Ngôi nhà tuổi thơ
Từ khi mới lên ba
tuổi, tôi được đón về sống cùng Bố và các anh chị trong khu gia đình của Quân
khu Hữu Ngạn ở thành phố Nam Định. Đó là những năm tháng đầu tiên tôi có ký ức
khá rõ ràng về nơi ở của mình, về những con phố, hàng cây, những căn nhà và cả
những con người xung quanh. Mỗi lần nhớ lại tuổi thơ, hình ảnh hiện lên đầu
tiên trong tôi chính là khu tập thể ấy – một nơi vừa trang nghiêm, yên tĩnh,
vừa mang vẻ đẹp riêng của một thành phố công nghiệp lâu đời.
Nói là khu tập thể
nhưng thực ra nơi đó không giống những khu tập thể đông đúc mà người ta thường
hình dung. Đó là một khuôn viên khá rộng nằm trên phố Hoàng Hoa Thám, gồm ba
tòa biệt thự lớn được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Khu vực này vốn thuộc khu
phố dành cho các ông chủ và quản lý người Pháp của Nhà máy Dệt Nam Định nên từ
kiến trúc đến cảnh quan đều mang dáng dấp của một khu dân cư kiểu châu Âu. Thời
điểm đó, đây được coi là một trong những vị trí đẹp nhất thành phố. Những con
đường rộng rãi, nhiều cây xanh, các ngôi biệt thự được xây dựng kiên cố và có
khoảng sân thoáng đãng xung quanh.
Phố Hoàng Hoa Thám
chạy qua khu gia đình là một con phố đẹp. Hai bên đường có nhiều cây cơm nguội
cổ thụ với những tán lá rộng, tỏa bóng mát quanh năm. Mỗi khi hè đến, ánh nắng
xuyên qua kẽ lá tạo thành những đốm sáng lung linh trên mặt đường. Với một đứa
trẻ, đó là khung cảnh rất đỗi thân thuộc. Tôi vẫn nhớ cảm giác đứng dưới gốc
cây nhìn lên những cành lá cao vút, nghe tiếng chim ríu rít và tiếng gió xào
xạc trên đầu.
Đi từ ngã ba Hoàng
Hoa Thám – Trần Phú theo phía hè phố nơi khu gia đình tọa lạc, đầu tiên là một
ngôi chùa cổ. Ngôi chùa ấy đến nay vẫn còn tồn tại. Cổng chùa quay về phía phố
Trần Phú và mang tên chùa Vọng Cung. Khi còn nhỏ, tôi chưa hiểu nhiều về lịch
sử hay giá trị văn hóa của ngôi chùa, nhưng hình ảnh mái ngói rêu phong, tiếng
chuông chùa ngân vang trong những buổi chiều yên tĩnh đã in sâu trong ký ức. Kế
bên chùa là Nhà hát Nhân dân, một công trình khá nổi bật của thành phố thời bấy
giờ. Đi thêm một đoạn mới đến khu gia đình của Quân khu.
Trong ba ngôi biệt
thự của khu tập thể, ngôi nhà nằm ở góc phố Hoàng Hoa Thám – Trần Quốc Toản là
ngôi nhà đẹp nhất. Vì vậy, đây được bố trí làm nơi ở của Chính ủy và Tư lệnh
Quân khu, được gọi đơn giản là nhà số 1. Gia đình tôi may mắn được ở tại tầng
hai của ngôi biệt thự này.
Nhà tôi gồm có Bố,
chị Tâm, anh Thắng và tôi. Không gian trên tầng hai được chia thành nhiều
phòng. Có phòng ngủ riêng, có phòng làm việc của Bố, có phòng sinh hoạt chung và
cũng là phòng ăn. Chính tại căn phòng sinh hoạt chung ấy tôi thường ngủ mỗi
đêm. Khi đó tôi còn nhỏ nên không quan tâm nhiều đến chuyện nhà cửa rộng hay
hẹp. Điều khiến tôi thích thú nhất lại là phòng vệ sinh. Đó là một căn phòng
rất rộng rãi theo tiêu chuẩn thời bấy giờ. Trong phòng có đầy đủ bồn tắm, vòi
hoa sen, chậu rửa mặt và nhiều thiết bị mà không phải gia đình nào cũng có. Ấn
tượng nhất là chiếc bình đun nước nóng bằng điện hình trụ được treo ở một góc
phòng. Những năm đó, ngay cả ở thành phố, việc có nước nóng dùng thường xuyên
cũng là điều khá đặc biệt. Mỗi khi nhìn thấy hơi nước bốc lên từ vòi sen, tôi
đều cảm thấy vô cùng thích thú.
Ở tầng dưới là nơi ở
của ông Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Quân khu. Khi ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu hết vị
trí và vai trò của ông, nhưng tôi biết đó là một người rất quan trọng. Không
gian tầng một khác hẳn với phần nhà gia đình tôi ở phía trên. Đó là một căn
phòng rất rộng, vốn là phòng khách chính của ngôi biệt thự. Căn phòng kéo dài
gần như suốt chiều dài tòa nhà.
Bên
trong không xây tường ngăn mà chỉ có hai hàng cột lớn chia không gian thành ba
phần. Từ ngoài vào là khu tiếp khách, tiếp đến là nơi làm việc và cuối cùng là
khu nghỉ ngơi. Mọi thứ được sắp xếp rất ngăn nắp, trang trọng. Ông Vương Thừa
Vũ thường ở đây một mình. Thỉnh thoảng bà Vũ mới từ qua nhà xuống ở cùng vài
ngày rồi lại đi.
Tôi cũng có đôi lần
được theo người lớn vào bên trong. Tuy nhiên, ký ức còn lại không nhiều. Điều
tôi nhớ nhất là cảm giác căn phòng giống như một phòng trưng bày hơn là nơi ở.
Mọi thứ đều sạch sẽ, gọn gàng và có phần nghiêm trang khiến một đứa trẻ như tôi
không dám chạy nhảy hay nghịch ngợm. Có những vật dụng được bày biện cẩn thận nhưng nay tôi không còn nhớ rõ đó là những
gì. Phía sau còn có một căn phòng nhỏ là nơi ở và làm việc của chú Phong, người
thư ký luôn bận rộn với công việc giấy tờ.
Một đặc điểm khác
khiến ngôi biệt thự trở nên đặc biệt là tầng hầm nằm phía dưới. Đây là kiểu
tầng hầm nửa nổi, nửa chìm, được xây bằng đá hộc rất chắc chắn. Dọc theo các
bức tường có nhiều lỗ thông hơi được che bằng lưới mắt cáo. Đối với tôi lúc ấy,
tầng hầm là một nơi đầy bí ẩn. Tôi chưa bao giờ dám tự mình xuống đó khám phá.
Những khoảng tối và sự im lặng của tầng hầm luôn khiến tôi vừa tò mò vừa e
ngại. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết chính xác bên trong tầng hầm dùng để
làm gì. Có thể đó là nơi chứa đồ, cũng có thể là không gian kỹ thuật phục vụ
cho ngôi nhà. Sau này nghĩ lại, tôi cho rằng những người thiết kế đã rất hiểu
khí hậu miền Bắc. Tầng hầm với hệ thống thông gió và kết cấu đặc biệt có lẽ
giúp chống lại sự ẩm thấp của những ngày nồm, bảo vệ cho công trình luôn khô
ráo và bền vững.
Cầu thang và sàn nhà trong khu biệt thự
đều được lát bằng gỗ. Những tấm ván đã lên nước theo thời gian, bước chân đi
trên đó thường phát ra tiếng kẽo kẹt rất rõ, nhất là vào những giờ yên tĩnh
trong ngày. Vì vậy mà tôi thường xuyên bị ông Vũ nhắc nhở phải đi nhẹ, nói khẽ,
không được chạy nhảy gây ồn ào. Lúc nào gặp tôi ông cũng căn dặn như thế. Mỗi
lần nghe nhắc, tôi đều lễ phép “vâng ạ”, “dạ ạ”, tỏ vẻ rất nghiêm túc. Thế
nhưng chỉ được một lúc là lại quên mất. Bản tính trẻ con vốn hiếu động, hễ có
bạn bè rủ rê là chạy nhảy khắp nơi. Bởi vậy, thành ra cứ mỗi lần trông thấy tôi
là ông Vũ lại nhắc nhở. Câu chuyện ấy lặp đi lặp lại đến mức nhiều năm sau nhớ
lại tôi vẫn thấy vừa buồn cười vừa thân thương.
Ngôi biệt thự nằm ở giữa khu tập thể là nơi làm việc
của cơ quan Quân khu cùng đội bảo vệ. Đó là một ngôi nhà khá bề thế, mang dáng
dấp kiến trúc Pháp với những bức tường dày, cửa sổ cao và sân thượng rộng trên
tầng 2. Bên cạnh ngôi nhà ấy có một cây trứng cá cổ thụ rất lớn. Đối với lũ trẻ
chúng tôi, cây trứng cá ấy giống như một người bạn thân thiết. Mỗi mùa quả
chín, những chùm quả đỏ mọng lấp ló sau lớp lá xanh, nhìn thôi cũng đủ thấy
thèm. Tôi thường đứng dưới gốc cây, ngửa cổ lên trời chờ những quả chín rụng
xuống. Có khi chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua là vài quả rơi lộp bộp xuống
đất. Chúng tôi nhanh tay nhặt lấy, phủi sơ rồi bỏ ngay vào miệng. Vị ngọt thanh
và thơm mát của những quả trứng cá chín vẫn còn đọng lại trong ký ức tuổi thơ
của tôi cho đến tận ngày nay.
Ngôi biệt thự nằm sát tường Nhà hát Nhân dân được gọi
là nhà số 3. Đây là nơi ở của gia đình một số cán bộ cao cấp trong Quân khu như
ông Vũ Đức Thái, người sau này trở thành Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 3; ông
Triệu; ông Trần Nguyên Phi, người sau này được cha tôi đưa ra công tác tại Văn
phòng Bộ Văn hóa; cùng ông Long và một số gia đình khác. Ngoài những người lớn,
nơi đây còn có cả một “thế giới trẻ con” vô cùng náo nhiệt. Chúng tôi tụ tập
chơi đùa từ sáng đến tối, cùng nhau chia sẻ biết bao kỷ niệm mà đến bây giờ
nghĩ lại vẫn thấy sống động như mới hôm qua.
Ngôi nhà số 3 có một sân thượng khá rộng. Chính khoảng
sân thượng ấy đã trở thành nơi gắn liền với nhiều ký ức đẹp của tuổi thơ tôi.
Đặc biệt hơn, ngôi biệt thự lại tiếp giáp trực tiếp với Nhà hát Nhân dân của
thành phố Nam Định. Nhà hát ngày ấy không hoàn toàn giống những nhà hát hiện
đại bây giờ. Khu sân khấu được xây dựng có mái che, còn phía ngoài là những
hàng ghế bằng xi măng được đắp theo dạng bậc thang. Sau khu ghế ngồi là một bãi
đất dốc, cỏ mọc xanh rì. Cuối bãi đất ấy, sát đường Hoàng Hoa Thám, có một cây
đa cổ thụ tỏa bóng mát quanh năm.
Mỗi khi Nhà hát Nhân dân có buổi biểu diễn, sân thượng
nhà số 3 lại trở thành khán đài đặc biệt của chúng tôi. Không cần mua vé, chẳng
phải chen chúc giữa đám đông, chỉ cần mang vài chiếc ghế lên sân thượng là có
thể ngồi xem gần như toàn bộ chương trình. Những đứa trẻ chúng tôi coi đó là
niềm vui lớn. Có hôm là chương trình ca nhạc, có hôm là biểu diễn kịch nói, cải
lương hoặc các tiết mục văn nghệ quần chúng. Thỉnh thoảng còn có những trận đấu
quyền Anh được tổ chức ngay tại sân khấu ngoài trời. Đối với một đứa trẻ, tất
cả đều vô cùng hấp dẫn.
Trong số những buổi biểu diễn mà
tôi từng xem, có lẽ đáng nhớ nhất là lần đoàn văn công Quân đội Trung Quốc sang
biểu diễn. Hôm ấy sân khấu đông nghịt khán giả. Từ trên sân thượng nhìn xuống,
tôi thấy ánh đèn sáng rực cả một vùng. Đoàn nghệ thuật mang đến nhiều tiết mục
tạp kỹ đặc sắc. Tuy nhiên, điều khiến tôi ấn tượng nhất là màn khẩu thuật của
một nghệ sĩ nam. Ông có thể bắt chước tiếng chó sủa, tiếng mèo kêu, tiếng chim
hót, tiếng chuột chí chách và vô số âm thanh khác giống hệt như thật. Đặc biệt
hơn nữa là tiếng tàu hỏa chạy mà ông thể hiện. Từ tiếng còi tàu vang lên từ xa,
tiếng bánh sắt lăn trên đường ray mỗi lúc một gần, rồi âm thanh đoàn tàu vụt
qua trước mặt, tất cả đều được tái hiện chỉ bằng giọng nói. Đối với một cậu bé
ngày ấy, đó thực sự là điều kỳ diệu.
Những năm tháng ấy rồi cũng qua đi. Chiến tranh đã để
lại những dấu ấn nặng nề trên thành phố Nam Định. Khu biệt thự nơi gia đình tôi
từng sinh sống cùng Nhà hát Nhân dân năm xưa cuối cùng cũng không tránh khỏi số
phận bị tàn phá. Những công trình từng là niềm tự hào của thành phố dần biến
mất. Nơi từng vang lên tiếng cười trẻ nhỏ, tiếng nhạc, tiếng hát và những buổi
biểu diễn đông vui đã bị chiến tranh san phẳng.
Năm 2006, sau nhiều thập kỷ xa cách, tôi có dịp trở
lại khu vực này. Khi đi ngang qua, tôi quyết định rẽ vào các phố Hoàng Hoa Thám
và Trần Đăng Ninh để tìm lại những dấu tích của tuổi thơ. Nhưng trước mắt tôi
là một khung cảnh hoàn toàn khác. Nơi từng có ba ngôi biệt thự kiểu Pháp sang
trọng nay đã trở thành một khu dân cư đông đúc. Những ngôi nhà nhỏ chen chúc
nhau mọc lên, kiến trúc không đồng nhất, xây dựng theo nhu cầu của từng gia đình. Tôi đoán phần lớn cư dân ở đây là những
người lao động bình thường. Khung cảnh mới không tồi tệ, nhưng hoàn toàn xa lạ
với ký ức trong tôi.
Tôi đứng khá lâu ở khu vực ấy, cố gắng hình dung lại
vị trí của từng ngôi nhà biệt thự, từng hàng cây, từng khu vườn hoa và những
lối đi quen thuộc. Nhưng tất cả dường như đã bị thời gian xóa nhòa. Không còn
cây trứng cá cổ thụ, không còn sân thượng nhà số 3, cũng không còn nhà hát nơi
chúng tôi từng say mê theo dõi những buổi biểu diễn. Mọi thứ chỉ còn tồn tại
trong ký ức.
Đến mùa hè năm 2020, một lần nữa
tôi trở lại nơi này. Lần ấy tôi quyết định đi bộ thật chậm để cảm nhận rõ hơn
những đổi thay của ký ức. Tôi đi từ đường Trần Phú, qua cổng chùa Vọng Cung,
rồi men theo đường Hoàng Hoa Thám và đoạn Trần Đăng Ninh kéo dài đến khu vực
trường Trần Quốc Toản. Con đường ngày xưa tôi từng thuộc từng gốc cây, từng góc
phố giờ đã đổi khác hoàn toàn. Những ngôi nhà mới, những cửa hàng, những dòng
người qua lại khiến khung cảnh trở nên sôi động hơn rất nhiều. Thành phố đã
phát triển, hiện đại hơn, nhưng đồng thời cũng làm cho những dấu tích cũ dần
biến mất.
Tôi cố tìm kiếm một điều gì đó quen thuộc để kết nối
với những năm tháng tuổi thơ xa xôi. Và rồi tôi nhận ra vẫn còn một chứng nhân
của thời gian tồn tại. Đó là chiếc lô cốt thời Pháp nằm ở góc đường Hoàng Hoa
Thám và Trần Quốc Toản, ngay gần cổng vào khu Giao tế ngày trước. Trải qua bao
biến động lịch sử, bao lần thay đổi của đô thị, chiếc lô cốt ấy vẫn còn đứng đó
như một cây đèn biển lặng lẽ canh giữ ký ức. Khu vực xung quanh nay đã trở
thành Bảo tàng Dệt May Việt Nam, nhưng riêng công trình ấy vẫn gợi cho tôi nhớ
về một thời đã xa.



Nhận xét
Đăng nhận xét