Năm học cuối cùng
Tháng 8 năm 1968, sau gần hai năm học tập và sinh hoạt
trên đất Trung Quốc, chúng tôi được trở về nước. Đó là một trong những thời
điểm đáng nhớ nhất của quãng đời học sinh quân đội. Mặc dù cuộc sống ở Quế Lâm
đã trở nên quen thuộc, dù đã có biết bao kỷ niệm với bạn bè, thầy cô và những
người dân nơi đó, nhưng cảm giác được trở về Tổ quốc vẫn mang lại một niềm vui
đặc biệt.
Tôi còn nhớ rất rõ tâm trạng của mình trong những ngày
đầu đặt chân trở lại Việt Nam. Mọi cảnh vật đều thân thuộc. Tiếng nói quê
hương, những con đường đất mộc mạc, những hàng tre xanh ven làng, tất cả đều
gợi lên cảm giác ấm áp mà suốt thời gian ở xa tôi luôn mang theo trong nỗi nhớ.
Chúng tôi được về thăm gia đình ít ngày. Những ngày
ngắn ngủi ấy trôi qua rất nhanh. Chưa kịp tận hưởng hết niềm vui đoàn tụ thì
lại đến lúc quay trở lại trường.
Theo lệnh của nhà trường, chúng tôi tập trung tại doanh
trại một đơn vị công binh ở gần bến phà Trung Hà, mà nay là Trường Sơ cấp Kỹ
thuật Công binh. Sau một thời gian ngắn, toàn trường tiếp tục di chuyển đến địa
điểm mới ở Hưng Hóa.
Trong vô số những kỷ niệm của chuyến chuyển quân ấy,
điều tôi nhớ nhất lại là một sự cố bất ngờ xảy ra ngay trước lúc xuất phát.
Hôm đó, chúng tôi được bố trí lên những chiếc xe khách
Hải Âu để hành quân. Đối với học sinh thời ấy, được ngồi trên những chiếc xe
như vậy đã là một niềm thích thú. Cả bọn nhanh chóng ổn định chỗ ngồi, háo hức
chờ xe chuyển bánh.
Chiếc xe của chúng tôi đỗ trên một khoảng sân hơi dốc.
Đầu xe hướng về phía cổng doanh trại. Lúc ấy, chú lái xe đi đâu đó chưa quay
lại. Ban đầu chẳng ai để ý. Cho đến khi một bạn ngồi gần cửa sổ bỗng kêu lên:
– Xe đang chạy!
Mọi người giật mình nhìn ra ngoài. Quả thật chiếc xe
đang từ từ trôi xuống dốc. Không có tiếng động cơ. Không có người lái. Chỉ có
chiếc xe nặng nề lặng lẽ lăn bánh về phía cổng.
Cái gọi là cổng doanh trại thực chất chỉ gồm hai trụ
gạch lớn. Nếu xe lao thẳng vào đó - ở cuối dốc thì hậu quả sẽ rất khó lường.
Trong khoảnh khắc ấy, cả xe như chết lặng. Những đứa
trẻ mười ba, mười bốn tuổi chưa ai biết phải xử lý thế nào.
Nhưng đúng lúc đó, một bóng người bất ngờ lao lên phía
cabin. Bạn ấy nhảy vào chỗ lái xe, chụp lấy cần phanh tay rồi giật mạnh. Chiếc
xe rung lên một cái rồi dừng hẳn. Cả xe im phăng phắc vài giây. Sau đó là những
tiếng thở phào nhẹ nhõm.
Người hùng của chúng tôi hôm ấy là bạn Trần Thành Công.
Từ đó trở đi, mỗi khi nhắc lại chuyện này, ai cũng dành cho Công một sự nể phục
đặc biệt. Trong tình huống bất ngờ như vậy, sự bình tĩnh và quyết đoán của bạn
đã giúp tránh được một tai nạn nghiêm trọng.
Địa điểm mới của trường nằm trong doanh trại của một
trung đoàn công binh đã đi làm nhiệm vụ chiến đấu ở nơi khác.
Có lẽ vì được xây dựng cho bộ đội chính quy nên cơ sở
vật chất ở đây tốt hơn hẳn những nơi chúng tôi từng ở trước đó.
Từ cổng doanh trại đi vào là một khoảng sân rộng mênh
mông, gần bằng sân bóng đá. Những buổi chiều, sân thường trở thành nơi tập thể
dục, đá bóng hoặc tổ chức các hoạt động tập thể.
Đi hết sân là khu Hiệu bộ. Sau đó đến hai dãy nhà
chính dành cho học sinh.
Cuối dãy nhà có một tòa nhà hai tầng mà đến bây giờ
tôi không còn nhớ rõ dùng để làm gì. Có thể là kho hoặc khu làm việc của đơn vị
trước đây.
Phía sau nữa là nhà ăn. Đó là một dãy nhà dài chạy
ngang hết chiều rộng doanh trại. Bên cạnh nhà ăn có một chiếc giếng nước rất
đặc biệt. Nước trong giếng quanh năm mát lạnh và chưa bao giờ cạn. Ngay cả vào
mùa khô, khi những giếng khác bắt đầu thiếu nước thì chiếc giếng ấy vẫn đầy ắp.
Bởi vậy, học sinh chúng tôi rất thích tụ tập ở đây.
Những buổi chiều nóng nực, cả bọn kéo nhau ra giếng
tắm giặt, cười nói ầm ĩ. Nhiều hôm ngay cả khi giếng gần khu nhà ở vẫn còn
nước, chúng tôi vẫn thích ra giếng nhà ăn vì nước mát hơn.
Khu nhà ở của học sinh là hai dãy nhà hai tầng khá
khang trang. Mỗi dãy đều có cầu thang ở hai đầu hồi. Chúng tôi ngủ trên tầng
hai và học tập ở tầng dưới. Giường ngủ rất đơn giản. Mỗi chiếc chỉ gồm một tấm
phản gỗ kê trên hai chân mễ. Không đệm, không chiếu dày, nhưng vẫn đủ để có
những giấc ngủ ngon sau một ngày học tập và hoạt động.
Lớp học cũng mang đậm dấu ấn của doanh trại công binh.
Bàn và ghế được làm từ những thanh dầm cầu phao bằng gỗ thông. Mỗi thanh dài
chạy gần hết chiều ngang lớp. Một thanh dùng làm bàn. Một thanh khác làm ghế. Tất
cả đều chắc chắn, mộc mạc và rất phù hợp với môi trường quân đội.
So với những năm tháng liên tục di chuyển từ Trại Hòe,
Đại Từ rồi Quế Lâm, cuộc sống ở Hưng Hóa có thể xem là ổn định nhất. Chúng tôi
không còn phải ở nhờ nhà dân. Không còn sống giữa rừng sâu. Cũng không phải
thích nghi với môi trường hoàn toàn xa lạ như ở nước ngoài. Mọi sinh hoạt dần
đi vào nền nếp.
Đây cũng là năm học cuối cùng của chúng tôi tại Trường
Văn hóa Quân đội. Ngoài chương trình văn hóa, nhà trường bắt đầu tăng cường các
nội dung quân sự. Chúng tôi được học sử dụng vũ khí quân dụng. Được tập điều
lệnh. Được học võ thuật và nhiều kỹ năng của người lính. Những giờ học ấy luôn
tạo cảm giác háo hức. Đứa nào cũng muốn tỏ ra mạnh mẽ và thành thạo như những
chiến sĩ thực thụ.
Nhiều buổi chiều, cả sân trường vang lên tiếng hô khẩu
lệnh, tiếng bước chân đều tăm tắp và tiếng cười đùa của tuổi học trò. Bên cạnh
những giờ học quân sự, phong trào văn nghệ của trường cũng rất sôi nổi. Đó là
thời gian thầy Hồng Tuyến dạy nhạc. Thầy là người rất yêu âm nhạc và luôn
truyền được cảm hứng cho học sinh. Trong thời gian này, thầy sáng tác bài hát
"Sinh ra trong khói lửa", sau này được nhiều thế hệ học sinh biết đến
như một "trường ca" của nhà trường.
Mỗi lần chuẩn bị cho các dịp kỷ niệm hoặc lễ lớn, các
đội văn nghệ lại tập luyện rất công phu. Sân trường buổi tối vang lên tiếng
đàn, tiếng hát và những tiếng cười vui vẻ. Tôi cũng tham gia đội văn nghệ. Nhiệm
vụ chủ yếu là hát trong tốp ca. Do chất giọng không thật nổi bật nên tôi thường
được phân công hát bè. Thời ấy, được đứng trên sân khấu biểu diễn trước toàn
trường là niềm tự hào lớn. Chúng tôi tập rất chăm chỉ. Có những bài hát thuộc
nằm lòng đến mức nhiều chục năm sau vẫn còn nhớ.
Điều thú vị là sau này cuộc sống đưa đẩy mỗi người một
ngả. Giọng hát ngày xưa cũng dần mai một theo thời gian. Có lần trong một buổi
gặp mặt bạn bè và đồng đội, mọi người rủ nhau đi hát karaoke. Bạn Đăng Sơn bất
ngờ giới thiệu:
– Ngày xưa bạn này hát hay lắm đấy!
Cả bàn tiệc nhìn tôi với vẻ chờ đợi. Nhưng rồi họ chỉ
thấy tôi... hát bằng tay. Tức là ngồi vỗ nhịp, chỉ huy và cổ vũ người khác hát.
Lũ bạn cũ cười nghiêng ngả. Còn tôi thì chợt nhận ra rằng những năm tháng tuổi
trẻ đã lùi xa đến thế nào.
Những năm cuối cùng ở Hưng Hóa là quãng thời gian cuộc
sống của chúng tôi tương đối ổn định. Có lẽ chính vì thế mà sinh hoạt của học
sinh cũng phong phú hơn. Ngoài học tập, lao động và rèn luyện quân sự, phong
trào thể thao của trường phát triển khá mạnh.
Môn thể thao được yêu thích nhất dĩ nhiên là bóng đá.
Hồi ấy, trường chúng tôi có hẳn một đội bóng tương đối
mạnh. Mỗi khi có dịp, đội lại được tổ chức thi đấu giao hữu với các đơn vị bộ
đội hoặc cơ quan đóng quân quanh khu vực Hưng Hóa. Đối với học sinh, đó là
những ngày hội thực sự.
Mỗi lần có trận đấu là từ sáng sớm đã thấy không khí
khác thường. Sân bãi được dọn dẹp. Người xem tụ tập đông đủ. Những cổ động viên
bất đắc dĩ như chúng tôi háo hức chẳng khác gì đang chuẩn bị xem một trận chung
kết thế giới.
Bây giờ tôi không còn nhớ chính xác kết quả của các
trận đấu năm ấy. Thắng hay thua đều đã nhạt nhòa theo thời gian. Nhưng có một
trận đấu thì tôi vẫn nhớ rất rõ. Không phải vì những bàn thắng. Mà vì... trận
đánh nhau.
Hôm ấy đội trường gặp một đội
bóng của đơn vị nào đó gần khu vực đóng quân. Trận đấu diễn ra rất quyết liệt. Trong
đội hình của trường có Đức Dũng. Sau này, Đức Dũng trở thành cầu thủ của đội
Công an Hà Nội, nhưng ngay từ hồi học sinh, bạn đã nổi tiếng đá bóng rất hay. Không
những thế, Đức Dũng còn được tiếng là giỏi võ. Mà cái tài võ thuật ấy lại
thường được vận dụng rất khéo léo trên sân cỏ. Những cú va chạm của bạn thường
kín đáo đến mức trọng tài khó phát hiện. Đối phương thì tức. Khán giả thì
khoái.
Còn chúng tôi, đám học sinh đứng ngoài sân, luôn xem
đó là những pha xử lý đầy nghệ thuật. Trong trận đấu hôm ấy, sau một tình huống
tranh bóng quyết liệt, cầu thủ bên kia không giữ được bình tĩnh. Có lẽ vì bị ức
chế quá lâu nên anh ta bất ngờ tung cú đấm về phía cầu thủ đội trường. Khác với
những "đòn nghề" kín đáo của Đức Dũng, cú đấm ấy quá lộ liễu.
Khán giả lập tức phản ứng. Tiếng la ó vang lên khắp
sân. Trọng tài chạy tới can thiệp. Các cầu thủ hai bên cũng ùa lại. May mắn là
mọi chuyện được ngăn chặn kịp thời. Không xảy ra một cuộc hỗn chiến thực sự.
Nhưng đối với đám học trò chúng tôi, chỉ từng ấy thôi
cũng đủ để bàn tán suốt nhiều ngày. Những trận bóng đá như thế làm cuộc sống
trong doanh trại trở nên sôi động hơn rất nhiều. Tuy nhiên, điều khiến tôi nhớ
nhất về thời gian ở Hưng Hóa lại không nằm trên sân bóng.
Mà là ở ngoài cổng trường. Doanh trại của chúng tôi
nằm ngay sát thị trấn Hưng Hóa. Chỉ cần bước qua cổng là đã thấy phố huyện hiện
ra trước mắt. So với những nơi sơ tán trước đây, đó là một điều rất đặc biệt. Mỗi
lần được phép ra ngoài, tôi đều tranh thủ đi dạo quanh thị trấn. Hưng Hóa khi
ấy vẫn là một phố huyện nhỏ. Đường sá đơn sơ. Nhà cửa thưa thớt. Người qua lại
không nhiều. Nói thật, nếu xét về cảnh quan hay vui chơi thì chẳng có gì đặc
sắc.
Nhưng đối với những học sinh nội trú lâu ngày như
chúng tôi, chỉ cần được tự do đi bộ ngoài phố cũng đã là một niềm vui. Việc đầu
tiên tôi thường làm là tìm hàng quà. Món khoái khẩu nhất là chuối. Chuối ở vùng
này ngon một cách đặc biệt. Quả nhỏ nhưng thơm. Ăn xong vẫn còn vị ngọt đọng
lại nơi đầu lưỡi. Nếu trong túi có nhiều tiền hơn một chút, tôi lại mua thêm
một hai quả trứng luộc. Đó là những món quà xa xỉ đối với học sinh thời ấy.
Sau khi ăn uống xong, tôi thường
ghé vào cửa hàng bách hóa nằm sát hàng rào trường. Thoạt nhìn thì giống như đi
xem hàng hóa. Nhưng thực ra hàng hóa chỉ là cái cớ. Điều hấp dẫn hơn nhiều lại
là cô bán hàng. Hồi đó trong trường lan truyền một tin tức rất được quan tâm. Nghe
nói thầy Núi – một giáo viên của trường – sắp cưới cô mậu dịch viên làm việc
tại cửa hàng này. Đối với lũ học trò mới lớn, đây là đề tài vô cùng thú vị.
Nhưng kỷ niệm lớn nhất trong thời gian ở Hưng Hóa lại
xảy ra vào mùa hè năm 1969. Năm ấy, cha tôi từ chiến trường ra Hà Nội họp. Sau
đó vì nhiều lý do mà ở lại thêm một thời gian, đúng vào giai đoạn cả nước đang
đau buồn trước sự ra đi của Bác Hồ. Nhân dịp ấy, tôi được về thăm gia đình gần
một tuần lễ. Đó là khoảng thời gian vô cùng quý giá. Được ở bên cha mẹ. Được
sống trong không khí gia đình. Được tự do đi lại. Tất cả đều khiến tôi cảm thấy
sung sướng. Chính vì thế mà khi quay trở lại trường, tôi vẫn chưa muốn xa nhà.
Ý nghĩ trở về Hà Nội cứ quanh quẩn trong đầu. Rồi cuối
cùng, tôi quyết định thực hiện một kế hoạch táo bạo. Tẩu thoát. Một buổi sáng,
tôi lén ra khỏi doanh trại từ rất sớm. Gần đó có một người anh họ đang công
tác. Tôi mượn được chiếc xe đạp của anh. Thế là lên đường.
Từ Hưng Hóa về Hà Nội hơn bảy
mươi cây số. Ngày nay quãng đường ấy có thể chỉ mất hơn một giờ ô tô. Nhưng
thời ấy, với một cậu học sinh đạp xe trên những con đường đất, đó là cả một
cuộc hành trình. Thế mà tôi chẳng thấy mệt. Có lẽ vì động lực quá lớn.
Càng gần Hà Nội, tôi càng đạp nhanh hơn. Đến khoảng
giữa trưa thì về tới nơi. Cha tôi lúc đó đang ở Nhà khách số 7 Nguyễn Cảnh
Chân. Khi nhìn thấy tôi xuất hiện, mọi người đều ngạc nhiên. Nhưng tôi đã chuẩn
bị sẵn các câu trả lời. Tôi tỉnh bơ giải thích rằng nhà trường cho nghỉ phép về
thăm cha từ chiến trường ra. Nghe cũng có lý. Thế là chẳng ai nghi ngờ.
Những ngày đầu thật tuyệt vời. Tôi tận hưởng cảm giác
tự do như một người vừa trốn khỏi doanh trại thành công. Nhưng niềm vui không
kéo dài lâu. Càng ở, tôi càng lo. Lỡ nhà trường phát hiện thì sao? Lỡ các thầy
cử người đi tìm thì sao? Lỡ mọi chuyện vỡ lở thì sao?
Những câu hỏi ấy khiến tôi ăn không ngon, ngủ không
yên. Cuối cùng, sau vài ngày cân nhắc, tôi quyết định tự giác quay lại trường. Và
tất nhiên, phương tiện vẫn là chiếc xe đạp cũ. Hơn bảy mươi cây số lần thứ hai.
Lần này không còn hào hứng như lúc đi. Nhưng trong lòng lại nhẹ nhõm hơn. Khi
về đến trường, mọi chuyện diễn ra đúng như tôi dự đoán. Nhà trường đã biết. Tôi
bị kiểm điểm và nhận hình thức kỷ luật cảnh cáo. Đó là một bài học đáng nhớ. Nhưng
nếu hỏi có hối hận không, tôi nghĩ chắc là không hoàn toàn.
Sống tập thể nhiều năm trời trong một môi trường quân
đội, với hàng trăm học sinh cùng ăn, cùng ở, cùng học tập và sinh hoạt, việc
xảy ra những va chạm là điều khó tránh khỏi. Chúng tôi khi ấy đều đang ở tuổi
mới lớn, tính cách mỗi người một khác, lại mang theo những thói quen sinh hoạt
từ nhiều vùng miền khác nhau. Vì thế, bên cạnh tình bạn gắn bó, những trận cãi
vã hay giận dỗi cũng thường xuyên xuất hiện.
Đa số những chuyện ấy đều rất đơn giản. Có khi chỉ là
tranh nhau chỗ ngồi. Có khi là mâu thuẫn trong một trận bóng đá. Có khi chỉ vì
một câu nói vô tình làm mất lòng nhau. Thông thường, sau vài ngày là mọi chuyện
lại đâu vào đấy. Hôm trước còn giận dỗi, hôm sau đã lại cùng nhau ra sân đá
bóng hoặc kéo nhau xuống giếng tắm.
Nhưng tuổi trẻ đôi khi cũng bốc đồng. Có những chuyện
lúc xảy ra tưởng rất nghiêm trọng, nhưng sau này nhớ lại lại thấy vừa buồn cười
vừa trẻ con. Bản thân tôi vốn không phải người thích va chạm. Thậm chí nếu nhìn
lại cả quãng đời công tác sau này, tôi luôn tự nhận mình là người quá thận
trọng, nhiều lúc đến mức e dè. Trong các cuộc họp, tôi thường nhường người khác
phát biểu trước. Khi giải quyết công việc cũng hay cân nhắc để tránh làm mất
lòng ai. Nói một cách thành thật, tính cách ấy một phần bắt nguồn từ sự mặc cảm
và thiếu tự tin từ thuở nhỏ.
Vậy mà trong những năm ở Hưng Hóa, tôi cũng từng tham
gia một trận đánh nhau thực sự. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ rất rõ chuyện
ấy, mặc dù nguyên nhân thì gần như không còn nhớ nữa. Có lẽ nó chỉ xuất phát từ
một mâu thuẫn rất nhỏ. Một câu nói. Một sự hiểu lầm. Hoặc một chuyện gì đó
tương tự. Tôi chỉ nhớ rằng hai bên lời qua tiếng lại. Rồi bất ngờ lao vào nhau.
Trận đánh diễn ra rất nhanh. Có lẽ chỉ vài chục giây. Chưa kịp phân định thắng
thua thì những người xung quanh đã lao vào can ngăn. Sau đó, ai về chỗ nấy. Không
ai bị thương nghiêm trọng. Không có hậu quả gì lớn. Nhưng điều kỳ lạ là hơn nửa
thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn nhớ cảm giác bối rối của mình lúc ấy. Có lẽ bởi đó
là lần hiếm hoi tôi hành động theo cảm xúc thay vì cố gắng nhẫn nhịn như thường
lệ.
Tuổi học trò là như vậy.
Có những chuyện rất nhỏ nhưng lại in đậm trong ký ức
hơn cả những sự kiện lớn lao. Cũng trong năm học cuối cùng ấy, tôi trải qua một
dấu mốc quan trọng khác. Đó là được đứng trong hàng ngũ Đoàn Thanh niên Lao
động Việt Nam.
Đối với thanh thiếu niên thời đó, được kết nạp Đoàn là
niềm vinh dự rất lớn. Chúng tôi xem đó như một bước trưởng thành. Một sự ghi
nhận đối với quá trình học tập, rèn luyện và phấn đấu của bản thân.
Tôi còn nhớ ngày ngồi viết lá đơn xin vào Đoàn. Viết
rất cẩn thận. Nắn nót từng dòng chữ. Suy nghĩ rất lâu về từng câu. Tưởng như
thế là hoàn chỉnh. Nhưng khi nộp lên, anh Kim Hồ – Bí thư Đoàn của lớp – xem
qua rồi trả lại. Anh hướng dẫn tôi phải viết lại theo đúng mẫu quy định. Tôi
cầm lá đơn trở về với chút thất vọng. Nhưng đồng thời cũng hiểu rằng mọi việc
đều phải theo tổ chức, theo nguyên tắc. Thế là lại ngồi viết lại từ đầu. Lần
này cẩn thận hơn. Chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ. Sau nhiều bước xét duyệt, cuối
cùng tôi cũng được kết nạp.
Ngày nhận quyết định, tôi cảm thấy vô cùng tự hào. Không
phải vì được nhận thêm quyền lợi gì. Mà bởi cảm giác mình đã thực sự bước thêm
một bước trên con đường trưởng thành. Điều thú vị là những buổi sinh hoạt Đoàn
thời ấy lại mang màu sắc rất đặc biệt.
Bây giờ nhắc lại, tôi thường đùa với bạn bè rằng chẳng
khác gì những tổ chức hoạt động bí mật trong thời kháng chiến. Nội dung họp
hành cụ thể ra sao thì tôi không còn nhớ rõ. Nhưng có một điều chắc chắn là các
buổi sinh hoạt thường xuyên bị quấy phá. Đang họp trong lớp thì bên ngoài bỗng
vang lên tiếng động mạnh. Rồi gạch đá từ đâu bay tới đập vào tường, vào cửa sổ.
Có khi tiếng ném kéo dài vài lần. Người trong phòng vẫn tiếp tục họp. Người bên
ngoài vẫn tiếp tục "khủng bố". Sau này nghĩ lại, đó chỉ là những trò
nghịch ngợm của học sinh. Nhưng vào thời điểm ấy, những buổi sinh hoạt Đoàn
luôn có một không khí rất riêng. Chúng góp phần làm cho quãng đời học sinh trở
nên phong phú và đáng nhớ hơn.
Rồi thời gian cũng trôi qua. Năm học cuối cùng dần đi
đến hồi kết. Mùa hè năm 1970, chúng tôi hoàn thành chương trình lớp 9 theo hệ
phổ thông mười năm khi đó. Đồng thời, một tin tức lớn được công bố. Trường Văn
hóa Quân đội giải thể. Thông báo ấy khiến tất cả học sinh đều lặng đi. Đối với
nhiều người, ngôi trường này không đơn thuần là nơi học tập. Nó là cả tuổi thơ.
Là nơi chúng tôi lớn lên. Là nơi chứng kiến biết bao lần chuyển quân, sơ tán,
những năm tháng sống giữa chiến tranh, từ Trại Hòe, Đại Từ, Quế Lâm cho đến
Hưng Hóa.
Năm năm. Một quãng thời gian rất dài đối với tuổi thơ.
Ngày chia tay, ai cũng cố tỏ ra bình thản. Nhưng trong lòng đều mang theo những
cảm xúc khó diễn tả. Bạn bè rồi sẽ mỗi người một nơi. Mọi người sẽ chuyển sang các
trường khác nhau, các địa phương khác nhau. Sau đó nữa, cuộc đời lại đưa mỗi
người đi theo những hướng riêng. Có những người tôi còn gặp lại. Có những người
từ đó không bao giờ gặp nữa.
Nhưng điều khiến tôi xúc động nhất lại là lúc phải
chia tay các thầy cô. Những người đã đồng hành với chúng tôi trong suốt quãng
đường trưởng thành. Đó không chỉ là những người dạy chữ. Họ còn là những người
cha, người anh trong hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh. Họ chăm sóc chúng tôi
từ bữa ăn, giấc ngủ đến từng bài học.
Trong rất nhiều thầy cô, người để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất là thầy Tiệp. Những tiết học toán sinh động ở Đại Từ vẫn còn hiện lên rõ ràng trong ký ức. Từ cách thầy vẽ hình tròn bằng tay đến những câu chuyện về Napoleon ở cuối giờ học. Tất cả đều khiến việc học trở nên hấp dẫn.
Rồi thầy Ninh. Người chủ nhiệm nghiêm khắc nhưng đầy
bao dung. Người đã từng ngồi chờ chúng tôi trước cửa nhà sau vụ trộm chè đậu
xanh năm nào. Chỉ một câu nói nhẹ nhàng của thầy hôm ấy cũng đủ làm chúng tôi
day dứt suốt nhiều năm. Sau này, khi đã ra công tác, tôi còn có dịp gặp lại thầy tại
Nhà máy Z176 thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Mỗi lần gặp, những ký ức cũ lại ùa về như mới hôm qua.
Tôi cũng luôn nhớ đến thầy Tô Ngọc Cừ dạy môn Lịch sử.
Hồi ở Quế Lâm, chính thầy đã dẫn tôi và bạn Tuấn Quảng đi chụp những tấm ảnh kỷ
niệm. Ngày ấy, việc chụp ảnh không hề đơn giản như bây giờ. Mỗi tấm ảnh đều rất
quý. Điều khiến tôi xúc động là cho đến tận hôm nay, sau hơn nửa thế kỷ, tôi
vẫn còn giữ được những bức ảnh ấy. Mỗi lần mở album cũ, nhìn những gương mặt
non trẻ năm nào, tôi lại thấy hiện lên cả một thời tuổi trẻ.
Một thời đã qua rất xa nhưng chưa bao giờ phai nhạt.
Trường Văn hóa Quân đội đã hoàn thành sứ mệnh của mình
và khép lại vào mùa hè năm 1970. Nhưng đối với chúng tôi, những học sinh từng
lớn lên dưới mái trường ấy, những năm tháng đó sẽ mãi là phần ký ức đẹp nhất
của tuổi niên thiếu, nơi đã dạy chúng tôi học tập, trưởng thành, biết yêu
thương bạn bè và biết trân trọng những người thầy đã tận tụy dìu dắt mình trong
những năm tháng chiến tranh gian khó.



Nhận xét
Đăng nhận xét