Những ngày ở Quế Lâm
Đầu năm 1967, sau một thời gian học tập và sinh hoạt dưới
chân núi Tam Đảo ở Đại Từ, chúng tôi được về Hà Nội nghỉ ít ngày nhân dịp Tết
Nguyên đán. Đó là những ngày ngắn ngủi nhưng vô cùng quý giá đối với những đứa
trẻ sống xa gia đình quanh năm như chúng tôi. Được trở về nhà, được ngồi bên
mẹ, gặp lại các em và hưởng chút không khí Tết giữa lòng Hà Nội đang trong thời
chiến là niềm vui khó diễn tả thành lời.
Rồi những ngày vui ấy cũng nhanh chóng qua đi.
Sau kỳ nghỉ Tết, chúng tôi được lệnh tập trung tại một
trường học gần ga Hàng Cỏ. Khi ấy, không ai biết chính xác mình sẽ đi đâu. Chỉ
nghe các thầy nói rằng chuyến đi sẽ rất xa và thời gian xa nhà sẽ kéo dài.
Chính điều đó khiến tâm trạng của tôi trở nên đặc biệt khác thường.
Buổi chiều hôm ấy, mẹ đưa tôi đến điểm tập trung ở một ngôi trường trên phố Sinh Từ. Cũng
như bao lần trước, mẹ tất bật dặn dò đủ thứ rồi lại phải vội vã quay về với công
việc của mình. Những năm chiến tranh, người lớn ai cũng bận rộn với công việc
và trọng trách. Tôi hiểu điều đó, nhưng khi nhìn theo bóng mẹ khuất dần ngoài
cổng trường, trong lòng vẫn dâng lên một nỗi buồn khó tả.
Tối hôm đó, chúng tôi đi bộ ra ga Hàng Cỏ và lên tàu. Đó
là một đoàn tàu hỏa chạy về phía Bắc. Những toa tàu tối om vì phải che chắn ánh
sáng phòng máy bay địch. Bọn trẻ chúng tôi ngồi sát bên nhau, người nọ tựa vào
người kia. Ban đầu còn ríu rít trò chuyện, nhưng càng về khuya càng trở nên
trầm lắng.
Con tàu từ từ lăn bánh. Qua cửa sổ tối mờ, tôi nhìn
thấy những ánh đèn hiếm hoi của Hà Nội lùi dần phía sau. Tàu đi qua gác chắn
đường sắt phố Nguyễn Thái Học, rồi Điện Biên Phủ, Trần Phú. Ở nhiều điểm giao
cắt, tôi nhìn thấy những người mẹ, người cha vẫn đứng lại bên đường ray sau khi
tiễn con lên tàu. Có người giơ tay vẫy mãi. Có người đứng lặng nhìn theo. Có
người đưa khăn lên lau nước mắt. Khung cảnh ấy làm tôi xúc động vô cùng.
Tôi nghĩ đến mẹ mình. Nghĩ đến các em. Nghĩ đến ngôi
nhà nhỏ ở Hà Nội. Càng nghĩ, nước mắt càng trào ra lúc nào không biết. Đó có lẽ
là lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận rõ ràng đến thế sự chia xa.
Con tàu chạy suốt đêm. Đến sáng hôm sau, chúng tôi làm
thủ tục chuyển sang tàu hỏa của Trung Quốc. Đối
với những đứa trẻ lần đầu tiên ra nước ngoài, mọi thứ đều mới lạ.
Ngay khi bước lên toa tàu, chúng tôi đã ngạc nhiên. Trong
toa có giường nằm thực sự. Mỗi chỗ nằm đều có đệm mềm, ga trải giường trắng
tinh và sạch sẽ. Mùi vải mới thơm dịu khiến ai cũng thích thú. So với những
chuyến tàu trong nước mà chúng tôi từng đi, đây quả là một thế giới khác. Không
chỉ vậy, mỗi người còn được phát một túi nhỏ có vài quả táo. Đó là những quả
táo nhỏ nhắn, không lớn như các loại táo bây giờ. Nhưng khi cắn vào, vị ngọt
lan tỏa trong miệng cùng mùi thơm rất đặc biệt. Đến tận hôm nay, sau khi đã có
dịp ăn nhiều loại táo nổi tiếng của Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu, tôi vẫn nhớ mãi
hương vị của những quả táo đầu tiên trên chuyến tàu năm ấy. Có lẽ vì đó không
chỉ là vị ngọt của trái cây. Nó còn là vị ngọt của tuổi thơ, của sự háo hức
trước một vùng đất mới mà chúng tôi sắp đặt chân tới.
Tàu tiếp tục chạy suốt ngày đêm. Qua cửa sổ là những
vùng quê xa lạ, những cánh đồng rộng lớn, những dãy núi trập trùng. Cảnh vật
thay đổi liên tục khiến chúng tôi không biết chán. Đến sáng hôm sau nữa, đoàn
tàu mới tới Quế Lâm.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về Quế Lâm là sự thân thiện.
Ngay tại ga, các cán bộ và học sinh Trung Quốc đã có mặt để đón chúng tôi. Họ
cười nói niềm nở, giúp mang hành lý và hướng dẫn rất tận tình. Nhiều năm sau
này, khi có dịp đi nhiều nơi trên thế giới, tôi vẫn nhớ đến cách đón tiếp nồng
hậu ấy. Người Trung Quốc rất giỏi trong việc tạo cảm giác gần gũi cho khách.
Chúng tôi nhanh chóng được đưa về nơi ở mới. Đó là Trường
Trung học số 1 Quế Lâm, mà chúng tôi quen gọi là trường Y Trung. Ngôi trường
nằm không xa dòng Ly Giang nổi tiếng.
Lúc đó tôi chưa hiểu hết vẻ đẹp của con sông này. Chỉ
thấy dòng nước xanh lặng lẽ chảy giữa những dãy núi đá vôi đặc trưng của vùng
Quế Lâm. Khung cảnh ấy đẹp như tranh vẽ.
Ngôi trường mang dáng dấp rất cổ kính. Các dãy nhà đều
chỉ cao một tầng, xây bằng gạch, lợp mái ngói màu xám sẫm. Những mái ngói xếp
lớp đều tăm tắp, mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Nhìn từ
xa, trường học giống như một khu dân cư lâu đời hơn là một cơ sở giáo dục hiện
đại. Các dãy nhà được bố trí ngay ngắn dọc theo những con đường lát đá. Cây cối
trong sân trường được chăm sóc cẩn thận. Mọi thứ đều gọn gàng, sạch sẽ và trật
tự.
Lớp chúng tôi được bố trí ở một dãy nhà chạy dọc theo
con đường chính dẫn từ cổng vào. Con đường ấy đi ngang qua nhà ăn rồi kéo dài
đến khu Hiệu bộ. Nhà Hiệu bộ là một ngôi nhà hai tầng nhỏ nhắn nằm gần sân vận
động. Đối với chúng tôi, đó là trung tâm của toàn bộ khu trường. Ngay bên cạnh
nhà Hiệu bộ có một cái ao. Và trên mặt ao là một công trình khiến chúng tôi vô
cùng tò mò. Đó là nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh được dựng nhô ra phía trên mặt nước,
theo kiểu mà ở Việt Nam thường gọi là "cầu tõm". Ban đầu, nhiều đứa
còn ngại không dám sử dụng. Nhưng rồi cũng phải làm quen. Sau vài lần trải
nghiệm, chúng tôi nhanh chóng truyền cho nhau những "kinh nghiệm quý
báu". Quan trọng nhất là phải nhanh chóng đứng dậy sau khi hoàn thành
nhiệm vụ. Nếu chậm một chút, nước dưới ao có thể bắn ngược lên khiến người sử
dụng phải lãnh đủ hậu quả. Những câu chuyện ấy thường trở thành đề tài cười đùa
trong lớp.
Nhà ăn của trường là một hội trường lớn. Ban ngày nơi
đây dùng để phục vụ các bữa ăn. Buổi tối, nhiều khi được biến thành rạp chiếu
phim hoặc sân khấu biểu diễn văn nghệ. Những buổi chiếu phim luôn thu hút đông
đảo học sinh. Dù phim Trung Quốc hay phim Việt Nam, chúng tôi đều xem rất chăm
chú vì đó là một trong số ít hình thức giải trí thời ấy.
Sang Quế Lâm, nhà trường vẫn giữ nguyên tổ chức như ở
trong nước. Từ Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, cán bộ quản lý, quân y cho đến
các anh nuôi đều đi cùng. Vì vậy, chúng tôi không có cảm giác bị lạc lõng nơi
đất khách. Mọi hoạt động học tập và sinh hoạt vẫn diễn ra gần như bình thường.
Điều khác biệt lớn nhất là cách
nấu ăn. Ở đây, cơm không được nấu bằng nồi như ở Việt Nam. Gạo được cho vào
các khay nhôm hình chữ nhật rồi xếp trong những buồng hấp lớn. Sau đó, hơi nước
nóng từ lò hơi được dẫn vào để làm chín cơm. Kết quả là mỗi suất cơm giống như
một khối vuông được cắt gọn gàng. Không có lớp cháy vàng thơm ở đáy nồi như cơm
Việt Nam. Lúc đầu nhìn thấy ai cũng ngạc nhiên. Dần dần rồi cũng quen.
Mỗi học sinh được phát một chiếc bát sắt tráng men rất
to, thường được gọi vui là bát B52. Ngoài ra còn có một chiếc thìa nhôm để ăn
cơm. Thức ăn phần lớn được chế biến theo cách gần giống ở Việt Nam. Tuy nhiên
nguyên liệu hoàn toàn là thực phẩm địa phương nên hương vị cũng khác. Trong tất
cả các món ăn ở Quế Lâm, món khiến tôi nhớ nhất là món chao. Lần đầu nhìn thấy,
tôi khá dè dặt. Mùi của nó hơi nặng, thậm chí có chút thum thủm. Nhưng khi ăn
thử lại thấy rất hấp dẫn. Vị chua nhẹ hòa cùng vị mặn đậm đà khiến bữa cơm trở
nên ngon miệng hơn hẳn. Nhiều học sinh ban đầu ngại ăn, sau lại trở thành mê
món này.
Đó là một trong những hương vị đặc trưng nhất mà tôi
còn nhớ về những ngày sống ở Quế Lâm. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Những dãy nhà
ngói xám, dòng Ly Giang, những quả táo ngọt đầu tiên trên đất Trung Quốc và cả
bát cơm hấp vuông vức năm nào vẫn hiện lên rõ ràng trong ký ức tôi. Đó là quãng
đời đặc biệt, khi những đứa trẻ Việt Nam giữa thời chiến được sống và học tập
trên một vùng đất xa lạ nhưng đầy tình cảm, mở ra cho chúng tôi những trải
nghiệm đầu tiên về thế giới bên ngoài quê hương mình.
Ngoài những giờ học văn hóa, quãng thời gian sống ở
Quế Lâm còn để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp về những trò chơi, những
chuyến đi và cả những lần nghịch ngợm rất đúng với tuổi học trò.
Chiều nào cũng vậy, sau khi tan học, chúng tôi thường
kéo nhau ra sân vận động của trường để vui chơi. Đó là một khoảng sân khá rộng
nằm gần khu Hiệu bộ. Chung quanh có những hàng cây lớn che bóng mát. Mỗi khi
mặt trời bắt đầu ngả về phía tây, cả sân vận động lại trở nên náo nhiệt bởi
tiếng cười nói của học sinh Việt Nam.
Chúng tôi chơi đủ các môn thể thao: chạy nhảy, đá
bóng, bóng chuyền. Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là trò chơi tàu lượn. Đó là một loại
đồ chơi rất phổ biến ở đây thời bấy giờ. Nhà trường hoặc các cửa hàng thường
bán thành từng bộ linh kiện bằng gỗ. Các chi tiết đã được cắt sẵn rất khéo léo.
Nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là lắp ráp theo bản vẽ hướng dẫn rồi dùng keo dán
lại. Nghe thì đơn giản nhưng thực ra không dễ chút nào. Quan trọng nhất là phần
gắn cánh.
Hai cánh phải cân tuyệt đối. Chỉ
cần lệch một chút thôi là chiếc tàu sẽ không thể bay đúng hướng. Có những bạn
làm rất nhanh, vừa lắp xong đã có thể đem ra sân thử. Nhưng cũng có những bạn
hì hụi cả buổi chiều mà chiếc tàu vẫn liên tục chúi đầu xuống đất.
Tôi thuộc loại khá ham mê thứ đồ chơi này. Sau vài lần
thất bại mới rút được kinh nghiệm. Khi lớp keo khô hoàn toàn, chúng tôi cầm tàu
lượn lên kiểm tra lần cuối rồi bắt đầu thử nghiệm. Ban đầu chỉ phóng nhẹ bằng
tay. Nếu tàu bay cân bằng, lượn được một đoạn rồi hạ xuống từ từ là đạt yêu
cầu. Sau đó mới đến màn hấp dẫn nhất. Trong bộ đồ chơi có một đoạn dây cao su
mềm khá dài. Một đầu dây được giữ cố định, đầu còn lại móc vào thân tàu. Người
chơi kéo căng dây rồi bất ngờ thả ra. Chiếc tàu lập tức lao vút lên không
trung.
Có những hôm trời lặng gió, tàu bay rất đẹp. Nó vút
lên cao rồi bắt đầu lượn thành những vòng tròn rộng trên nền trời xanh. Cả đám
học sinh đứng dưới ngẩng cổ nhìn theo, miệng reo hò thích thú. Những lúc ấy,
chúng tôi có cảm giác mình như những kỹ sư hàng không thực thụ.
Nhưng niềm vui thường không kéo dài lâu. Kẻ thù lớn
nhất của tàu lượn chính là mặt đất. Khi hạ cánh, tàu rất dễ va vào đá, cành cây
hoặc nền sân cứng. Chỉ một cú va mạnh là cánh gãy, thân nứt hoặc đuôi cong
vênh. Nhiều chiếc vừa bay được một lần đã tan tành. Có chiếc còn bi thảm hơn. Vừa
được phóng lên đã quay đầu cắm thẳng xuống đất như một hòn đá. Mỗi lần như vậy,
cả đám lại phá lên cười. Rồi lại nhặt những mảnh gỗ về dán lại để hôm sau tiếp
tục thử nghiệm.
Mùa hè đầu tiên ở Quế Lâm còn gắn với dòng Ly Giang
nổi tiếng. Con sông ấy đẹp hơn tất cả những dòng sông mà tôi từng thấy trước
đó. Nước trong đến mức có thể nhìn thấy rong rêu dưới đáy. Những dãy núi đá vôi
hai bên bờ soi bóng xuống mặt nước tạo nên khung cảnh giống như tranh thủy mặc.
Mỗi lần được ra bờ sông, chúng tôi đều rất thích thú. Ban đầu chỉ đứng ngắm
cảnh. Sau đó bắt đầu nghịch nước. Rồi cuối cùng là nhảy xuống bơi.
Tuổi trẻ vốn chẳng biết sợ. Chúng tôi thường thi nhau
bơi từ bờ này sang bờ kia. Có khi còn bơi ra những bãi cây hoặc các vườn trái
cây nằm giữa dòng sông.
Một lần, tôi đã có trải nghiệm mà đến tận hôm nay nhớ
lại vẫn còn thấy rùng mình. Hôm ấy, tôi cùng một nhóm bạn quyết định bơi sang
phía bên kia sông. Lúc bắt đầu mọi chuyện hoàn toàn bình thường. Nhưng càng ra
giữa dòng, nước càng lạnh. Dòng chảy cũng mạnh hơn tôi tưởng. Đột nhiên hai
chân tôi bị chuột rút. Những cơn đau buốt làm chân cứng đờ. Tôi cố đạp nước
nhưng không được. Cơ thể bắt đầu chìm xuống. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thực sự
cảm thấy mình đang đối diện với cái chết. Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh một chiếc
thuyền đánh cá đi ngang qua. Một ông lão đứng trên thuyền cúi xuống nhìn tôi. Ông
nhìn rất lâu. Nhưng không có bất kỳ hành động nào. Lúc ấy tôi vừa tuyệt vọng
vừa khó hiểu. May mắn thay, bạn Việt Hùng – người mà chúng tôi vẫn gọi đùa là
Hùng “đỉa” – phát hiện ra tình trạng của tôi.
Hùng lập tức bơi tới. Bằng tất cả sức lực, bạn kéo tôi
vào gần bờ. Khi đặt chân được lên đất, tôi nằm vật xuống thở dốc, toàn thân run
lẩy bẩy. Thế là thoát chết.
Nhiều năm sau, tôi được nghe giải thích rằng một số
người làm nghề sông nước ngày ấy rất kiêng chuyện cứu người chết đuối trực tiếp
giữa dòng. Họ sợ người gặp nạn trong cơn hoảng loạn sẽ bám chặt khiến cả hai
cùng chìm hoặc vì lý do tâm linh nào đó. Không biết điều đó đúng đến đâu, nhưng
ký ức về lần suýt chết đuối ấy vẫn còn nguyên trong tôi.
Ngoài việc học và vui chơi trong trường, chúng tôi còn
được tham quan thành phố Quế Lâm. Trường nằm gần trung tâm thành phố. Từ trường
ra công viên Thất Tinh chỉ khoảng một cây số. Tuy nhiên, chúng tôi không được
phép đi lại tự do. Mỗi lần ra phố đều phải đi theo nhóm và có giáo viên đi
cùng. Những chuyến đi ấy luôn được mong đợi.
Quế Lâm là một thành phố du lịch nổi tiếng với vô số
hang động và thắng cảnh thiên nhiên. Ấn tượng nhất là lần chúng tôi xuống động
Thất Tinh. Ngay từ cửa động đã thấy hơi lạnh phả ra. Các thầy yêu cầu mặc thêm
áo bông. Bên trong động là cả một thế giới kỳ ảo. Những khối nhũ đá đủ hình thù
hiện ra dưới ánh đèn màu. Chỗ thì giống cung điện, chỗ giống rừng cây, chỗ lại
như những đoàn quân đang hành tiến. Đứa nào cũng vừa đi vừa ngước nhìn không
chớp mắt.
Ngoài ra, chúng tôi còn được đến bách hóa Đại Lầu. Đối
với những học sinh đến từ Việt Nam thời chiến tranh, đó gần như là một thiên
đường hàng hóa. Các quầy hàng đầy ắp sản phẩm với màu sắc rực rỡ. Đồ chơi, quần
áo, bánh kẹo, đồ gia dụng... thứ gì cũng đẹp mắt. Dù không có tiền mua nhiều,
chỉ đi ngắm thôi cũng đã thấy thích thú.
Nhưng vui nhất vẫn là những lần đi chơi tự do. Đó mới
thực sự là tuổi thơ. Một vài lần, chúng tôi rủ nhau men theo bờ sông đi rất xa
ra vùng ngoại ô. Ở đó có những vườn cây ăn quả bạt ngàn. Cam, quýt, đào và
nhiều loại trái cây khác mọc khắp nơi. Đối với những cậu bé đang tuổi lớn và
luôn trong tình trạng thèm ăn, đó là một sự cám dỗ khủng khiếp.
Và thế là những "phi vụ" bắt đầu. Thoạt đầu
chỉ là hái vài quả ăn thử. Sau đó thành những cuộc thu hoạch quy mô nhỏ. Tôi
thú nhận rằng mình tham gia rất tích cực. Khi thì bẻ cam. Khi thì hái đào. Có
hôm còn nhét đầy túi áo mang về.
Đỉnh cao của những "chiến công" ấy là vụ
quýt nổi tiếng. Một buổi tối, chúng tôi phát hiện một nhà dân gần cổng trường
có cả một vườn quýt trĩu quả xanh ngắt. Sau một hồi bàn bạc, cả nhóm quyết định
hành động. Kết quả là nguyên chậu quýt được mang về phòng. Chúng tôi giấu dưới tủ
ở gầm giường tầng. Ai cũng nghĩ kế hoạch hoàn hảo. Nhưng chỉ lát sau, mùi quýt
xanh bắt đầu lan khắp phòng. Mùi hăng hắc ấy mạnh đến mức không thể che giấu
được.
Sáng hôm sau, vụ việc bị phát hiện. Cả bọn bị kiểm
điểm một trận nhớ đời.
Tuy nhiên, câu chuyện buồn cười nhất lại là vụ
"ăn dưa đêm".
Một tối khác, chúng tôi tổ chức đi dạo xa. Trời tối
đen như mực. Cả nhóm đi qua nhiều khu vườn mà chẳng biết mình đang ở đâu. Bỗng
một bạn phát hiện những quả hình tròn nằm sát mặt đất. Bạn reo lên:
– Dưa! Dưa chúng mày ơi!
Ngay lập tức một quả được bẻ ra. Bạn
ấy dùng tay bổ đôi rồi cắn một miếng thật to.
Cả đám đang chuẩn bị chia nhau thì một người khác bật
cười:
– Dưa đâu mà dưa! Bí đỏ đấy!
Lúc ấy mới nhìn kỹ. Quả thật đó là bí đỏ non. Nhưng
bạn tôi đã ăn mất gần nửa quả. Điều bất ngờ là bí non lại khá ngọt và giòn. Thế
là cả bọn cùng ăn luôn.
Nhiều năm sau, mỗi khi nhắc lại
những câu chuyện ấy, tôi thường đùa rằng thời còn ở Quế Lâm mình đã từng tham
gia "những hoạt động phá hoại hậu phương của địch".
Tất nhiên đó chỉ là câu nói vui.
Nhưng quả thật, những tháng ngày rong chơi bên dòng Ly
Giang, những chiếc tàu lượn gỗ, những lần suýt chết đuối và cả những "phi
vụ" hái trộm trái cây ấy đã trở thành
một phần không thể nào quên trong ký ức tuổi thơ của chúng tôi trên đất Quế
Lâm.
Tuổi học trò xa nhà của chúng tôi ở Quế Lâm có rất
nhiều chuyện để nhớ. Bây giờ nghĩ lại, phần lớn đều là những trò nghịch ngợm
rất trẻ con. Khi ấy chúng tôi chỉ nghĩ đơn giản là tìm cách làm cho cuộc sống
bớt tẻ nhạt. Nhưng cũng chính từ những câu chuyện ấy mà nhiều bài học theo
chúng tôi suốt cả cuộc đời.
Một trong những "phi vụ" nổi tiếng nhất của
lớp tôi bắt đầu từ một nguồn tin tình báo rất đáng tin cậy. Hôm ấy, vào buổi
tối, một "trinh sát" của lớp từ đâu đó mang về tin mật:
– Sáng mai cả trường ăn chè đậu xanh!
Đối với học sinh nội trú, đặc biệt là những cậu bé
đang tuổi ăn tuổi lớn, tin ấy có sức hấp dẫn chẳng khác nào tin chiến thắng
ngoài mặt trận. Mọi người lập tức bàn bạc. Ăn chè thì ai chẳng được ăn. Nhưng
nếu ăn trước một đêm thì thú vị hơn nhiều. Sau một hồi tính toán, một nhóm được
thành lập ngay lập tức. Khi trường đã chìm vào bóng đêm yên tĩnh, cả bọn lén
lút tiến về phía nhà bếp. Nhờ nhiều lần ra vào khu vực này nên chúng tôi thuộc
đường đi lối lại như lòng bàn tay. Mọi việc diễn ra thuận lợi ngoài dự kiến. Một
khay đậu xanh đã hấp chín nhừ được
chuyển ra ngoài. Tiếp theo là một chậu đường mật khá lớn. Chiến lợi phẩm nhanh
chóng được vận chuyển tới một cái hang nhỏ nằm phía sau nhà ăn. Đó là địa điểm
bí mật mà chúng tôi thường dùng làm nơi tụ tập. Tại đây, cả bọn bắt đầu liên
hoan.
Đậu xanh nóng hổi trộn với mật đường ngọt lịm. Đứa nào
cũng ăn lấy ăn để. Nhưng sức người có hạn. Dù cố gắng đến đâu, chúng tôi cũng
không thể xử lý hết số lượng thức ăn khổng lồ ấy. Cuối cùng, phần còn lại bị bỏ
mặc trong hang rồi cả nhóm lục tục kéo nhau về ngủ.
Trên đường về, ai cũng vui vẻ vì nghĩ rằng kế hoạch đã
thành công mỹ mãn. Nhưng vừa tới trước cửa nhà ở, chúng tôi lập tức khựng lại.
Dưới ánh đèn đỏ mờ mờ của ngọn đèn đường, có một người
đang ngồi trên bậc thềm. Đó là thầy Ninh. Thầy ngồi im lặng. Khuôn mặt nghiêm
nghị. Đôi mắt đỏ ngầu vì thức khuya. Chúng tôi bước tới mà tim đập thình thịch.
Ai cũng nghĩ phen này chắc chắn sẽ bị mắng cho một trận ra trò. Nhưng không. Thầy
chỉ nhìn chúng tôi thật lâu rồi hỏi rất khẽ:
– Đi đâu về muộn thế?
Không ai trả lời được.
Thầy lại nói:
– Khuya rồi. Về ngủ đi.
Chỉ vậy thôi. Không quát mắng. Không truy hỏi. Không
kiểm điểm. Nhưng chính thái độ ấy lại khiến chúng tôi cảm thấy xấu hổ hơn bất
kỳ hình phạt nào.
Sáng hôm sau, chúng tôi biết nhà bếp đã phát hiện bị
đột nhập từ rất sớm. Các lớp đều được yêu cầu kiểm tra. Rõ ràng thầy Ninh đã
biết tất cả. Thầy chỉ không muốn làm to chuyện.
Nhiều năm sau, tôi vẫn nhớ ánh mắt của thầy đêm hôm
ấy. Đó là lần đầu tiên tôi hiểu rằng có những sự bao dung còn khiến người ta
day dứt hơn cả những lời trách phạt.
Nếu chuyện chè đậu xanh chỉ là một trò nghịch dại của
học sinh thì một vụ việc khác xảy ra sau đó lại nghiêm trọng hơn nhiều.
Trong trường Trung học Quế Lâm có một phòng thí nghiệm
khá hiện đại. Ở đó lưu giữ nhiều thiết bị mà chúng tôi chưa từng được nhìn
thấy. Một ngày nọ, người ta phát hiện phòng thí nghiệm bị đột nhập. Một dụng cụ
đo lường hoặc thiết bị chuẩn kỹ thuật nào đó đã biến mất. Đến bây giờ tôi không
còn nhớ chính xác tên gọi của nó. Chỉ biết đó là một vật rất quý.
Nghe nói thời ấy ngay cả Trung Quốc cũng chưa tự sản
xuất được, phải mua từ nước ngoài với giá rất đắt. Tin tức lan truyền khắp
trường. Ai cũng tò mò. Mọi người đồn đoán đủ thứ. Có người nghi ngờ học sinh. Có
người nghi ngờ người ngoài. Nhưng điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là cách xử lý
của nhà trường. Thay vì mở cuộc điều tra rầm rộ, họ chỉ thông báo rằng ai đang
giữ món đồ đó thì hãy âm thầm mang trả lại. Nhà trường sẽ không truy cứu. Không
ai biết kết quả ra sao. Nhưng cách ứng xử ấy khiến tôi rất ấn tượng. Có lẽ họ
hiểu rằng nếu làm lớn chuyện, hậu quả sẽ còn nghiêm trọng hơn bản thân vụ mất
cắp.
Bên cạnh những trò nghịch ngợm, đời sống học sinh ở
Quế Lâm cũng không thiếu những xung đột của tuổi mới lớn. Thời ấy trong trường
thường xuất hiện những nhóm bạn thân thiết với nhau. Người ta gọi vui là phe
"bồ Ta" và "bồ Tây".
Đến nay tôi vẫn không hiểu chính xác nguồn gốc của
những tên gọi ấy. Có lẽ chỉ là cách phân biệt giữa các nhóm học sinh. Nhưng đôi
khi sự cạnh tranh giữa các nhóm lại trở nên khá căng thẳng. Tôi không tham gia
sâu nên cũng không biết rõ đầu đuôi câu chuyện. Chỉ nghe kể rằng đã có những vụ
cãi cọ, thách thức rồi dẫn đến đánh nhau. Một lần, sau buổi họp toàn trường,
tôi đang đi cùng dòng người trở về khu nhà ở. Trời đã nhá nhem tối. Bất ngờ từ
phía sau có vật gì đó bay vút qua đầu. Rồi thêm một vật khác. Mọi người nhốn
nháo tránh né. Sau này mới biết đó là dao, gậy hoặc những vật tương tự được ném
trong lúc xô xát. May mắn là không ai bị thương.
Nhưng vụ việc khiến cả trường xôn xao nhiều ngày. Điều
đáng ngạc nhiên là một số bạn tham gia những cuộc đối đầu ấy lại có võ nghệ. Thỉnh
thoảng, trong những buổi tập trung đông người, chúng tôi được chứng kiến các
màn biểu diễn võ thuật tự phát. Các "cao thủ" tung quyền đá cước rất
điêu luyện. Người xem đứng thành vòng tròn bên ngoài. Mỗi khi có một động tác
khó, đám đông lại trầm trồ thán phục. Đối với lũ học trò tò mò như chúng tôi,
đó chẳng khác nào những bộ phim kiếm hiệp sống động. May thay, phần lớn những
xung đột ấy rồi cũng trôi qua như bao chuyện tuổi học trò khác.
Nhìn lại sau hơn nửa thế kỷ, tôi thấy những câu chuyện
ấy vừa ngây ngô vừa đáng yêu. Chúng phản ánh đúng tâm lý của những đứa trẻ đang
lớn lên giữa hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh, xa gia đình, sống tập thể và
luôn tìm cách tạo ra những niềm vui riêng cho mình. Và chính từ những lần
nghịch ngợm ấy, chúng tôi học được trách nhiệm, tình bạn, sự bao dung và cả
cách ứng xử với những sai lầm của tuổi trẻ.
Nếu những năm đầu ở Quế Lâm gắn liền với những trò
nghịch ngợm, những chuyến rong chơi bên dòng Ly Giang và những khám phá của
tuổi học trò, thì mùa hè năm 1967 lại đem đến cho chúng tôi một cảm giác hoàn
toàn khác. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự cảm nhận được sự mong manh của cuộc
sống, khi một dịch bệnh nguy hiểm bất ngờ xuất hiện ngay trong ngôi trường nơi
chúng tôi đang học tập.
Mùa hè năm ấy, thành phố Quế Lâm xuất hiện dịch viêm
màng não. Ban đầu, tin tức chỉ được truyền đi một cách dè dặt. Chúng tôi nghe
các thầy giáo và cán bộ quân y nói rằng có một loại vi-rút lạ đang lan truyền
trong khu vực. Theo những gì được giải thích
lúc đó, nguồn bệnh có thể liên quan đến một loài chim di cư mang mầm bệnh từ
nơi khác đến. Đối với những cậu học sinh mới mười một, mười hai tuổi, khái niệm
vi-rút hay dịch bệnh còn rất mơ hồ. Chúng tôi chỉ biết rằng có người bị ốm và
phải cách ly. Rồi dần dần, những thông tin đáng sợ hơn xuất hiện. Một
vài học sinh trong trường mắc bệnh. Sau đó lại có tin một bạn không qua khỏi. Không
khí trong trường lập tức thay đổi.
Nếu như trước đây chúng tôi vẫn có thể vô tư chạy nhảy
khắp sân trường, thì nay mọi hoạt động đều được kiểm soát chặt chẽ. Hàng ngày,
học sinh phải uống thuốc phòng bệnh theo quy định. Các cán bộ quân y đi kiểm
tra từng lớp, từng phòng ngủ. Xung quanh khu nhà ở thường xuyên được phun thuốc
khử trùng. Mùi hóa chất phảng phất trong không khí suốt nhiều tuần liền. Nhiều
buổi tối, chúng tôi nằm trên giường mà không ngủ được. Đứa nào cũng nghe ngóng
tin tức từ các lớp khác. Chỉ cần nghe nói có ai đó sốt cao là lập tức cảm thấy
lo lắng.
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy tâm trạng lúc ấy còn căng
thẳng hơn nhiều lần nghe tiếng máy bay Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Bom đạn là
thứ có thể nhìn thấy. Còn bệnh tật thì vô hình. Nó len lỏi vào cuộc sống hằng
ngày mà không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra.
Có lẽ chính vì vậy mà nhà trường quyết định thực hiện
một cuộc di chuyển lớn. Tháng 8 năm 1967, chúng tôi được chuyển sang một khu
trường mới xây dựng ở cách xa trung tâm thành phố Quế Lâm. Chuyến chuyển trường
ấy đánh dấu một giai đoạn hoàn toàn khác trong cuộc sống của chúng tôi trên đất
Trung Quốc.
Ngôi trường mới nằm giữa một thung lũng rộng. Bao
quanh là những dãy núi đá vôi dựng đứng với đủ hình thù kỳ lạ. Ban ngày nhìn
chúng giống như những bức tường thành khổng lồ. Buổi chiều, khi sương xuống,
các đỉnh núi mờ ảo như những hòn đảo nổi giữa biển mây. Phong cảnh rất đẹp
nhưng cũng tạo cảm giác biệt lập. Từ trường nhìn ra bốn phía chỉ thấy núi đá,
cây bụi và những con đường nhỏ ngoằn ngoèo dẫn đi đâu không rõ.
Đúng vào thời gian ấy, Trung Quốc đang bước vào giai
đoạn cực kỳ căng thẳng của cuộc Cách mạng Văn hóa. Mặc dù còn nhỏ và không hiểu
hết những biến động chính trị đang diễn ra, chúng tôi vẫn cảm nhận được bầu
không khí bất ổn xung quanh. Các nhóm Hồng Vệ binh và những phe phái khác
thường xuyên xảy ra xung đột. Nhiều cuộc tuần hành diễn ra trên đường phố. Có
khi, từ xa vọng lại tiếng hô khẩu hiệu kéo dài hàng giờ. Đáng sợ hơn là những
tiếng súng. Không ít lần, đang học bài hoặc chuẩn bị đi ngủ, chúng tôi nghe
thấy những loạt súng nổ vọng từ các khu vực xa trường. Ban đầu ai cũng hoảng
hốt. Sau rồi nghe nhiều quá thành quen. Các thầy giải thích rằng đó là những vụ
đụng độ giữa các phe phái bên ngoài. Tuy vậy, nhà trường vẫn rất thận trọng. Chúng
tôi hầu như không được phép ra khỏi khu vực trường. Một phần vì lý do an ninh. Phần
khác vì xung quanh thật sự chẳng có gì hấp dẫn.
Thỉnh thoảng, một vài nhóm học sinh tò mò rủ nhau đi
"trinh sát". Đi bộ hàng cây số giữa những ngọn núi đá. Cuối cùng cũng
chỉ gặp những bụi sim, bụi mua mọc hoang và những triền đá xám xịt. Không có
vườn cây ăn quả như ở vùng ngoại ô Quế Lâm cũ. Không có dòng Ly Giang thơ mộng.
Cũng chẳng có hàng quán hay công viên. Chúng tôi thường quay về trường trong
tâm trạng vừa mệt vừa thất vọng.
Thời gian ở Quế Lâm, tôi còn có một cuộc gặp gỡ đặc biệt tại
đây. Thời gian ấy có lẽ vào khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1967. Mẹ tôi bị đau dạ
dày đã lâu, vào bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô và được các bác sĩ phẫu thuật cắt đi
phần lớn dạ dày. Sau khi hồi phục, Nhà nước cho Mẹ đi nghỉ dưỡng hồ Balaton ở
Hungary một tháng. Đi và về toàn bằng tầu hỏa liên vận. Lúc về, tổ chức đã chu
đáo bố trí cho tôi được gặp Mẹ tại ga Quế Lâm – trong lúc đoàn tầu dừng nghỉ.
Tôi rất sung sướng được gặp Mẹ, nhưng nhớ nhất là một gói quà Mẹ đã chuẩn bị và
giao cho tôi. Đương nhiên đó là bánh kẹo và trái cây. Trong số những cái kẹo có
những cái đã mềm chảy ra nhoe nhoét vì có thể Mẹ đã để dành từ rất lâu.
Nhưng rồi mùa thu qua đi. Mùa đông đến. Và chính mùa
đông ấy lại mang đến những trải nghiệm chưa từng có trong đời.
Tôi lớn lên ở Hà Nội. Dù đã từng sống ở
vùng trung du và miền núi phía Bắc, tôi vẫn chưa bao giờ thực sự biết thế nào
là cái rét của vùng núi đá Quế Lâm.
Khu trường mới trong thung lũng núi đá ở Nghiêu
Sơn chịu đợt gió mùa tràn về rất nhanh. Chỉ trong vài ngày,
nhiệt độ giảm mạnh. Những cơn gió lạnh luồn qua các khe núi rồi thổi thẳng vào
thung lũng nơi chúng tôi ở. Buổi sáng thức dậy, nhiều hôm hơi thở đã nhìn thấy
thành làn khói trắng. Người dân địa phương mặc rất nhiều quần áo. Lần đầu tiên
trong đời, tôi được nhìn thấy loại quần bông. Đó là những chiếc quần được chần
bông dày giống như áo bông. Thoạt nhìn trông hơi cồng kềnh. Nhưng khi mặc vào
mới thấy ấm vô cùng.
Để đối phó với cái lạnh, mỗi học sinh chúng tôi cũng
được cấp một chiếc áo bông rất đẹp. Áo dày, có cổ lông mềm mại, mặc vào vừa ấm
vừa oai. Nhiều đứa thích đến mức mặc cả trong những ngày chưa quá lạnh.
Nhưng điều làm chúng tôi thích thú nhất lại là tuyết. Một
buổi sáng thức dậy, cả trường xôn xao. Ngoài sân xuất hiện một lớp màu trắng
mỏng phủ trên mặt đất. Tuyết!
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy tuyết thật.
Không nhiều như trong phim ảnh. Chỉ là một lớp mỏng phủ trên mái nhà, trên cành
cây và trên sân trường. Nhưng đối với những cậu bé đến từ vùng nhiệt đới, đó là
cả một kỳ quan. Chúng tôi chạy ùa ra sân. Đứa
thì dùng tay gom tuyết. Đứa thì vo thành những cục nhỏ ném nhau. Đứa lại chỉ
đứng nhìn với vẻ thích thú. Đến gần trưa, mặt trời lên cao hơn và lớp tuyết
bắt đầu tan.
Nhưng niềm vui mà nó đem lại thì còn ở lại rất lâu. Mùa
đông năm ấy cũng là lần đầu tiên chúng tôi được dùng than hoa để sưởi. Trong
lớp học và phòng ngủ luôn có những chiếc chậu lớn đựng than cháy đỏ. Nhờ vậy mà
cái rét trở nên dễ chịu hơn.
Nhưng tuổi học trò vốn không bao giờ chịu ngồi yên. Chẳng
bao lâu sau, chúng tôi lại nghĩ ra những sáng kiến mới. Một nhóm bạn lấy những
chiếc lon sắt tây bỏ đi rồi chế thành "lò sưởi mini". Cấu tạo rất đơn
giản. Chỉ cần đục vài lỗ nhỏ, buộc thêm quai bằng
dây thép rồi cho vài viên than vào bên trong. Khi muốn sưởi, chỉ việc cầm quai
dây và quay nhẹ. Than cháy đỏ lên ngay lập tức. Chiếc lò nhỏ gọn ấy theo
chúng tôi đi khắp nơi. Có đứa còn ôm trong lòng lúc ngồi học. Có đứa đặt dưới
chân khi đi ngủ. Nhìn lại bây giờ thấy rất nguy hiểm. Nhưng lúc đó ai cũng tự
hào vì sự sáng tạo của mình.
Có lẽ vì phải quanh quẩn trong trường suốt mùa đông
dài nên chúng tôi bắt đầu sinh ra đủ loại trò nghịch ngợm. Một trong những kỷ
niệm buồn cười nhất xảy ra với chính tôi.
Hồi đó tôi khá thân với một người bạn trong lớp. Một
hôm đi tắm về, bạn ấy khoe vừa có mấy chiếc quần mới. Những chiếc quần ấy đẹp
thật. Màu sắc tươi tắn hơn hẳn quần áo chúng tôi thường mặc. Tôi chẳng nghĩ
ngợi gì nhiều. Thấy một chiếc màu xanh rất đẹp liền mặc thử luôn. Chiếc quần
vừa khít.
Tôi hí hửng bước ra sân. Nhưng chưa kịp đi được bao xa
thì gặp bạn Tiến Dũng. Bạn nhìn tôi chằm chằm rồi bỗng kêu lên:
– Ơ! Quần của tao!
Tôi đứng sững. Bạn tôi cũng đứng sững. Hóa ra chiếc
quần mới ấy chẳng biết bằng cách nào lại thuộc về Tiến Dũng. Trong vài giây,
tôi vừa ngượng, vừa hoang mang, vừa chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Cuối cùng chỉ
còn cách tụt quần trả lại chủ nhân ngay tại chỗ.


Nhận xét
Đăng nhận xét