ghép nối các tấm thép ở phần vỏ xe. Nhìn bề ngoài, chiếc
vít này chẳng có gì đặc biệt. Nó gần giống như loại vít gỗ thông thường mà
người ta vẫn sử dụng trong nghề mộc. Tuy nhiên, để chế tạo được nó lại không hề
đơn giản.
Điểm khó nhất nằm ở phần ren vít. Các vòng ren phải
chạy sát đến tận chân tán vít. Điều đó khiến việc gia công gặp rất nhiều trở
ngại. Nhà máy đã từng thử chế tạo bằng phương pháp tiện ren trên máy tiện vạn
năng nhưng năng suất rất thấp. Chỉ những người thợ có tay nghề cao mới dám thực
hiện công việc này. Ngay cả với họ, đây vẫn là một thao tác tiềm ẩn nhiều căng
thẳng.
Khi tiện ren sát tới đầu tán, dao cắt rất dễ va vào
mâm cặp. Chỉ cần một chút sơ suất là dao gãy hoặc xảy ra tai nạn lao động. Vì
vậy, mỗi ca sản xuất chỉ làm được vài sản phẩm. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng
lại vô cùng lớn. Một chiếc xe cần đến hàng chục, thậm chí hàng trăm chiếc vít
loại này. Có những thời điểm vật tư khan hiếm, nhà máy chỉ mua được một lượng
nhỏ từ bên ngoài. Chúng được ưu tiên sử dụng cho các công đoạn cấp bách nhất,
nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất.
Trước tôi, nhiều người đã trăn trở tìm cách giải quyết
bài toán đó. Tôi nhớ trong Phân xưởng có anh Phó Quản đốc tên Thịnh. Anh là
người Nghệ An. Anh không chỉ là một cán bộ kỹ thuật giỏi mà còn là người có
tính cách rất đáng quý. Anh sống phóng khoáng, chân thành và luôn nhiệt tình
giúp đỡ anh em công nhân. Về sau, anh chuyển về Nhà máy Z.167 để thuận tiện cho
việc đoàn tụ gia đình.
Anh Thịnh đã từng bỏ nhiều công sức nghiên cứu phương
án chế tạo vít răng tôn. Trong góc Phân xưởng lúc ấy vẫn còn một vài giá máy và
mấy cặp quả cán mà anh dùng để thử nghiệm. Chúng như những chứng tích của những
lần tìm tòi chưa thành công. Mỗi lần đi ngang qua, tôi đều tò mò dừng lại quan
sát.
Được sự động viên của anh Minh cùng một số thợ lành
nghề trong Phân xưởng như anh Thịnh “cá vàng” thợ phay người Nam Định, anh
Ngạch thợ tiện, bác Tởn thợ rèn và nhiều người khác, tôi quyết định thử sức
mình. Tôi bắt đầu nghiên cứu lại toàn bộ quy trình gia công và suy nghĩ xem có
thể tận dụng những thiết bị sẵn có để tạo ra một phương pháp mới hay không.
Sau nhiều ngày quan sát và tính toán, tôi nảy ra ý
tưởng chế tạo một đồ gá đặc biệt lắp trên máy tiện. Mục tiêu là sử dụng chuyển
động quay của phôi kết hợp với dao phay đĩa để tạo ren thay vì cắt ren theo
cách truyền thống.
Ý tưởng nghe có vẻ đơn giản, nhưng để biến nó thành
hiện thực lại không dễ. Tôi phải tự vẽ thiết kế, tính toán kích thước từng chi
tiết, lựa chọn vật liệu chế tạo và tìm phương án gia công phù hợp. Sau giờ làm
việc, tôi thường ở lại Phân xưởng để nghiên cứu thêm.
Chỉ khoảng một tuần sau khi bắt tay vào thực hiện, bộ
đồ gá đầu tiên đã được hoàn thành. Tôi bắt đầu bước vào giai đoạn thử nghiệm.
Các phôi vít được tổ tiện chuẩn bị sẵn. Phần rãnh trên
đầu tán vít đã được thợ nguội cắt trước. Tôi trực tiếp đứng máy để thực hiện
những mẻ gia công đầu tiên.
Nguyên lý làm việc của bộ đồ gá khá đơn giản nhưng
hiệu quả. Dao phay đĩa được mài theo đúng profin
của ren vít và quay với tốc độ khoảng 300 vòng mỗi phút. Bộ đồ gá được lắp trên
xe dao của máy tiện. Một đầu dùng để định vị phần nhọn của vít, phía sau có lò
xo nén. Đầu còn lại giữ phần tán vít bằng một miếng thép ăn khớp vào rãnh trên
đầu vít.
Khi thao tác, người công nhân dùng tay phải đưa phôi
vào gá. Đầu nhọn của vít được đặt vào phía bên phải. Sau đó xoay cơ cấu bên
trái để kẹp chặt phôi. Khi quay tay quay của đồ gá, phôi sẽ dịch chuyển theo
đúng bước ren đã được tính toán trước.
Lúc dao phay tiếp xúc với phôi, người thợ chỉ cần điều
khiển xe dao tiến vào. Dao phay sẽ cắt ren từ đầu nhọn lên sát chân tán. Trong
suốt quá trình đó, lò xo nén giúp giữ chặt phôi, hạn chế rung động và bảo đảm
độ chính xác.
Những sản phẩm đầu tiên ra lò khiến tôi vừa hồi hộp
vừa lo lắng. Chúng tôi kiểm tra từng chiếc một, đo đạc kích thước và quan sát
chất lượng ren. Kết quả ban đầu khá khả quan.
Ngay trong ngày hôm đó, tôi gia
công được vài chục chiếc vít và cho nhập kho. Những ngày tiếp theo, các sản
phẩm được đưa vào sử dụng thực tế trên dây chuyền lắp ráp.
Cả Phân xưởng đều chờ đợi phản hồi từ các bộ phận sử
dụng. Cuối cùng tin vui cũng đến. Các vít được đánh giá đạt yêu cầu kỹ thuật và
có thể sử dụng bình thường. Điều đó khiến tôi thở phào nhẹ nhõm sau nhiều ngày
căng thẳng.
Không lâu sau, cán bộ Phòng Kỹ thuật Nhà máy xuống tận
nơi kiểm tra. Họ xem xét thiết bị, theo dõi quá trình sản xuất và đánh giá chất
lượng sản phẩm. Sau khi kiểm nghiệm, Nhà máy quyết định cho phép áp dụng phương
pháp này vào sản xuất. Tuy nhiên, đây chỉ là một giải pháp mang tính tình thế
nhằm khắc phục tình trạng thiếu vật tư. Vì vậy, sản lượng không được mở rộng
quá lớn. Mỗi ca sản xuất chỉ làm vài chục chiếc để đáp ứng nhu cầu trước mắt.
Dù vậy, đối với tôi, đó vẫn là một thành công đáng
nhớ. Lần đầu tiên một ý tưởng kỹ thuật do chính mình thiết kế và thực hiện được Nhà máy công nhận. Thành quả ấy không
chỉ giúp giải quyết một khó khăn cụ thể trong sản xuất mà còn đem lại cho
tôi niềm tin vào khả năng sáng tạo của bản thân.
Sau đó, Nhà máy xét thưởng cho sáng kiến này. Tôi được
nhận mức thưởng cao nhất lúc bấy giờ là 70 đồng. Với người lao động hiện nay,
số tiền ấy có thể không lớn. Nhưng vào thời điểm đó, đó là một khoản tiền rất
đáng kể. Khi ấy lương của tôi mới chỉ được hưởng 85% mức lương khởi điểm của kỹ
sư, 53 đồng mỗi tháng.
Nhận được khoản thưởng lớn hơn cả tiền lương tháng,
tôi vui không tả nổi. Anh em trong Phân xưởng cũng mừng lây. Thế là chúng tôi
quyết định tổ chức một bữa liên hoan nho nhỏ, hay như cách gọi thời đó là “ăn
tươi”.
Nói là liên hoan nhưng thực ra rất giản dị. Chúng tôi
ra chợ Sơn Tây mua ít rau sống, vài quả cà chua, một ít mỡ lợn, thêm chút mắm
muối và vài thứ lặt vặt khác. Mọi người quây quần bên nhau, vừa ăn vừa chuyện
trò rôm rả. Không khí vui vẻ ấy đến nay tôi vẫn còn nhớ như in.
Sau thành công đầu tiên, tôi càng
có thêm động lực nghiên cứu cải tiến kỹ thuật. Những năm tiếp theo, tôi còn
thực hiện thêm một số sáng kiến khác như đồ gá khoan chia độ lỗ trên guốc
phanh, các loại khuôn rèn và một số dụng cụ chuyên dùng phục vụ sản xuất.
Ngoài giờ làm việc trong nhà máy, cuộc sống của chúng
tôi khá đơn điệu. Công việc mỗi ngày diễn ra đều đặn, hết ca làm lại về khu tập
thể nghỉ ngơi, quanh quẩn chẳng biết làm gì cho hết thời gian. Sau này, nhà máy
tổ chức phong trào tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống. Chúng tôi tham gia
trồng sắn, trồng rau, chăm sóc luống cây quanh khu vực nhà máy. Những công việc
ấy vừa giúp cải thiện bữa ăn, vừa tạo thêm không khí sinh hoạt tập thể. Tuy
vậy, với những thanh niên còn nhiều nhiệt huyết và ham học hỏi như chúng tôi, cuộc
sống ấy vẫn có phần tẻ nhạt.
Chủ nhật nào được nghỉ, tôi cũng
tìm cách về Hà Nội. Thành phố khi ấy vẫn là nơi chứa đựng biết bao kỷ niệm tuổi
trẻ, nơi có gia đình, bạn bè và những điều mới mẻ hấp dẫn hơn nhiều so với cuộc
sống khép kín trong nhà máy. Một thời gian sau, anh cả tôi gợi ý nên đi học
thêm tiếng Anh vào buổi tối. Đó là một ý tưởng rất hay. Thời ấy, việc học ngoại
ngữ không phổ biến như bây giờ. Tài liệu ít, lớp học không nhiều, nhưng những
người trẻ vẫn luôn tin rằng biết thêm một ngoại ngữ sẽ mở ra nhiều cơ hội trong
tương lai.
Lớp học được tổ chức tại Trường Tiểu học Trần Quốc
Toản, nằm cuối phố Nhà Chung, gần vườn hoa Nhà Chung. Hàng tuần, lớp học vào
tối thứ Tư và tối Chủ nhật. Giáo viên là một ông giáo già ngoài bảy mươi tuổi.
Dáng người gầy, mái tóc bạc trắng, giọng nói chậm rãi nhưng rất truyền cảm. Ông
không chỉ dạy ngoại ngữ mà còn truyền cho học viên niềm say mê học tập và sự
kiên trì vượt khó. Trong lớp có đủ thành phần, nhưng phần đông là thanh niên.
Nam giới chiếm đa số nên mỗi khi có một vài nữ học viên xuất hiện, họ thường
nhận được sự chú ý đặc biệt của cả lớp. Đó cũng là những nét rất tự nhiên của
tuổi trẻ.
Để tham gia lớp học, tôi phải đi từ nhà máy về Hà Nội
trên chiếc xe máy cũ. Con đường quen thuộc nhất là Quốc lộ 32. Ngày nay, tuyến
đường ấy đã được mở rộng và nâng cấp nhiều lần, nhưng thời đó đường sá còn nhỏ
hẹp, nhiều ổ gà và vô số đoạn quanh co. Khó đi nhất là khu vực Phùng. Khi ấy
chưa có cầu và hệ thống giao thông thuận lợi như bây giờ, muốn qua sông Đáy
phải vòng qua đập tràn cách đó vài cây số. Mỗi chuyến đi đều mất khá nhiều thời
gian, nhất là vào mùa mưa. Thế nhưng tuần nào tôi cũng cố gắng về Hà Nội để
tham gia lớp học. Tuổi trẻ có lẽ là như vậy, chỉ cần có mục tiêu thì mọi khó
khăn đều trở nên nhỏ bé.
Suốt một thời gian dài đi lại như thế, may mắn là tôi không gặp sự cố nào đáng kể. Chỉ có một lần duy nhất xảy ra tai nạn mà đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ.
Hôm ấy là một ngày Chủ nhật. Buổi
sáng, đơn vị tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa. Sau khi hoàn thành công việc,
tôi lên xe trở về Hà Nội như thường lệ. Lúc khởi hành, trời nắng chang chang.
Thế nhưng đi được một quãng thì mây đen kéo đến rất nhanh rồi đổ mưa. Mưa mùa
hè đến bất ngờ, làm mặt đường vốn đã xấu lại càng trở nên trơn trượt.
Tôi đang thả dốc khá thoải mái thì chợt phát hiện phía
trước là một đoạn đường vừa được đổ nhựa mới. Mặt đường đen bóng, loang loáng
nước vì cơn mưa vừa đi qua. Khoảng cách quá gần khiến tôi không kịp xử lý. Theo
phản xạ, tôi bóp phanh gấp. Chiếc xe lập tức mất ổn định rồi trượt vào vùng
nhựa đường chưa khô.
Trong khoảnh khắc đó, tôi vội chống chân xuống đất để
giữ thăng bằng. Nhưng do quán tính quá mạnh, chiếc xe bất ngờ quay ngoắt gần
một vòng. Cái bô nóng rực bên hông xe quệt mạnh vào cổ chân trái. Mọi việc diễn
ra chỉ trong vài giây. Khi xe dừng lại, tôi chỉ nghĩ đơn giản là mình vừa thoát
được một cú ngã khá nguy hiểm. Thấy xe vẫn đi được nên tôi dắt qua đoạn đường
trơn rồi tiếp tục hành trình mà không hề để ý đến vết thương.
Đi thêm một quãng đến gần Phúc Thọ, tôi nhìn thấy một
bờ mương nước trong vắt bên đường. Tôi dừng xe để rửa ráy chân tay vì cảm
thấy ngứa ngáy khó chịu. Khi vừa té nước vào cổ chân trái, một cảm giác rát
buốt khiến tôi giật mình. Nhìn xuống, tôi mới phát hiện bên má cổ chân có một
vết bỏng lớn trắng bệch, rộng gần bằng miệng bát ăn cơm. Lúc ấy tôi mới hiểu
rằng cái bô xe máy đã gây ra vết thương từ lúc nãy.
Những ngày sau đó, vết bỏng không những không lành mà
còn bị nhiễm trùng. Tôi phải thường xuyên xuống phòng y tế để thay băng và điều
trị. Việc đi lại trở nên khó khăn, nhất là mỗi khi phải làm việc hoặc di chuyển
đường dài. Vết thương kéo dài nhiều tuần mới khỏi hẳn. Tuy không để lại hậu quả
nghiêm trọng, nhưng đó là một bài học nhớ đời về sự chủ quan và những nguy hiểm
có thể xảy ra trên đường.
Một trong những kỷ niệm khó quên nhất của tôi trong
những năm đầu công tác tại Sơn Tây là quãng thời gian từ cuối năm 1977 đến đầu
năm 1978. Đó là giai đoạn đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh chưa lâu, hậu
quả của nhiều năm bom đạn vẫn còn nặng nề, kinh tế vô cùng khó khăn. Hầu như
mọi thứ đều thiếu thốn, từ vật tư sản xuất đến nhu yếu phẩm phục vụ đời sống.
Nhưng điều mà mỗi người cảm nhận rõ rệt nhất chính là cái thiếu trong bữa ăn
hàng ngày.
Những ai không sống trong thời kỳ ấy có lẽ khó hình
dung được sự kham khổ của cuộc sống lúc bấy giờ. Khi mới về Sơn Tây, khẩu phần
ăn của chúng tôi tuy đã đạm bạc nhưng vẫn còn có cơm gạo độn thêm bột mì, ngô,
khoai hoặc sắn khô. Mỗi người đều hiểu rằng đất nước còn nghèo nên chuyện ăn
độn là điều bình thường. Thế nhưng càng về sau, nguồn lương thực càng trở nên
eo hẹp. Những thứ từng được coi là lương thực phụ cũng dần trở nên khan hiếm.
Rồi đến một ngày, hạt bo bo xuất hiện trong bữa ăn của
chúng tôi. Bo bo là một loại ngũ cốc được viện trợ từ Liên Xô. Hạt có hình dạng
giống lúa mì nhưng cứng hơn nhiều. Nếu nấu theo cách nấu cơm thông thường thì
rất khó chín, ăn vừa cứng vừa dai, nhai mãi không nát. Thế nhưng trong hoàn
cảnh ấy, bo bo đã trở thành lương thực chính của rất nhiều cơ quan, nhà máy và
đơn vị quân đội trên cả nước.
Ban đầu bo bo chỉ xuất hiện xen kẽ với cơm. Sau đó tỷ
lệ bo bo tăng dần. Cuối cùng, trong nhiều bữa ăn liên tiếp, chúng tôi gần như
ăn bo bo hoàn toàn. Nhiều người nói vui rằng mình ăn bo bo còn nhiều hơn ăn
gạo. Nhưng đằng sau câu nói vui ấy là cả một thực tế không dễ chịu chút nào.
Thực phẩm dùng kèm với bo bo cũng ngày một nghèo nàn.
Lúc đầu còn có rau xanh, đậu phụ hoặc đôi khi thêm chút cá khô, tép khô. Nhưng
rồi nguồn cung cấp thực phẩm ngày càng thiếu. Bữa cơm dần chỉ còn rau là chính.
Ngay cả rau xanh cũng không phải lúc nào cũng có đủ.
Có một món ăn rất phổ biến trong thời gian đó mà đến
nay tôi vẫn nhớ như in. Đó là su hào muối. Những củ su hào được gọt sạch vỏ,
ngâm trong nước muối pha với xì dầu cho ngấm. Khi ăn, nhà bếp thái thành từng
lát mỏng, xếp lên đĩa như những khoanh giò lụa. Tuy nhiên màu sắc của chúng
không hề hấp dẫn mà ngược lại, thâm sẫm và xỉn màu. Mỗi lần nhìn đĩa su hào
muối đặt giữa mâm cơm, ai cũng hiểu đó là món ăn chủ lực của ngày hôm ấy.
Thế rồi đến cả su hào muối cũng trở nên hiếm hoi.
Thực đơn tiếp tục được giản lược đến mức tối đa. Có
thời gian, món ăn gần như duy nhất là mắm tôm chưng với bột mì. Mắm tôm được
pha loãng rồi trộn với bột, đun lên thành một hỗn hợp sền sệt. Khi đổ ra đĩa,
hơi nóng bốc nghi ngút. Nếu người nấu khéo tay, đống bột còn nổi thành hình
chóp giữa đĩa. Đám công nhân trẻ chúng tôi nhìn nhau cười mà chẳng ai nói thành
lời. Trong những câu chuyện đùa thời ấy, món ăn ấy thường được ví với những
hình ảnh rất đời thường để quên đi cảm giác ngán ngẩm. Dẫu vậy, đó vẫn là thức
ăn giúp chúng tôi cầm cự qua những tháng ngày gian khó.
Nhiều tuần lễ liên tiếp sống trong cảnh thiếu thốn như
vậy, Nhà máy phát động phong trào tăng gia sản xuất nhằm cải thiện đời sống.
Tất cả cán bộ, công nhân đều hưởng ứng rất nhiệt tình. Sau giờ làm việc, mọi
người lại cầm cuốc xẻng ra các khu đất trống để trồng rau. Xung quanh dãy nhà
tập thể chúng tôi ở, đất đai được khai phá phục vụ cho “công cuộc cấy cày”. Đầu
hồi dãy nhà có một khoảnh đất trống mà chiều chiều tôi tham gia cùng mọi người
trồng rau.
Loại rau được trồng nhiều nhất là
rau cải. Hạt giống dễ kiếm, cây mọc nhanh, ít công chăm sóc và cho thu hoạch
sớm. Những luống cải xanh mướt dần xuất hiện quanh khu tập thể, mang lại niềm
vui không nhỏ cho mọi người. Mỗi lần thu hoạch, chúng tôi bó rau mang xuống nhà
bếp cân để tính điểm thi đua và bổ sung thực phẩm cho bữa ăn tập thể.
Không chỉ trồng rau, chúng tôi còn tận dụng những bãi
đất hoang xung quanh để trồng sắn. Hom sắn được đi xin từ người dân địa phương.
Ai có được đoạn hom nào tốt đều nâng niu như một tài sản quý. Những luống sắn
xanh lên từng ngày khiến mọi người có thêm hy vọng về những bữa ăn đỡ thiếu
thốn hơn trong tương lai.
Đầu năm 1978, tôi cùng một số cán bộ và công nhân được
lựa chọn tham gia một đợt bồi dưỡng tăng cường. Chúng tôi được ăn tại một nhà ăn
khác với khẩu phần khá hơn bình thường. Chỉ trong khoảng một tuần lễ, trên mâm
cơm đã có thêm thịt, cá và nhiều món ăn phong phú hơn.
Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy để lại trong tôi cảm xúc
rất đặc biệt. Sau nhiều tháng sống trong cảnh thiếu ăn, chỉ cần một bữa cơm có
thêm chút thức ăn cũng khiến con người cảm thấy khỏe khoắn hẳn lên. Khi ấy tôi
mới thấm thía rằng giá trị của miếng ăn không nằm ở sự ngon dở mà ở chỗ nó giúp
con người có sức khỏe, có niềm tin và có nghị lực để tiếp tục vượt qua khó
khăn.
Thời gian trôi rất nhanh. Chẳng
mấy chốc tôi đã có gần một năm công tác tại Sơn Tây.
Tuy nhiên, bên cạnh những khó
khăn về đời sống vật chất, trong tôi bắt đầu xuất hiện những trăn trở về tương
lai nghề nghiệp. Khi quyết định chuyển sang công tác trong ngành quốc phòng,
tôi từng hình dung mình sẽ sớm trở thành quân nhân, được khoác lên mình bộ quân
phục và gắn bó lâu dài với môi trường quân đội. Nhưng thực tế lại khác.
Theo quy định lúc bấy giờ, các nhà máy quốc phòng chủ
yếu sử dụng biên chế công nhân viên quốc phòng. Chỉ một số chức danh lãnh đạo
như Giám đốc, Phó Giám đốc hay Trưởng phòng mới mang cấp bậc sĩ quan. Những
người trẻ như tôi gần như không nhìn thấy con đường phát triển rõ ràng phía
trước.
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn,
tương lai nghề nghiệp lại mờ mịt, tôi bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về việc thay
đổi công tác. Sau nhiều ngày trăn trở, tôi quyết định viết đơn đề nghị được
chuyển sang một đơn vị khác để có cơ hội trở thành quân nhân thực thụ.
Người tôi tìm gặp là ông Hoàng Lương, Trưởng phòng Cán
bộ của Tổng cục Kỹ thuật. Mang lá đơn đến tận nhà riêng của ông, tôi cũng khá
hồi hộp. Bình thường tôi vốn là người ít nói và có phần nhút nhát. Nhưng một
khi đã suy nghĩ kỹ và quyết tâm thực hiện điều gì đó thì tôi lại khá cương
quyết.
Lá đơn rất ngắn gọn. Tôi không phàn nàn về khó khăn
đời sống, cũng không nói đến chuyện thiếu ăn hay điều kiện làm việc. Tôi chỉ
trình bày một nguyện vọng duy nhất: được trở thành quân nhân và có cơ hội phấn
đấu trở thành sĩ quan.
Không ngờ mọi việc diễn ra thuận lợi hơn tôi tưởng.
Chỉ khoảng một tháng sau, quyết định điều chuyển công tác đã được ban hành.
Ngày nhận quyết định, Giám đốc Nhà máy gọi tôi lên
gặp. Ông nhìn tôi với vẻ mặt không được vui lắm rồi hỏi:
– Cậu xin chuyển công tác à?
Tôi bình thản trả lời:
– Không ạ. Tôi chỉ xin được nhập ngũ và trở thành sĩ
quan thôi.
Đó là cách trả lời có phần vòng vo, nhưng thực chất
cũng là sự thừa nhận rằng tôi đã lựa chọn một con đường khác cho tương lai của mình.
Rời Sơn Tây, tôi mang theo rất nhiều kỷ niệm. Có những ký ức về những bữa cơm
bo bo, về những luống rau cải xanh non, về những tháng ngày thiếu thốn nhưng
đầy tình đồng đội. Và cũng chính từ nơi ấy, một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời
tôi đã bắt đầu.


Nhận xét
Đăng nhận xét