Quen biết nhờ… móc cống
Rồi chiến tranh cũng kết thúc.
Đất nước bước sang một thời kỳ mới, và chúng tôi lại trở về với giảng đường đại
học để tiếp tục việc học hành còn dang dở. Những năm tháng chiến tranh đã để
lại biết bao kỷ niệm, nhưng trước mắt là một cuộc sống hòa bình mà ai cũng háo
hức chờ đợi. Không khí trong trường lúc ấy rất khác. Mọi người đều mang tâm
trạng phấn khởi vì đất nước thống nhất, tương lai dường như mở ra một chân trời
mới.
Năm 1975, sau ngày toàn thắng,
Nhà nước tổ chức một cuộc mít tinh và diễu hành quy mô lớn tại Quảng trường Ba
Đình để chào mừng thắng lợi lịch sử của dân tộc. Sinh viên các trường đại học
đều được huy động tham gia, và trường chúng tôi cũng không ngoại lệ. Được góp
mặt trong sự kiện trọng đại ấy là niềm tự hào đối với tất cả mọi người.
Tối hôm trước ngày diễu hành, mỗi sinh viên được phát
một chiếc bánh mì kẹp thịt để ăn lót dạ. Đó là món ăn khá đặc biệt đối với
chúng tôi thời ấy. Sau đó mọi người tập trung chuẩn bị lên đường. Theo kế
hoạch, khoảng hai giờ sáng chúng tôi phải xuất phát từ trường để đi ra đường
Thanh Niên, nơi tập kết các khối quần chúng trước khi tiến vào Quảng trường Ba
Đình.
Vì quá háo hức nên cả đêm tôi gần như không ngủ được.
Tuy nhiên, sự háo hức ấy chẳng thể chống lại cơn buồn ngủ kéo dài sau nhiều giờ
thức trắng. Khi đoàn người đi ngang qua cổng Công viên Thống Nhất trên đường
Nam Bộ, mắt tôi ríu lại, đầu óc mơ màng. Tôi vừa đi vừa ngủ gật. May sao đội
ngũ đông người, kẻ phía trước dìu đỡ, người phía sau thúc nhẹ nên tôi vẫn bước
đi được như một cái máy. Đến bây giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy buồn cười về hình
ảnh một sinh viên vừa đi vừa ngủ giữa dòng người đông nghịt.
Khi đến khu vực ngã tư Phan Bội Châu – Hai Bà Trưng, đoàn
người bắt đầu ùn lại. Từ khắp các hướng, từng dòng người đổ về khiến cả khu vực
chật kín. Người đứng sát người, hàng ngũ nối tiếp hàng ngũ. Dù chen chúc nhưng
ai cũng vui vẻ, bởi tất cả đều đang tham dự một sự kiện lịch sử mà có lẽ cả đời
chỉ gặp một lần.
Mãi sau, đoàn chúng tôi mới tiến được đến vị trí tập
kết trên đường Thanh Niên. Trời vẫn còn tối nhưng không khí đã rất sôi động.
Các đoàn lần lượt ổn định đội hình, chuẩn bị cho giờ xuất phát. Lúc đó có người
phát cho mỗi người một lá cờ giấy. Tôi nhận lấy rồi cầm trên tay mà chẳng buồn
để ý kỹ. Trong suy nghĩ của tôi, cờ phát cho đoàn diễu hành thì chắc chắn là cờ
Tổ quốc giống như mọi người vẫn cầm.
Khi trời bắt đầu hửng sáng, các khối người chuyển động
để chuẩn bị tiến vào quảng trường. Bất ngờ có ai đó từ phía sau giật lấy lá cờ
trên tay tôi. Sự việc diễn ra nhanh đến mức tôi không kịp phản ứng. Tôi cũng
không nghĩ ngợi gì nhiều vì lúc ấy mọi sự chú ý đều dồn vào cuộc diễu hành.
Sau đó, đoàn người tiến vào Quảng trường Ba Đình trong
tiếng nhạc rộn ràng, tiếng trống vang dội, tiếng loa giới thiệu và những khẩu
hiệu hô vang khắp nơi. Không khí thật trang nghiêm mà cũng thật hào hùng. Những
cảm xúc của ngày hôm ấy đến nay vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của tôi. Cuộc
diễu hành kết thúc khi đoàn đi ra đến khu vực đường Điện Biên Phủ rồi giải tán.
Tưởng như mọi chuyện đã trôi qua, nhưng vài ngày sau
tôi bất ngờ nhận được giấy triệu tập của Ban Bảo vệ Nhà trường. Họ hỏi tôi về
lá cờ đã được phát trong buổi diễu hành. Theo mô tả của họ thì trên lá cờ có in
một hình ảnh gì đó lem nhem, không bình thường. Câu hỏi đầu tiên họ đặt ra là
ai đã đưa lá cờ ấy cho tôi.
Tôi thực sự không biết phải trả lời thế nào vì đúng là
không hề nhớ người phát cờ là ai. Hôm đó người đông như nêm cối, cờ được phát
rất nhanh. Tôi chỉ đưa tay nhận rồi cầm theo. Thế nhưng họ vẫn hỏi đi hỏi lại
nhiều lần. Hết người này đến người khác tra vấn. Tôi càng trả lời thì họ càng
hỏi kỹ hơn. Cuối cùng, vì bực mình, tôi nói rằng những gì biết tôi đã khai hết
rồi, có hỏi thêm cũng không thể nhớ ra điều gì khác.
Sau lần làm việc đó, sự việc dần chìm xuống. Không ai
nhắc đến nữa. Có lẽ sau quá trình xác minh, họ cũng nhận ra đó chỉ là một lỗi
in ấn. Lá cờ được in trên loại giấy tận dụng từ họa báo cũ thay vì giấy trắng
nên hình ảnh phía dưới bị hiện lên lờ mờ, tạo cảm giác bất thường. Dù sao đây
cũng là một kỷ niệm khá đặc biệt mà tôi không bao giờ quên.
Thời gian trôi nhanh. Chẳng mấy chốc chúng tôi hoàn
thành chương trình học và tốt nghiệp đại học. Những năm ấy, sinh viên ra trường
gần như không phải lo tìm việc. Cơ chế bao cấp của Nhà nước quy định rõ việc
phân công công tác cho sinh viên tốt nghiệp. Chỉ cần học xong là nghiễm nhiên
trở thành cán bộ công nhân viên Nhà nước.
Ngay từ khi còn là sinh viên, chúng tôi đã được hưởng
sinh hoạt phí hàng tháng, có sổ gạo và tem phiếu như một nhân viên Nhà nước
thực thụ. Vì vậy, việc được phân công công tác sau khi tốt nghiệp được xem là
điều đương nhiên. Không ai nghĩ đến chuyện phải nộp đơn xin việc hay chạy vạy
tìm chỗ làm như bây giờ.
Tôi cùng anh Trương Văn Nhi và bạn Lê Thị Minh Chính
được phân công về Sở Công nghiệp Hà Nội. Chúng tôi rất vui vì nghĩ rằng cuộc
đời làm việc chính thức sắp bắt đầu. Thế nhưng thực tế lại không diễn ra như
mong đợi.
Ngày đầu tiên đến Ban Tổ chức chính quyền để nhận
nhiệm vụ, chúng tôi được trả lời ngắn gọn rằng cứ về chờ, khi nào cần sẽ gọi.
Nghe thì đơn giản nhưng hậu quả của việc “chờ” lại không hề đơn giản. Chưa đi
làm đồng nghĩa với việc chưa được cấp lương, chưa có tem phiếu và cũng chưa
được cấp gạo. Trong thời kỳ bao cấp, đó là một vấn đề rất lớn.
Một tháng trôi qua rồi hai tháng trôi qua, vẫn không
thấy ai gọi. Cuộc sống ngày càng khó khăn. Tôi còn trẻ, một thân một mình nên
xoay xở còn dễ. Nhưng nhiều người đã có gia đình thì thực sự vất vả. Tôi nghe
kể anh Trương Văn Nhi phải lên tận Thái Nguyên mua sắn mang về để chống đói cho
cả nhà. Chuyện ấy bây giờ nghe có vẻ khó tin, nhưng vào thời điểm đó hoàn toàn
có thật.
Ngày nào chúng tôi cũng mong có
giấy gọi đi làm. Mỗi lần nghe tin tức gì từ cơ quan phân công công tác là lại
thấp thỏm hy vọng. Thế nhưng hết tuần này sang tuần khác vẫn chẳng có chuyển
biến gì. Sự sốt ruột ngày càng tăng. Chúng tôi vừa lo cho cuộc sống trước mắt
vừa băn khoăn không biết tương lai nghề nghiệp của mình rồi sẽ ra sao.
Đến tháng 4 năm 1977, tôi không thể tiếp tục cảnh ngồi
nhà chờ đợi vô thời hạn nữa. Sau nhiều lần suy tính, tôi quyết định làm đơn xin
chuyển hướng công tác. Tôi tìm gặp Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Bách khoa để
trình bày nguyện vọng của mình: xin chuyển giấy phân công công tác sang Quân
đội.
Đó là một quyết định quan trọng của cuộc đời tôi. Khi
ấy tôi chưa thể hình dung được những chặng đường phía trước sẽ như thế nào.
Nhưng ít nhất, tôi biết rằng mình cần phải hành động thay vì tiếp tục ngồi chờ
đợi. Và cũng từ quyết định ấy, một giai đoạn hoàn toàn mới trong cuộc đời tôi
đã bắt đầu.
Có lẽ cũng nên kể kỹ hơn một chút về việc vì sao tôi lại biết ông Bí thư
Đảng ủy của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, bởi đó là một câu chuyện tưởng như
rất bình thường nhưng sau này lại có ảnh hưởng không nhỏ đến bước ngoặt trong
cuộc đời tôi.
Những năm học đại học của chúng tôi không chỉ có học tập mà còn gắn liền
với các đợt lao động tập trung. Đây là một phần trong chương trình giáo dục
thời đó, vừa để sinh viên rèn luyện ý thức lao động, vừa góp phần hỗ trợ các
công việc chung của nhà trường và xã hội. Hầu như năm nào sinh viên cũng có vài
tuần tham gia lao động. Có năm chúng tôi được phân công phụ giúp xây dựng nhà
cửa, khi thì chuyển vật liệu, trộn vữa, khuân gạch. Năm khác lại đi đào đất, nhổ
cỏ, san lấp mặt bằng. Có đợt được đưa tới các xưởng cơ khí để làm những công
việc giản đơn, hỗ trợ công nhân sản xuất. Mỗi đợt lao động đều để lại những kỷ
niệm riêng, vui có, vất vả có, nhưng nhìn chung đều là những trải nghiệm đáng
nhớ của thời sinh viên.
Trong một đợt lao động như thế, tôi được phân công tới nhà một cán bộ của
trường để làm công việc nạo vét và thông cống. Nói thật, đó không phải là công
việc hấp dẫn gì đối với một sinh viên kỹ thuật, nhưng đã được giao thì cứ làm.
Khi tôi đến nơi, chủ nhà không có mặt. Người ra tiếp tôi là cô con gái của gia
đình. Cô hướng dẫn vị trí cần làm và chỉ bảo khá tận tình. Công việc chỉ diễn
ra trong một buổi, thời gian không dài, nhưng trong lúc trò chuyện tôi cũng
biết được đây là nhà của ông Bí thư Đảng ủy trường.
Lúc đó, thông tin ấy đối với tôi cũng chỉ là một điều tình cờ. Tôi hoàn
toàn không nghĩ rằng sau này mình sẽ còn quay lại căn nhà ấy với một việc quan
trọng hơn nhiều. Càng không thể ngờ rằng cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ngày hôm đó lại
góp phần tạo nên một thay đổi lớn trong cuộc đời mình.
Nhắc đến những đợt lao động của sinh viên thời ấy cũng
phải kể thêm một chuyện khác. Mỗi ngày lao động, chúng tôi được bồi dưỡng một
hào tiền mặt cùng 100 gam tem lương thực. Với hoàn cảnh thời bao cấp, đó là một
khoản không hề nhỏ đối với sinh viên. Nếu tích góp cả đợt lao động thì số tem
lương thực cũng được kha khá. Đặc biệt là những sinh viên Hà Nội ở cùng nhau
thường gom lại thành một số lượng tương đối lớn.
Thời đó, tem phiếu có giá trị chẳng khác nào tiền. Muốn mua gạo, mua thịt
hay nhiều mặt hàng thiết yếu khác đều phải có tem phiếu. Vì thế hình thành một
thị trường trao đổi khá nhộn nhịp, dù không hoàn toàn chính thức. Những người
chuyên mua bán tem phiếu thường được gọi bằng cái tên rất quen thuộc là “con
phe”.
Sau mỗi đợt lao động, một trong những niềm vui của đám sinh viên chúng
tôi là gom số tem gạo lại rồi mang bán để lấy tiền tổ chức một bữa ăn tử tế.
Công việc giao dịch ấy thường được giao cho những người lanh lợi nhất. Trong
nhóm chúng tôi, người được tín nhiệm là bạn Lê Ninh, thường gọi vui là Ninh
“lùn”.
Một lần, cả nhóm cử Ninh mang số tem tích góp được ra khu vực ngã tư Cửa
Nam. Đây là nơi tập trung khá nhiều người buôn bán tem phiếu thời đó. Chỉ cần
Ninh vừa xuất hiện, đưa tay ra hiệu vài cái là lập tức có một đám phụ nữ từ
nhiều phía kéo tới hỏi dồn dập: Bán gì đấy? Tem gạo à? Có bao nhiêu?
Khi biết số lượng chỉ là mấy ki-lô-gam tem lẻ của sinh viên gom góp lại,
họ bắt đầu chê ít, tìm cách ép giá. Ninh phải cò kè mặc cả một hồi mới bán
được. Trở về với số tiền trong tay, cả nhóm đều phấn khởi. Đương nhiên sau đó
là một cuộc liên hoan nho nhỏ, thường chỉ là vài món ăn bình dân nhưng đối với
sinh viên thời ấy đã là cả một niềm vui lớn. Những kỷ niệm như vậy đến nay nhớ
lại vẫn thấy rất sống động.
Quay lại câu chuyện xin chuyển nơi phân công công tác sau khi tốt nghiệp.
Mặc dù khi tốt nghiệp, tôi có nguyện vọng được công tác ở Hà Nội, nhưng chờ đợi
lâu quá, tôi quyết định viết một lá đơn trình bày nguyện vọng và tìm cách gửi
đến ông Bí thư Đảng ủy nhà trường. Trong đầu tôi lúc ấy chỉ nghĩ đơn giản rằng
ông là người có trách nhiệm cao nhất về công tác Đảng trong trường, biết đâu
ông có thể xem xét và giúp đỡ.
Tôi cẩn thận viết đơn từ trước ở nhà rồi mang đến tận nơi. Thật không
may, hôm đó ông lại đi vắng. Người tiếp tôi một lần nữa lại chính là cô con gái
mà trước đây tôi từng gặp khi đến lao động thông cống. Sau khi nghe tôi trình
bày mục đích đến gặp, cô nói ngay:
– Việc này bố tôi không làm được đâu.
Có lẽ cô nghĩ rằng việc phân công công tác thuộc thẩm quyền của Ban Giám
hiệu Nhà trường chứ không phải của Bí thư Đảng ủy. Điều đó thực ra cũng có lý.
Tuy nhiên, tôi đã cất công đến nơi nên vẫn quyết định gửi lại lá đơn.
Cô ta nhận lá đơn một cách bất đắc dĩ và cũng chẳng hứa là sẽ chuyển lại
cho bố.
Rời khỏi ngôi nhà ấy, tôi cũng không đặt quá nhiều hy vọng. Trong suy
nghĩ của tôi khi đó, đơn giản là mình cố làm mọi cách để đạt được mục đích thôi
và thế là điều bất ngờ đã xảy ra.
Chỉ một thời gian ngắn sau, ngày 13 tháng 5 năm 1977, tôi nhận được quyết
định phân công công tác về Bộ Quốc phòng. Khi cầm tờ quyết định trên tay, tôi
thực sự rất vui mừng. Dù không biết chính xác những tác động phía sau diễn ra
như thế nào, nhưng rõ ràng nguyện vọng của tôi đã được xem xét và chấp thuận.
Sau đó tôi đến trạm đón tiếp ở phố Đặng Dung để làm các thủ tục cần
thiết. Tại đây tôi gặp anh Long “râu”, cán bộ nhân sự của Phòng Cán bộ thuộc
Tổng cục Kỹ thuật. Về sau tôi cũng có dịp công tác ở Phòng Cán bộ trong một
thời gian khá dài.
Anh Long tiếp nhận hồ sơ rồi trao đổi khá thẳng thắn:
– Bây giờ những chỗ gần Hà Nội đều đã bố trí hết rồi. Nếu muốn nhận công
tác ngay thì nơi gần nhất còn lại cũng là Sơn Tây.
Tôi nghe xong và gần như không phải suy nghĩ. Được về Bộ Quốc phòng đã là
điều tôi mong muốn, còn Sơn Tây lúc ấy đối với tôi cũng không phải quá xa.
Tôi trả lời ngay:
– Sơn Tây cũng được anh ạ.
Anh Long gật đầu, hoàn tất các thủ tục cần thiết và hướng dẫn tôi lên đơn
vị nhận công tác. Thế là ngày 15 tháng 5 năm 1977, tôi chính thức có mặt tại
Nhà máy Z.151 để nhận nhiệm vụ mới. Từ giây phút đó, cuộc đời sinh viên với
biết bao kỷ niệm vui buồn đã khép lại. Trước mắt tôi mở ra một chặng đường hoàn
toàn khác – chặng đường của người cán bộ kỹ thuật trong quân đội.


Nhận xét
Đăng nhận xét