Tài… trốn học
Thời kỳ Khoa Chế tạo máy sơ tán ở Cẩm Xuyên là một
quãng thời gian để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm. Cuộc sống sinh viên giữa
thời chiến thiếu thốn đủ bề, nhưng cũng chính những năm tháng ấy lại đem đến
biết bao câu chuyện vui buồn mà đến tận bây giờ nghĩ lại vẫn thấy vừa thương
vừa buồn cười.
Nhóm chúng tôi được bố trí ở nhờ trong nhà một gia
đình nông dân ở địa phương. Chủ nhà là một ông bà khoảng ngoài năm mươi tuổi.
Tuy tuổi chưa phải quá cao nhưng do cuộc sống lao động vất vả nên nhìn họ già
hơn tuổi rất nhiều.
Gia đình ấy làm lụng rất chăm chỉ. Từ sáng sớm tinh mơ
họ đã ra đồng hoặc đi đâu đó làm việc. Suốt cả ngày hiếm khi thấy mặt ở nhà.
Thi thoảng một trong hai người mới ghé về chốc lát, lấy thứ gì đó rồi lại tất
tả đi ngay. Bởi vậy, căn nhà phần lớn thời gian chỉ còn lại mấy anh sinh viên
chúng tôi và cậu con út của ông bà.
Cậu bé ấy khoảng tám, chín tuổi, người nhỏ thó, nước
da đen nhẻm, hàm răng sún mất mấy chiếc nên mỗi khi cười trông rất ngộ. Cậu nhỏ
khá dạn dĩ và thường xuyên sán lại chỗ chúng tôi học bài. Những lúc rảnh rỗi,
nó kể đủ thứ chuyện trong làng, còn chúng tôi thì hỏi han về cuộc sống địa
phương.
Một hôm, sau khi đi chơi đâu đó về, cậu bé chạy vụt
vào gian buồng chái phía trong nhà. Một lúc sau nó chạy ra, miệng nhai tóp tép
như đang thưởng thức thứ gì ngon lắm rồi lại biến mất. Sự việc ấy làm chúng tôi
tò mò. Đợi nó đi khuất, mấy đứa nhìn nhau đầy ngụ ý rồi kéo vào buồng chái thám
thính.
Trong gian buồng tối tối ấy, trên xà nhà có treo một
cái nồi hông. Cái nồi vẫn còn lắc lư nhẹ chứng tỏ vừa mới được động đến. Chúng
tôi bèn kê ghế, thò tay vào bên trong. Ban đầu chỉ thấy một lớp bột mịn phủ
kín. Nhưng khua khoắng thêm một lúc thì phát hiện vài chiếc kẹo lạc giấu trong
đó.
Đúng là kho báu!
Mỗi đứa lấy một cái rồi nhanh chóng chia nhau. Ăn xong
còn cẩn thận đặt lại nguyên trạng. Chúng tôi hiểu rằng ăn thử một chút thì
không ai biết, chứ nếu tham lam chén sạch thì thế nào cũng bị lộ.
Thực ra chuyện ấy không phải lần duy nhất. Là những
sinh viên xa nhà, quanh năm sống bằng tiêu chuẩn tem phiếu và bếp ăn tập thể,
chúng tôi lúc nào cũng trong tình trạng đói vặt. Những cơn đói ấy không đủ lớn
để làm điều gì nghiêm trọng nhưng cũng đủ khiến người ta luôn để mắt đến những
thứ có thể ăn được.
Thế là thỉnh thoảng, khi “ngứa ngáy” trong bụng, chúng
tôi lại lén lấy của ông bà chủ nhà đôi ba củ khoai hoặc một nắm lạc. Chẳng phải
khó tìm kiếm gì bởi những thứ ấy thường được chất ngay dưới gầm chiếc giường
nơi chúng tôi ngủ.
Khoai thì mang ra bếp ăn tập thể của Khoa. Những lúc
than hồng rực lên, chúng tôi vùi khoai vào tro nóng. Chỉ một lúc sau mùi thơm
đã lan khắp nơi. Còn lạc thì được bỏ túi, có khi mang về Hà Nội làm quà, có khi
tụ tập bạn bè liên hoan ngay tại chỗ.
Đêm xuống là một thế giới hoàn toàn khác. Ngôi nhà
tranh đơn sơ trở nên yên tĩnh, chỉ còn tiếng côn trùng và tiếng chuột. Lũ chuột
ở vùng quê nhiều vô kể. Chúng chạy rinh rích trên mái nhà, dưới gầm giường,
trong góc bếp. Chúng tha lạc, tha khoai, tha thóc và đủ thứ khác. Có đêm chúng
còn liều lĩnh đến mức gặm cả ngón chân người đang ngủ. Nhiều lần đang mơ màng,
tôi giật mình vì cảm giác nhột nhột nơi bàn chân. Bật dậy thì chỉ thấy một bóng
đen vụt biến mất. Chúng tôi vừa bực vừa buồn cười nhưng cũng chẳng biết làm thế
nào.
Tuy có đôi lúc “mượn tạm” khoai lạc của chủ nhà, chúng
tôi vẫn luôn cảm thấy quý mến và biết ơn gia đình ấy. Vì thế, mỗi khi có dịp là
lại tìm cách đáp lại.
Một lần, anh bạn Lê Ninh “lùn” mang từ Hà Nội vào một
lọ dưa chuột muối xuất khẩu. Thời ấy, hàng xuất khẩu được xem là thứ gì đó rất
đặc biệt. Đây là loại dưa chuột muối đựng trong lọ thủy tinh, nhãn in toàn chữ
nước ngoài trông rất sang trọng.
Đến bữa tối, chúng tôi long trọng mở nắp để thưởng
thức. Ai cũng nghĩ đây chắc phải là món ngon hiếm có. Nhưng thực tế hoàn toàn
trái ngược.
Người đầu tiên cắn thử nhăn mặt ngay. Người thứ hai cố
nhai rồi cũng vội vàng nhổ ra. Dưa chua loét, lại có mùi hăng hăng rất lạ giống
như quả chín ủng. Cả bọn thử mỗi người một miếng rồi chẳng ai muốn ăn nữa. Sau
này chúng tôi mới biết đó là loại dưa muối mà người phương Tây rất ưa thích.
Nhưng khẩu vị của mấy anh sinh viên Hà Nội thời ấy thì hoàn toàn không quen nổi.
Không nỡ vứt đi, bạn Phạm Phúc Trí nảy ra một sáng
kiến. Cậu ta bê cả lọ dưa sang mâm cơm của ông bà chủ nhà, lễ phép thưa rằng
đây là quà biếu, mong ông bà dùng thử. Ông bà vui vẻ nhận lấy. Chúng tôi cũng
thấy yên tâm vì nghĩ rằng ít nhất món quà ấy sẽ không bị phí.
Sáng hôm sau, như thường lệ, Lê Ninh và Phạm Phúc Trí
ra bể nước trước sân. Đó là nơi hai anh chàng hay đứng soi bóng để vuốt tóc,
chải đầu và chỉnh trang lại quần áo trước khi lên lớp.
Bỗng cả hai phá lên cười. Trong chiếc vại đựng nước
gạo dành cho lợn ăn đang nổi lều phều mấy quả dưa chuột quen thuộc. Không cần
hỏi cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Ông bà chủ nhà đã thử món quà của chúng tôi,
rồi cuối cùng quyết định rằng lợn có lẽ sẽ phù hợp với nó hơn con người. Thế là
toàn bộ số dưa xuất khẩu “cao cấp” ấy được chuyển thẳng sang khẩu phần của đàn
lợn trong nhà.
Câu chuyện lan ra khắp lớp. Mỗi lần nhắc lại, ai cũng
cười nghiêng ngả. Hóa ra không chỉ mấy anh sinh viên Hà Nội chê món dưa ấy, mà
ngay cả những người nông dân quanh năm ăn uống giản dị cũng không thấy nó ngon
lành gì.
Những ngày ấy, cuộc chiến tranh phá hoại của không
quân Mỹ đang diễn ra ác liệt trên miền Bắc. Tuy vùng chúng tôi sơ tán không
phải là trọng điểm đánh phá, nhưng tiếng máy bay và tiếng bom vẫn thường xuyên
vọng tới. Vì vậy, ngoài việc học tập, chúng tôi còn phải tham gia nhiều công
việc để bảo đảm an toàn. Một trong những việc quan trọng nhất là đào hầm trú ẩn
trong khuôn viên nhà dân nơi mình ở nhờ.
Hầm được đào khá sâu, đủ cho cả gia đình và mấy anh em
học sinh sơ tán cùng xuống tránh bom. Sau khi đào xong, chúng tôi lại lên Khoa
khiêng tre mang về làm mái chữ A. Những cây tre được chặt khúc rồi buộc lại với nhau rồi
phủ đất dày lên trên. Công việc tuy vất vả nhưng ai cũng quen dần. Lúc đầu, có
hầm mới, mọi người đều rất cẩn thận. Chỉ cần nghe thấy tiếng ì ầm của máy bay
từ xa là vội vàng chạy xuống hầm. Những lần đầu, tôi cũng thế, nghe tiếng động của
máy bay là bỏ dở mọi việc để lao ra hầm.
Nhưng rồi cuộc sống kéo dài trong tình trạng ấy khiến
người ta quen dần với nguy hiểm. Có hôm đang
học bài, chạy xuống hầm rồi lại chạy lên. Có hôm đang ngủ say, nghe tiếng máy
bay mà ngại chui ra ngoài. Nhiều khi gia đình chủ nhà xuống trước, chiếm hết
chỗ trong hầm, chúng tôi phải đứng chen chúc hoặc ngồi tạm ở mép cửa. Dần dần,
sự cảnh giác ban đầu nhường chỗ cho tâm lý chủ quan của tuổi trẻ. Về sau, nghe
tiếng máy bay chúng tôi cũng mặc kệ. Nếu tiếng bom nổ ở xa thì cứ nằm
nguyên trên giường.
Tôi còn nhớ có lần tiếng bom vọng đến khá gần. Ông chủ
nhà đang nằm ngủ bỗng giật mình lăn từ trên giường xuống đất, rồi chui tọt vào
gầm giường. Vừa chui, ông vừa hô lớn bảo vợ con chạy ra hầm. Trong khi đó, mấy
anh em chúng tôi vẫn nằm nguyên trên giường, chẳng ai buồn nhúc nhích. Giờ nghĩ
lại thấy thật liều lĩnh, nhưng lúc ấy dường như sự sợ hãi đã bị bào mòn bởi
những ngày tháng sống chung với chiến tranh.
Rồi năm học mới bắt đầu. Cuộc sống trở lại với những
giờ học, những buổi tự học và những quy định của nhà trường. Thế nhưng bản tính
ham chơi của tôi vẫn chẳng thay đổi. Người ta thường nói “chứng nào tật nấy”,
quả thật rất đúng với trường hợp của tôi. Sau một thời gian học tập nghiêm túc,
tôi lại bắt đầu nghĩ cách trốn học. Khác với những lần trước, lần này tôi đã có
nhiều kinh nghiệm hơn nên mọi việc được thực hiện kín đáo hơn rất nhiều.
Đó cũng là thời gian tôi có chiếc xe đạp Sterling của
cha để lại trước khi đi B. Chiếc xe ấy đối với tôi là một tài sản vô cùng quý
giá. Trước đó, anh cả tôi cũng từng sử dụng nó trong những năm sơ tán ở Lạng
Sơn. Anh kể có lần xuống đèo Sài Hồ, cái vỏ yên bằng da cứng bất ngờ rơi mất.
Không còn cách nào khác, anh phải gấp chiếc quần bộ đội lại để độn lên khung
yên rồi tiếp tục đạp xe hàng chục cây số mới về được Hà Nội. Những câu chuyện
như vậy càng làm cho chiếc xe trở nên thân thuộc và có ý nghĩa hơn đối với tôi.
Khi anh cả lên đường đi B, đương nhiên tôi trở thành
người thừa kế chiếc xe ấy. Từ đó, nó gắn bó với tôi trên mọi nẻo đường giữa Hà
Nội và Cẩm Xuyên. Mỗi lần đặt tay lên ghi đông, tôi có cảm giác như đang tiếp
nối một phần ký ức của gia đình mình.
Lịch học của chúng tôi khá đều đặn. Buổi sáng lên lớp,
buổi chiều tự học. Một tuần học từ thứ Hai đến hết thứ Bảy, riêng thứ Năm không
có tiết học chính khóa. Chính lịch học ấy đã tạo điều kiện để tôi thực hiện
những “kế hoạch riêng”.
Thông thường, sáng thứ Hai tôi lên lớp đầy đủ. Sáng
thứ Ba cũng vậy. Đến sáng thứ Tư, tôi vẫn đến lớp đúng giờ như mọi người. Tôi
chăm chú học hết tiết đầu tiên, rồi đợi đến giờ ra chơi. Trong lúc các bạn nghỉ
giải lao, tôi cố ý đi lại trò chuyện với người này người kia. Đặc biệt, tôi
luôn tìm cách hỏi cán bộ lớp một câu gì đó để mọi người thấy rằng mình vẫn đang
có mặt bình thường.
Nhưng khi tiếng trống báo vào tiết hai vang lên, các
bạn lần lượt trở lại lớp học thì cũng là lúc tôi âm thầm rút lui. Vì lớp học
đặt trong đình làng Cẩm Xuyên, từ cửa lớp có thể nhìn thẳng lên bờ đê nên tôi
không dám đi đường chính. Tôi phải men theo những bờ ruộng, lách qua các ngõ
nhỏ trong làng rồi mới leo lên mặt đê. Chỉ đến khi khuất hẳn tầm nhìn của mọi
người, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.
Điều lạ là bản thân tôi lúc ấy cũng không thực sự biết
mình về Hà Nội để làm gì. Mẹ tôi bận đi làm.
Các em đều đang sơ tán ở nơi khác. Bạn bè cùng trang lứa phần lớn đang đi học.
Hà Nội thời chiến cũng chẳng có nhiều nơi vui chơi. Thế nhưng cứ có cơ hội là
tôi lại muốn về. Có lẽ điều hấp dẫn nhất không phải đích đến mà chính là hành
trình. Tôi thích cảm giác được tự mình đạp xe trên những con đường dài, không
ai quản thúc, không ai nhắc nhở. Cảm giác tự do ấy khiến tâm hồn tôi nhẹ
nhõm và khoan khoái lạ thường.
Con đường từ Cẩm Xuyên về Hà Nội đã trở thành một phần
ký ức không thể quên. Tôi đạp xe trên bờ đê sông Cầu, nhìn những cánh đồng trải
dài hai bên. Thỉnh thoảng gặp vài người gánh hàng hay những đàn trâu thong thả
trở về chuồng. Qua bến đò Ngọt, qua chợ Chờ, rồi đến Từ Sơn, mỗi nơi đều mang
một vẻ riêng của vùng quê Bắc Bộ những năm chiến tranh. Khi tới cầu Long Biên,
tôi thường giảm tốc độ để ngắm dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa chảy phía dưới.
Những nhịp cầu sắt già nua vẫn bền bỉ nối đôi bờ, như chứng nhân lặng lẽ của
biết bao biến động lịch sử.
Giờ đây, khi nhớ lại quãng thời gian ấy, tôi hiểu rằng
những chuyến đi bất chợt ấy không đơn thuần là trò nghịch ngợm của một cậu học
trò. Đó còn là khát vọng tự do, là tâm hồn hiếu động của tuổi trẻ trong hoàn
cảnh chiến tranh đầy thiếu thốn và gò bó. Những lần trốn học ấy có thể khiến
thầy cô phiền lòng, nhưng cũng để lại trong tôi những kỷ niệm không thể nào
quên về một thời tuổi trẻ đã đi qua giữa bom đạn mà vẫn đầy ắp niềm vui, sự tò
mò và tình yêu cuộc sống.
Cuối tháng 12 năm 1972, khi chiến dịch ném bom bằng máy bay B-52 của Mỹ
xuống Hà Nội đang ở giai đoạn ác liệt nhất, chúng tôi vẫn sống trong khu sơ tán
ở Hiệp Hòa, Bắc Giang. Dù ở xa thủ đô, nhưng tâm trí của những đứa trẻ Hà Nội
như tôi lúc nào cũng hướng về thành phố quê hương. Tin tức chiến sự từng ngày
từng giờ trở thành mối quan tâm lớn nhất của mọi người.
Nhờ có một chiếc radio bán dẫn luôn mang theo bên mình, tôi có điều kiện
nghe tin tức từ nhiều nguồn khác nhau. Những bản tin phát đi liên tục giúp tôi
hình dung được phần nào tình hình ở Hà Nội. Qua đó, tôi biết rằng sau nhiều
ngày bị đánh phá dữ dội, lực lượng phòng không của ta đã gây cho không quân Mỹ
những tổn thất đáng kể. Từ những thông tin nghe được, tôi linh cảm rằng đợt ném
bom cao điểm có lẽ sắp kết thúc.
Sáng ngày 25 tháng 12 năm 1972, đúng vào dịp lễ Nô-en, một ý nghĩ táo bạo
bất ngờ xuất hiện trong đầu tôi: phải về Hà Nội xem tình hình ra sao. Đó là một
quyết định hoàn toàn bột phát nhưng vô cùng thôi thúc. Tôi muốn tận mắt nhìn
thấy thủ đô sau những ngày đêm rung chuyển bởi bom đạn. Muốn biết ngôi nhà của
mình còn nguyên vẹn hay không. Muốn gặp mẹ và những người thân trong gia đình.
Ý định ấy vừa được nói ra, thằng bạn thân nhất của tôi là Duy Cường “tẩm”
đã hưởng ứng ngay. Chẳng cần bàn bạc nhiều, hai đứa quyết định lên đường.
Khoảng bốn giờ sáng, khi trời đất vẫn còn chìm trong bóng tối dày đặc của
mùa đông miền Bắc, chúng tôi nhanh chóng rời khỏi nơi sơ tán. Không khí lạnh
buốt khiến hơi thở bốc thành khói trắng. Khắp nơi vắng lặng một cách kỳ lạ.
Những ngày ấy, người dân đã quá quen với tiếng kẻng báo động, tiếng động cơ máy
bay và tiếng bom nổ. Bởi vậy, mỗi khoảng lặng hiếm hoi lại càng làm người ta
cảm thấy bất an.
Điều đáng nói là vào những ngày cao điểm của chiến dịch, khoảng thời gian
từ nửa đêm đến rạng sáng thường là lúc B-52 hoạt động dữ dội nhất. Hai đứa trẻ
chúng tôi hiểu điều đó, nhưng vẫn quyết tâm lên đường. Có lẽ tuổi trẻ vốn không
biết sợ, hoặc cũng có thể sự tò mò và nỗi nhớ nhà đã lớn hơn tất cả.
Từ Hiệp Hòa về Hà Nội không phải là quãng đường ngắn.
Đường sá thời chiến lại càng khó đi hơn. Chúng tôi lần mò theo những con đường
đất, hỏi thăm người dân ven đường để tìm hướng ra Quốc lộ 1. Khi trời bắt đầu
hửng sáng, con đường quốc lộ cuối cùng cũng hiện ra trước mắt. Càng tiến gần Hà
Nội, dấu vết chiến tranh hiện lên càng rõ rệt.
Khi đi qua khu vực ga Yên Viên, cảnh tượng khiến chúng tôi không thể nào
quên. Không khí vẫn còn nồng nặc mùi cháy khét lẹt. Nhiều toa hàng bị bom đạn đánh
trúng nằm ngổn ngang. Hàng hóa từ các chuyến tàu vận tải bị sức ép bom hất tung
lên khắp nơi. Có những mảnh gỗ, những bao tải rách, những vật dụng đủ loại mắc
trên cành cây hoặc nằm vương vãi bên đường ray. Một số đoạn tường đổ sập, đất
đá ngổn ngang. Dù chiến sự đã qua vài ngày nhưng khung cảnh vẫn mang vẻ tang
thương và dữ dội.
Hai đứa vừa đi vừa quan sát, vừa háo hức vừa lo lắng. Những gì trước đây
chỉ được nghe qua radio nay hiện ra ngay trước mắt.
Đến cầu Đuống, chúng tôi gặp trở ngại lớn nhất của
chuyến đi. Một nhịp cầu ở giữa đã bị bom đánh sập. Từ xa nhìn lại, cây cầu
giống như một cơ thể bị gãy đôi. Phần kết cấu thép bị phá hủy nằm chìm xuống
phía dưới, chỉ còn lại hai thanh ray xe lửa kéo dài qua khoảng trống. Đứng
trước cảnh tượng ấy, cả hai đều chần chừ. Phía dưới là dòng sông Đuống lặng lẽ
chảy. Phía trên là khoảng không hun hút khiến ai nhìn cũng thấy chóng mặt.
Nhưng đã đi đến đây thì không ai muốn quay về. Sau một hồi động viên
nhau, hai đứa đánh liều bước tiếp. Chúng tôi bám chặt vào phần còn lại của cây
cầu, từng bước nhích qua đoạn nguy hiểm. Có lúc tim đập thình thịch vì chỉ cần
sơ sẩy là có thể ngã xuống dưới. Thế nhưng cuối cùng cả hai vẫn vượt qua được.
Nhiều năm sau nhớ lại, tôi vẫn không hiểu vì sao hai đứa trẻ ngày ấy lại
có thể gan đến thế. Có lẽ nếu ở tuổi trưởng thành, chưa chắc tôi đã dám làm
điều tương tự.
Khoảng mười giờ sáng, sau nhiều giờ đạp xe và đi bộ liên tục, chúng tôi
đặt chân tới Hà Nội. Điều đầu tiên khiến tôi ngạc nhiên là thành phố vẫn đứng
vững. Dĩ nhiên có những nơi bị tàn phá, nhưng Hà Nội không hề mang dáng vẻ của
một thành phố bị khuất phục. Cuộc sống vẫn tiếp diễn. Người dân vẫn đi lại. Các
cơ quan vẫn hoạt động. Thành phố vẫn giữ được nhịp sống vốn có của mình.
Tôi vội vàng về nhà. May mắn thay, vừa bước vào sân thì gặp mẹ tôi từ cơ
quan trở về lấy thêm ít đồ dùng cần thiết. Những ngày Mỹ ném bom, cơ quan của
mẹ tổ chức ăn ở tập trung trong hầm trú ẩn. Hầu như bà không ở nhà mà chỉ tranh
thủ ghé qua thu dọn hoặc mang thêm đồ dùng rồi lại quay trở về cơ quan.
Thấy tôi xuất hiện bất ngờ, mẹ vừa mừng vừa lo. Sau giây phút ngạc nhiên,
bà lập tức trách mắng vì tôi dám tự ý vượt quãng đường xa như vậy giữa lúc
chiến tranh đang ác liệt. Nhưng trong những lời quở trách ấy là sự lo lắng và
tình thương vô hạn của người mẹ. Mắng thì mắng, nhưng bà vẫn nhanh chóng chuẩn
bị cho tôi ít thức ăn mang theo. Đó là cách thể hiện tình cảm quen thuộc của
các bà mẹ Việt Nam thời ấy.
Rời nhà mình, tôi cùng Cường sang thăm gia đình bạn. Tình cảnh cũng chẳng
khác gì. Mẹ Cường vừa thấy hai đứa đã giục ngay: “Đi ngay đi, không được ở lại
đây đâu!”. Người lớn hiểu rõ hiểm nguy hơn chúng tôi rất nhiều.
Trước khi quay lại nơi sơ tán, hai đứa còn tranh thủ đi dạo qua một số
nơi quen thuộc. Chúng tôi ghé qua khu vực Bờ Hồ, công viên Thống Nhất, rồi nhìn
về phía trường Bách Khoa. Những địa danh gắn bó với tuổi thơ vẫn còn đó. Dù
chiến tranh đã để lại nhiều dấu vết, nhưng Hà Nội vẫn giữ được vẻ bình tĩnh và
kiên cường của mình. Điều đó khiến chúng tôi cảm thấy vô cùng tự hào.
Đến chiều, hai đứa quay trở lại Hiệp Hòa. Khi về tới nơi, đám bạn vây kín
xung quanh để nghe kể chuyện. Đặc biệt là những đứa cùng sống ở Hà Nội. Chúng
há hốc miệng nghe từng chi tiết về ga Yên Viên, cầu Đuống, về cảnh tượng trong
thành phố những ngày B-52 đánh phá. Còn chúng tôi thì hãnh diện vô cùng. Dù chỉ
là một chuyến đi ngắn ngủi, nhưng trong suy nghĩ của những cậu thiếu niên ngày
ấy, đó thực sự là một cuộc phiêu lưu lớn.
Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng mỗi khi gặp lại nhau và nhắc đến
chuyến đi ngày ấy, Cường “tẩm” vẫn kể
với giọng đầy hào hứng.
Có một chuyện nhỏ của thời chiến mà mỗi lần nhớ lại
tôi vẫn thấy vừa buồn cười, vừa bâng khuâng. Chuyện ấy xoay quanh một vật dụng
hết sức bình thường đối với người đời nay, nhưng với chúng tôi ngày ấy lại là
cả một kho báu. Đó là chuyện về một cái đài bán dẫn.
Năm 1972, Mẹ tôi được cơ quan cấp cho một chiếc radio
bán dẫn của Hungary. Thời ấy, đó là một tài sản đáng giá. Không phải ai cũng có
điều kiện sở hữu một chiếc đài như vậy. Mẹ được nhận nó theo tiêu chuẩn của Chủ
tịch Công đoàn ngành thương nghiệp Thành phố. Chiếc đài có năm băng sóng, kích thước chỉ
bằng một viên gạch xây nhưng được chế tạo rất chắc chắn và đẹp mắt. Bên ngoài
là một chiếc túi da màu nâu bóng, đường chỉ khâu tinh xảo, nhìn rất sang trọng.
Có điều, nó là một kẻ “háu ăn” khét tiếng, mỗi lần hoạt động phải dùng tới ba
viên pin Con Thỏ loại lớn.
Nhưng Mẹ tôi vốn là người phụ nữ luôn chân luôn tay.
Suốt ngày bận bịu với công việc cơ quan, việc nhà, con cái nên chẳng có thời
gian đâu mà ngồi nghe đài. Bởi vậy, khi chiếc radio xuất hiện trong nhà, người
hào hứng nhất lại là tôi. Chỉ cần vài câu xin phép lấy lệ, tôi đã nhanh chóng
“trưng dụng” nó làm của riêng.
Từ đó, chiếc đài trở thành người bạn đồng hành thân
thiết trong những năm tháng sơ tán ở Hiệp Hòa. Những ai chưa từng sống trong
hoàn cảnh chiến tranh sẽ khó hình dung được cảm giác của một cậu thiếu niên có
trong tay một chiếc radio lúc ấy. Đối với tôi, nó không đơn thuần là một thiết
bị nghe tin tức hay giải trí. Nó là cánh cửa mở ra thế giới bên ngoài, là sợi
dây nối liền vùng quê sơ tán yên ắng với những biến động dữ dội đang diễn ra
khắp đất nước.
Tôi mang chiếc đài theo gần như mọi lúc mọi nơi. Chỉ
trừ những giờ ngồi trong lớp học và khi đi ngủ, còn lại nó luôn ở cạnh tôi.
Nhiều buổi chiều, tôi đạp xe dọc theo bờ sông Cầu. Con sông ấy hiền hòa, thơ
mộng, chảy qua những bãi ngô, bãi dâu xanh ngắt. Tôi thong thả đạp xe, vừa đi
vừa nghe đài. Có lúc là những bài hát cách mạng quen thuộc. Có lúc là chương
trình đọc thơ với những giọng ngâm trầm bổng. Có khi là những câu chuyện cảnh
giác, những vở kịch truyền thanh hấp dẫn khiến người nghe chăm chú từ đầu đến
cuối.
Thời đó có một kiểu chơi đài rất phổ biến. Người ta
thường đeo chiếc radio bên hông rồi mở thật to khi đi trên đường để chứng tỏ
mình sành điệu và có điều kiện. Tôi lại không thích như vậy. Chiếc đài của tôi
được đặt gọn trong một chiếc túi vải bạt màu nước dưa đã cũ, treo ở ghi đông xe
đạp. Âm lượng luôn được vặn vừa đủ nghe. Tiếng phát ra khe khẽ, lúc gần lúc xa
theo nhịp chuyển động của chiếc xe, như thể vọng lên từ một nơi rất xa xăm nào
đó.
Nhưng điều khiến tôi mê mẩn nhất không phải là những
chương trình văn nghệ. Tôi mở đài chủ yếu để nghe tin tức. Mà tin tức thời
chiến thì hiếm khi là tin vui. Hôm nay nơi này bị ném bom. Ngày mai nơi khác có
thương vong. Những bản tin liên tục nhắc đến chiến sự, đến những trận đánh ác
liệt, đến những tổn thất và hy sinh. Nghe nhiều rồi thành quen.
Cũng chính từ sự tò mò của tuổi trẻ mà tôi bắt đầu
nghe cả đài ta lẫn đài địch. Tôi học theo cách của Bố. Trên mặt kính dò sóng,
tôi dùng bút chì hai màu xanh đỏ đánh dấu vị trí các đài cần nghe. Tôi ghi nhớ
từng khung giờ phát sóng, từng khoảng tần số. Đến giờ là mở đúng kênh, không
cần mất công dò tìm.
Nhờ vậy mà trong suốt những năm chiến tranh, đặc biệt
là những tháng cuối năm 1972 đầy khốc liệt, tôi có điều kiện tiếp nhận thông
tin từ cả hai phía. Dĩ nhiên, mỗi bên nói một kiểu, mỗi bên có cách nhìn riêng.
Nhưng nghe nhiều nguồn khác nhau giúp tôi hiểu được phần nào bức tranh rộng lớn
của cuộc chiến đang diễn ra.
Cuối năm ấy, Hà Nội bước vào những ngày lịch sử với
những trận tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ. Không khí chiến tranh
bao trùm khắp nơi. Tiếng còi báo động, tiếng súng phòng không, những tin tức
dồn dập phát ra từ chiếc radio khiến mọi người luôn trong tâm trạng căng thẳng.
Chính nhờ những thông tin thu nhận được qua chiếc đài
mà tôi có đủ tự tin để rủ Duy Cường thực hiện chuyến đi từ nơi sơ tán trở về Hà
Nội giữa những ngày bom đạn ác liệt ấy. Nghĩ lại bây giờ mới thấy đó là một
quyết định khá liều lĩnh của tuổi trẻ. Nhưng lúc đó, chúng tôi chỉ nghĩ đơn giản
rằng mình đã nắm được tình hình và có thể tự bảo đảm an toàn cho bản thân.
Thế nhưng cuộc đời vốn không phải lúc nào cũng suôn
sẻ. Đầu năm 1973, một tai nạn bất ngờ đã xảy đến với người bạn đồng hành trung
thành của tôi.
Hôm ấy tôi đang đạp xe từ Hà Nội trở lại nơi sơ tán.
Khi đến đoạn cầu phao bắc qua sông Hồng, ở khu vực nay là chân cầu Chương
Dương, con đường khá gập ghềnh. Trong lúc đang thả dốc, chiếc xe bất ngờ cán
phải một hòn đá lớn. Cả người lẫn xe bị hất nảy lên. Cú xóc mạnh làm chiếc túi
vải bạt treo trên ghi đông bật tung ra ngoài và rơi xuống mép đường.
Mọi việc diễn ra chỉ trong tích tắc. Từ phía sau, một
chiếc xe tải đang lao tới. Tôi chỉ kịp thấy bánh xe đồ sộ của nó lướt ngang rồi
khẽ chồm lên mép chiếc túi. Tim tôi như thắt lại. Tôi vội vàng dừng xe, chạy
tới nhặt chiếc túi lên. Bề ngoài chẳng có gì bất thường. Vì thế tôi vẫn treo nó
lên ghi đông rồi tiếp tục đạp xe về nhà. Đến nơi, việc đầu tiên là lấy chiếc
radio ra kiểm tra. Thoạt nhìn, nó vẫn nguyên vẹn. Lớp vỏ bóng bẩy không hề nứt vỡ.
Chiếc loa vẫn phát ra âm thanh rõ ràng. Tôi thở phào nhẹ nhõm, nghĩ rằng nó đã
thoát nạn. Nhưng niềm vui kéo dài không lâu. Khi đưa tay xoay núm dò sóng, tôi
phát hiện nó đã cứng đờ. Núm công tắc kiêm điều chỉnh âm lượng cũng bị kẹt hoàn
toàn.
Một cuộc “đại phẫu thuật” lập tức được tiến hành. Tôi
tháo từng con ốc, cẩn thận mở nắp sau rồi khám nghiệm hiện trường. Kết quả thật
đáng buồn. Sức nặng của bánh xe tải tuy chỉ chờm qua một phần chiếc túi nhưng
đã đủ làm toàn bộ hệ thống kim loại bên trong bị biến dạng. Các cơ cấu điều
chỉnh đều bị ép bẹp dúm.
Lúc ấy tôi vốn rất tự tin vào khả năng kỹ thuật của
mình. Tôi thường sửa chữa đủ thứ linh tinh trong nhà nên luôn tin rằng chẳng có
việc gì là không làm được. Thế nhưng trước tình trạng của chiếc đài, tôi đành
chịu thua. Ngắm nghía một hồi, tôi lắp mọi thứ trở lại như cũ rồi buồn bã đóng
nắp.
Từ ngày đó, chiếc radio vẫn tiếp tục theo tôi trên mọi
nẻo đường. Nhưng nó không còn là chiếc đài thần kỳ như trước nữa. Nó chỉ nghe
được duy nhất một đài phát thanh. Âm lượng cũng cố định ở mức rất nhỏ. Muốn tắt
máy không còn cách nào khác ngoài việc mở nắp sau rồi tháo hẳn một viên pin Con
Thỏ ra ngoài.
Dẫu vậy, tôi vẫn không nỡ bỏ nó. Chiếc đài tiếp tục
đồng hành cùng tôi cho đến ngày 27 tháng 1 năm 1973, khi Hiệp định Paris được
ký kết, chiến tranh bước sang một giai đoạn mới và chúng tôi được trở về Hà
Nội. Có thể nói rằng đến thời điểm ấy, chiếc radio đã hoàn thành trọn vẹn “sứ
mệnh lịch sử” của mình. Nó đã mang đến cho tôi những bản tin nóng hổi của thời
cuộc, những bài hát, những bài thơ, những câu chuyện của một thời tuổi trẻ
không thể nào quên. Rồi năm tháng trôi đi. Cuộc sống thay đổi. Những chiếc
radio nhỏ bé dần nhường chỗ cho các thiết bị hiện đại hơn. Còn chiếc đài
Hungary năm nào, sau một thời gian nằm lặng lẽ đâu đó trong nhà, cuối cùng đã
biến mất khỏi ký ức vật chất. Tôi không còn nhớ mình đã cất nó ở đâu, cho ai
hay bỏ đi từ lúc nào.
Ở Cẩm Xuyên, chúng tôi ở lại một thời gian khá dài nên dần dần cũng quen
với nếp sinh hoạt của vùng quê ven sông. Điều kiện vật chất còn nhiều thiếu
thốn nhưng mọi người đều cố gắng thu xếp để cuộc sống ổn định nhất có thể. Nước
dùng cho sinh hoạt hằng ngày chủ yếu được chủ nhà gánh từ sông về. Buổi sáng,
chúng tôi dùng thứ nước ấy để rửa mặt, đánh răng và làm các công việc vệ sinh
cá nhân. Việc tắm giặt thì đơn giản hơn, chỉ cần đi bộ ra bờ sông Cầu là có thể
thỏa sức vùng vẫy trong làn nước mát. Vào mùa hè, đó là một niềm vui nhỏ sau
những giờ học tập và lao động. Tuy nhiên, đến mùa đông thì việc tắm sông trở
thành thử thách thực sự. Nước lạnh buốt, gió thổi hun hút trên bãi sông rộng và
trống trải khiến ai cũng phải ngần ngại trước khi bước xuống nước.
Tết Nguyên đán năm Quý Sửu 1973, sau kỳ nghỉ ngắn ngủi bên gia đình,
chúng tôi lại tập trung trở về Cẩm Xuyên để tiếp tục học tập. Không khí ngày
đầu năm mới vẫn còn phảng phất khắp nơi. Thế nhưng, ngay sáng hôm sau, một tin
dữ đã làm mọi người bàng hoàng. Có một sinh viên bị chết đuối ngoài bờ sông
Cầu.
Sau này chúng tôi mới được biết rõ câu chuyện. Đêm hôm trước, anh sinh viên
ấy trở lại trường sau kỳ nghỉ Tết. Khi đến bến sông thì đã quá khuya, không còn
đò qua lại. Có lẽ vì sốt ruột muốn kịp trở về nơi ở, anh quyết định bơi qua
sông. Giữa đêm đông giá lạnh, dòng nước sông Cầu vốn đã rộng lại càng trở nên
nguy hiểm. Có thể vì quá lạnh, cũng có thể vì kiệt sức hoặc bị chuột rút giữa
dòng nên anh đã không thể vượt qua được và bị nước cuốn đi.
Sáng sớm hôm sau, những người dân đi gánh nước hoặc ra bãi sông chăm sóc
rau màu phát hiện một số đồ đạc cùng chiếc ba lô dạt vào bờ. Khi mở ra xem, họ
nhận thấy đó là tư trang của một sinh viên nên lập tức báo cho mọi người. Đến
trưa, những người làm nghề chài lưới đã tìm thấy thi thể anh mắc trong lưới và
đưa vào bờ. Anh tên là Bồi, nguyên là công nhân cơ khí trước khi được cử đi
học, thuộc khóa 15 của trường.
Đêm hôm đó, chúng tôi được phân công thay nhau túc trực bên thi hài của
anh. Thi thể được phủ bằng một chiếc chăn chiên mỏng màu sẫm. Trong bóng tối,
hình dáng co quắp dưới tấm chăn hiện lên như một khối đen lặng lẽ giữa bãi cát
khiến những người yếu bóng vía không khỏi rùng mình. Tôi cũng có một ca trực
kéo dài khoảng một giờ đồng hồ. Đó là khoảng thời gian yên tĩnh nhưng đầy suy
nghĩ. Cái chết bất ngờ của một người bạn đồng môn khiến ai nấy đều cảm thấy xót
xa và nhận ra sự mong manh của cuộc sống.
Sau khi hoàn tất các công việc cần thiết, chúng tôi trở về Hà Nội để tiếp
tục chương trình học. Những ngày tháng trên giảng đường lại diễn ra bình
thường, nhưng hình ảnh về người sinh viên xấu số bên bờ sông Cầu trong những
ngày đầu xuân năm ấy vẫn còn đọng lại rất lâu trong ký ức của những người đã
chứng kiến.


Nhận xét
Đăng nhận xét