Thử thách ở Đại Từ
Sau một đêm hành quân dài trên những chiếc xe tải quân
sự, gần sáng đoàn xe mới dừng lại. Chúng tôi lục tục xuống xe trong ánh sáng
nhờ nhờ của buổi sớm. Trước mắt hiện ra một khoảng đất rộng nằm dưới tán một
cây đa cổ thụ khổng lồ. Cây đa ấy có bộ rễ nổi ngoằn ngoèo, thân cây to đến vài
người ôm không xuể, cành lá xòe rộng che kín cả một vùng đất. Sau này, trong
những câu chuyện của học sinh nhà trường, nơi ấy được gọi bằng một cái tên rất
thân thuộc: “cây đa Hiệu bộ”.
Đứng dưới gốc đa nhìn ra bốn phía, tôi có cảm giác
mình vừa bước vào một thế giới hoàn toàn khác. Nếu như Trại Hòe nằm trên những
quả đồi trung du thoáng đãng thì nơi đây là một vùng rừng núi mênh mông. Những
dãy núi nối tiếp nhau trùng điệp chạy đến tận chân trời. Sương sớm còn phủ trên
các sườn núi, khiến cảnh vật vừa hùng vĩ vừa có chút bí ẩn.
Sau khi tập trung điểm danh, chúng tôi được chia thành
từng nhóm nhỏ rồi phân tán vào các thôn bản quanh vùng để tạm trú trong nhà
dân. Trung đội của tôi được đưa về thôn An Mỹ thuộc xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên.
Con đường từ cây đa Hiệu bộ vào làng là một trải
nghiệm khó quên đối với những đứa trẻ lần đầu đến vùng núi. Muốn tới nơi phải
vượt qua một con suối khá rộng. Mùa ấy nước không quá sâu nhưng lòng suối trải
dài hơn ba mươi mét. Dân địa phương gọi đó là suối Cái hoặc suối Ton. Còn chúng
tôi, với thói quen đặt tên theo cách riêng của mình, gọi luôn là suối Hiệu bộ
vì nó nằm trên đường đi từ khu Hiệu bộ vào nơi ở.
Nước suối trong veo, nhìn rõ những viên sỏi dưới đáy.
Dòng nước chảy lững lờ qua các bãi đá trắng, phản chiếu ánh nắng lấp lánh. Mỗi
lần lội qua suối, quần xắn lên tận đầu gối, chân dẫm trên những viên đá trơn
nhẵn, tôi lại thấy mình như đang tham gia một cuộc phiêu lưu.
Nhà dân ở An Mỹ làm tôi ngạc nhiên. Khác với những
ngôi nhà đơn sơ ở vùng trung du mà tôi từng biết, nhà ở đây khá rộng rãi, chắc
chắn và sạch sẽ. Chung quanh nhà thường có vườn cây ăn quả. Trong ký ức tôi,
nổi bật nhất vẫn là những cây hồng sai trĩu quả. Thời điểm ấy chỉ còn ít tuần
nữa là đến Tết Trung thu. Khắp các khu vườn, những chùm hồng chín đỏ rực nổi
bật giữa màu xanh của lá. Mỗi lần đi ngang qua, lũ trẻ chúng tôi đều không khỏi
thèm thuồng. Nhìn những quả hồng căng mọng đung đưa trên cành, đứa nào cũng
nuốt nước bọt. Nhưng kỷ luật nhà trường rất nghiêm. Chúng tôi chỉ biết ngắm
nhìn chứ không ai dám tự tiện hái quả của dân.
Những ngày đầu ở nhà dân trôi qua khá yên ổn. Tuy
nhiên đó chỉ là nơi ở tạm. Sau vài tuần, khi lực lượng công binh hoàn thành
việc dựng lán trại, chúng tôi lại chuyển vào khu vực đóng quân mới trong rừng.
Đó là một khu rừng khá sâu với nhiều cây gỗ lớn. Những
thân cây cao vút vươn lên bầu trời, tán lá che kín ánh nắng. Không khí lúc nào
cũng mát mẻ nhưng ẩm thấp. Xung quanh nơi ở mọc rất nhiều cây dọc. Đây là loại
cây mà trước đó tôi chưa từng biết. Mùa ấy quả dọc chín rụng đầy dưới gốc.
Những quả màu vàng nâu nằm lăn lóc khắp nơi. Lũ học sinh chúng tôi tò mò nhặt
ăn thử. Ban đầu vị chua chua thanh thanh khá hấp dẫn. Ăn vài lần thấy ngon, đứa
nào cũng tranh nhau nhặt.
Thế nhưng niềm vui ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Sau
mỗi lần ăn, nhựa quả dọc dính quanh môi, quanh miệng rồi bám chặt vào răng. Cảm
giác vừa khó chịu vừa mất vệ sinh. Chỉ vài hôm sau, chẳng còn ai thiết tha với
thứ quả ấy nữa.
Phía sau khu nhà là một con suối nhỏ len lỏi dưới
những tán cây rậm rạp. Đây chính là nơi phục vụ hầu hết nhu cầu sinh hoạt của
chúng tôi. Sáng sớm, từng tốp học sinh nối nhau xuống suối làm vệ sinh. Những
ngày trời nắng đẹp, nơi đây lại trở thành khu tắm giặt tập thể.
Điều đặc biệt là khu vực này rất kín đáo. Muốn xuống
suối phải đi qua một rừng tre trúc dày đặc. Những bụi tre cao vượt đầu người,
chen chúc nhau tạo thành một đường hầm xanh mát. Bên trong lúc nào cũng tối và
mát lạnh. Đi qua khu rừng tre ấy rồi mới đến dòng suối nhỏ róc rách phía dưới.
Tuy nhiên, cuộc sống trong rừng không hề dễ chịu như
vẻ đẹp bên ngoài của nó.
Khó khăn nhất là chuyện ăn uống. Ngày ba bữa, các anh
nuôi phải gánh cơm từ khu bếp tập trung đi qua những con đường rừng để mang đến
cho chúng tôi. Mùa khô còn đỡ, gặp hôm trời mưa đường lầy lội, việc vận chuyển
thức ăn vô cùng vất vả. Chúng tôi nhiều lần nhìn thấy các anh gánh những đôi
quang gánh nặng trĩu, mồ hôi nhễ nhại dù thời tiết se lạnh.
Rồi bệnh tật bắt đầu xuất hiện. Khí hậu ẩm thấp trong
rừng khiến nhiều người bị ghẻ lở. Muỗi rừng rất nhiều. Ban đêm nằm ngủ dưới màn
vẫn nghe tiếng vo ve quanh tai. Ngoài muỗi còn đủ loại côn trùng khác như bọ
chét, kiến và những loài sâu bọ mà trước đó chúng tôi chưa từng gặp. Có những
sáng ngủ dậy phát hiện chân tay đầy những nốt sưng đỏ do côn trùng cắn.
Không ít học sinh bị mệt mỏi vì môi trường sống thiếu
thoáng đãng. Cuộc sống trong rừng tuy an toàn trước máy bay địch nhưng lại đặt
ra những thử thách mới về sức khỏe và sinh hoạt. Có lẽ vì vậy mà không lâu sau,
nhà trường quyết định chuyển chúng tôi ra một địa điểm khác thuận lợi hơn. Nơi
ở mới nằm trên một ngọn đồi trọc. Sau này nhớ lại, tôi vẫn còn hình dung rõ
quang cảnh của ngọn đồi ấy. Khắp sườn đồi là những bụi sim mọc dày đặc. Đến
mùa, sim chín tím cả một khoảng đất. Xen giữa các bụi sim là vài cây sau sau
cao lớn đứng thưa thớt. Mùa thu lá cây chuyển màu đỏ vàng rất đẹp.
Các lớp học, khi đó gọi là các trung đội, được bố trí
ở ba góc khác nhau của đồi. Mỗi lớp ở trong hai căn nhà gỗ rộng rãi. Vách và
mái nhà được đan bằng những tấm phên nứa rất khéo léo. Nhà tuy đơn sơ nhưng khô
ráo, thoáng mát và sạch sẽ hơn nhiều so với nơi ở trong rừng. Bên cạnh khu nhà
ở là một căn nhà riêng làm lớp học. Lần đầu tiên sau nhiều tháng liên tục di
chuyển, chúng tôi mới có cảm giác cuộc sống phần nào ổn định trở lại.
Dưới chân đồi có một chiếc giếng nước dùng chung cho
việc tắm giặt và sinh hoạt. Hằng ngày, từng tốp học sinh xuống giếng lấy nước
rồi lại leo lên đồi. Dù hơi vất vả nhưng ai cũng thấy dễ chịu hơn nhiều so với
cảnh sống giữa rừng sâu.
Trên đỉnh đồi là nơi đặt Ban chỉ huy Đại đội. Nhà chỉ
huy nằm ở vị trí cao nhất, từ đó có thể quan sát toàn bộ khu vực xung quanh.
Thấp hơn một chút là nhà ăn và nhà bếp chung phục vụ cả ba trung đội, liền sát
với một dòng suối nhỏ chảy qua.
Xung quanh các khu nhà, công binh đã đào sẵn hệ thống
giao thông hào khá hoàn chỉnh. Những đường hào ngoằn ngoèo nối liền nhà ở, lớp
học, nhà ăn và sở chỉ huy. Đó là công trình phòng không cần thiết trong bối
cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt.
Cuộc sống mới vừa ổn định thì một sự kiện quan trọng
diễn ra. Ngày 15 tháng 10 năm 1965, nhà trường tổ chức lễ khai giảng đầu tiên
của chúng tôi. Đó là một ngày đặc biệt mà đến tận hôm nay tôi vẫn còn nhớ.
Sáng sớm, tất cả học sinh đều mặc quân phục chỉnh tề.
Hàng ngũ được sắp xếp ngay ngắn rồi hành quân vào sâu dưới chân dãy Tam Đảo.
Nơi tổ chức lễ khai giảng là một địa điểm có tên rất lạ đối với tôi lúc ấy:
thác Bom Bom.
Đường đi khá xa. Muốn vào bãi tập trung phải lội qua
một con suối chảy ngang giữa rừng. Sau con suối là một bãi đá rộng nằm lọt giữa
những hàng cây lớn. Đó là địa điểm được lựa chọn rất cẩn thận. Không gian đủ
rộng để tập trung hàng trăm học sinh nhưng lại được cây cối che phủ kín đáo.
Nếu có máy bay xuất hiện, mọi người có thể nhanh chóng phân tán vào rừng để ẩn
náu tránh bom đạn.
Khi đoàn học sinh nối hàng lội qua suối, tôi bất ngờ
nhìn thấy một người đàn ông đang đứng bên bờ. Ông mang theo chiếc máy quay phim
khá lớn và liên tục hướng ống kính về phía chúng tôi. Đó là lần đầu tiên trong
đời tôi được nhìn thấy một phóng viên điện ảnh tác nghiệp.
Tôi không biết những thước phim ấy sau này có còn hay
không. Nhưng hình ảnh những cậu học sinh nhỏ tuổi trong quân phục chỉnh tề, lội
qua dòng suối dưới chân Tam Đảo để dự lễ khai giảng giữa những năm tháng chiến
tranh, mãi mãi trở thành một phần ký ức đẹp đẽ và đáng tự hào của tuổi thơ
chúng tôi.
Sau lễ khai giảng đầu tiên dưới chân núi Tam Đảo, cuộc
sống của chúng tôi bước sang một giai đoạn mới. Những ngày hành quân, chuyển
địa điểm và làm quen với nơi ở mới dần lùi lại phía sau. Công việc chính của
chúng tôi từ đó là học tập và rèn luyện theo nền nếp của nhà trường.
Lớp học nằm trên sườn đồi, giữa những bụi sim và những
cây sau sau thưa lá. Ngôi nhà học được dựng bằng gỗ, mái và vách lợp phên nứa.
Những hôm trời nắng, ánh sáng lọt qua các khe nứa tạo thành những vệt sáng dài
trên nền đất. Những hôm mưa, tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái nhà vang lên như
tiếng trống. Điều kiện học tập còn rất thiếu thốn, bàn ghế đơn sơ, sách vở
không nhiều, nhưng không khí học tập thì lúc nào cũng sôi nổi.
Các thầy giáo, cô giáo của chúng tôi đều là quân nhân.
Họ vừa là người dạy học, vừa là người quản lý, chăm sóc và rèn luyện học sinh.
Bây giờ nghĩ lại, tôi luôn có cảm giác những cán bộ của Trường Văn hóa Quân đội
thời đó là những người được tuyển chọn rất kỹ. Họ không chỉ giỏi chuyên môn mà
còn có tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nghề và tình thương đối với học sinh.
Trong số các thầy giáo, người để lại cho tôi nhiều ấn
tượng nhất là thầy Tiệp dạy toán. Thầy có vóc người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn. Giọng
nói trong trẻo, dễ nghe và đặc biệt có cách giảng bài rất cuốn hút. Thầy không
bao giờ chỉ đứng yên một chỗ đọc bài. Trong mỗi tiết học, thầy luôn di chuyển,
vừa giảng vừa minh họa bằng những động tác rất sinh động. Điều khiến chúng tôi
khâm phục nhất là khả năng vẽ hình của thầy. Mỗi khi giảng bài hình học, thầy
chỉ cầm viên phấn rồi vung tay một vòng trên bảng. Thế là hiện ra một hình tròn
gần như hoàn hảo. Không com-pa, không dụng cụ hỗ trợ, chỉ bằng một động tác rất
tự nhiên. Mỗi lần như vậy, cả lớp lại trầm trồ thán phục.
Nhưng điều hấp dẫn nhất trong giờ học toán của thầy
lại nằm ở năm phút cuối cùng. Gần như buổi học nào cũng vậy, sau khi hoàn thành
bài giảng, thầy dành ít phút để kể chuyện lịch sử, đặc biệt là những trận đánh
nổi tiếng của Napoleon. Giọng kể của thầy lúc trầm lúc bổng, khi hào hùng, khi
hồi hộp khiến cả lớp chăm chú lắng nghe. Những trận đánh diễn ra cách chúng tôi
hàng trăm năm và ở tận bên kia trái đất bỗng hiện lên sống động như đang diễn
ra trước mắt. Chính từ những câu chuyện ấy mà nhiều học sinh bắt đầu yêu thích
lịch sử và ham đọc sách hơn.
Cuộc sống học tập ở Đại Từ không chỉ diễn ra trong lớp
học. Ngoài giờ học ban ngày, chúng tôi còn có những giờ tự học và ôn bài vào
buổi tối. Tuy nhiên, tuổi trẻ vốn hiếu động nên sau khi hoàn thành nhiệm vụ học
tập, chúng tôi lại nghĩ ra đủ trò vui.
Phổ biến nhất là trò chơi “trận giả”. Mỗi khi trời khô
ráo, sau bữa tối là cả bọn rủ nhau chia thành hai phe. Khu vực xung quanh đồi,
những bụi sim, các đoạn giao thông hào và những gốc cây lớn trở thành chiến
trường của chúng tôi. Luật chơi rất đơn giản. Hai bên tìm cách bí mật tiếp cận
đối phương. Ai phát hiện ra đối thủ trước thì hô to hoặc giả động tác nổ súng.
Người bị phát hiện coi như “hy sinh” và phải rời khỏi cuộc chơi.
Nhiều trận kéo dài hàng giờ đồng hồ. Có đứa nằm im trong
bụi sim đến mức kiến bò đầy người vẫn không dám động đậy. Có đứa bò dưới giao
thông hào cả quãng dài chỉ để bất ngờ xuất hiện phía sau đối phương.
Không ai nhớ chính xác một trận đánh kết thúc như thế
nào. Chúng tôi chỉ biết rằng tối nào trời đẹp là tối ấy lại có tiếng cười nói
vang lên khắp sườn đồi.
Thế nhưng cuộc sống giữa núi rừng cũng tiềm ẩn nhiều
điều nguy hiểm. Một đêm, sau khi kẻng báo giờ ngủ đã vang lên, thầy Ninh như
thường lệ cầm chiếc đèn bão đi kiểm tra các nhà. Trên tay thầy còn mang theo
cây gậy dài. Bất ngờ phía ngoài cửa nhà có tiếng động mạnh. Chúng tôi nghe thấy
tiếng thầy quát lên rồi tiếng gậy đập liên tiếp xuống đất. Sáng hôm sau mới
biết thầy vừa đánh chết một con rắn cạp nong dài hơn một mét ngay trước cửa nơi
chúng tôi ngủ. Tin ấy khiến cả bọn vừa sợ vừa tò mò kéo nhau đi xem xác rắn. Nghĩ
lại mới thấy may mắn. Những năm sống giữa rừng núi, tuy thường xuyên gặp rắn,
côn trùng và nhiều loài thú hoang nhưng không có học sinh nào bị tai nạn nghiêm
trọng.
Bên cạnh học tập, chúng tôi còn tham gia nhiều công
việc lao động phục vụ đời sống hàng ngày. Hàng tháng, từng tổ học sinh được
phân công lên khu vực cây đa Hiệu bộ để vận chuyển gạo về cho nhà bếp. Đây là
công việc khá nặng đối với những cậu bé mới mười tuổi.
Nhà bếp cấp cho chúng tôi quang gánh, thúng và bao tải
gai. Những chiếc bao tải bằng sợi đay vừa cứng vừa ráp. Vác lên vai một lúc là
đau rát cả da. Lũ học trò thành phố vốn chưa quen lao động chân tay nên ban đầu
ai cũng khổ sở. Sau nhiều lần thử nghiệm, chúng tôi nghĩ ra một sáng kiến khá
thú vị. Đó là buộc chặt hai ống quần dài lại, đổ gạo vào rồi quàng lên vai mang
đi. Tuy mỗi lần chỉ chở được ít hơn nhưng lại nhẹ nhàng hơn nhiều. Nhờ thế công
việc trở nên dễ chịu hơn.
Thỉnh thoảng, nhà trường còn cử học sinh vào rừng lấy
nứa hoặc lấy củi giúp nhà bếp. Những chuyến đi ấy thường kéo dài cả buổi. Chúng
tôi phải đi bộ qua nhiều đoạn dốc, lội qua những con suối nhỏ rồi men theo các
sườn núi. Có lúc ai cũng thấm mệt. Nhưng chỉ cần tiếng hát cất lên là không khí
lại khác hẳn. Trong lớp có bạn Tạ Quang Chính hát rất hay. Giọng bạn trầm và
ấm. Mỗi lần nghỉ chân, Chính lại cất tiếng hát bài “Quảng Bình quê ta ơi”. Ngay
lập tức, cả đoàn cùng hòa theo điệp khúc: “Khoan khoan hò khoan...”. Tiếng hát
vang vọng giữa núi rừng, dội vào các vách núi xa xa rồi vọng trở lại. Những
bước chân đang mỏi mệt bỗng trở nên nhẹ nhàng hơn. Đúng là âm nhạc có một sức
mạnh kỳ lạ.
Trên ngọn đồi nơi chúng tôi ở còn có một lò rèn nhỏ
của người dân địa phương. Từ sáng sớm đến chiều tối, tiếng búa gõ vào đe vang
lên leng keng không ngớt. Ở đây người ta rèn nhiều loại dao phục vụ lao động
sản xuất. Hấp dẫn nhất đối với lũ học sinh là loại dao quắm đi rừng. Đó là
những con dao thép có mũi cong như chiếc mỏ chim, cán bằng gỗ chắc chắn. Nhiều
bạn mua một chiếc đeo bên hông. Tôi cũng dành dụm tiền để sắm một con. Con dao
được đựng trong bao gỗ, buộc dây đeo bên thắt lưng. Mỗi lần mang theo, tôi cảm
thấy mình chẳng khác gì một cậu bé miền núi thực thụ.
Ngoài học tập và lao động, chúng tôi còn tìm đủ cách
cải thiện bữa ăn. Dưới chân đồi có những thửa ruộng rộng. Sau mỗi đợt cấy lúa,
nước được đưa vào ruộng và cua đồng xuất hiện rất nhiều. Thế là mỗi khi có thời
gian rảnh, chúng tôi lại kéo nhau xuống ruộng bắt cua. Nhiều hôm thu hoạch khá
lớn. Nhà bếp giúp nấu thành nồi canh cua nóng hổi để cả lớp cùng liên hoan.
Nhưng bắt cua cũng không phải lúc nào vui vẻ. Ruộng
nước là lãnh địa của đỉa. Có hôm đang mải mê tìm cua, một bạn bỗng phát hiện
con đỉa to bám chặt vào chân. Người đó chính là bạn Đinh Quân. Vừa nhìn thấy
con đỉa, Quân hét lên thất thanh rồi nhảy dựng khỏi mặt ruộng. Hoảng quá, cậu
còn leo tót lên lưng một bạn đứng cạnh. Cảnh tượng ấy khiến cả bọn cười nghiêng
ngả. Có đứa cười đến chảy cả nước mắt.
Trong vô số những kỷ niệm của quãng đời sống giữa núi
rừng Đại Từ, có một câu chuyện mà đến tận bây giờ, mỗi khi nhắc lại, tôi vẫn
vừa thấy buồn cười vừa thấy bâng khuâng. Đó là chuyện nuôi chó của chúng tôi.
Hồi ấy, khu trường đóng quân nằm trên một ngọn đồi
biệt lập giữa rừng núi. Ban ngày còn đông vui, nhưng khi đêm xuống, xung quanh
chỉ còn tiếng gió thổi qua các bụi sim, tiếng côn trùng rả rích và thỉnh thoảng
là tiếng chim rừng kêu xa xa. Đối với những cậu học trò mới mười một, mười hai tuổi, cuộc sống ấy tuy thú vị nhưng đôi lúc cũng mang lại cảm giác cô quạnh.
Có lẽ vì thế mà việc nuôi chó dần dần trở thành một
phong trào trong học sinh. Ban đầu chỉ một vài lớp có chó. Sau đó, thấy có chó
vừa vui vừa tiện, các lớp khác cũng tìm cách xin hoặc mua chó con của dân địa
phương đem về nuôi. Chẳng mấy chốc, khắp khu trường chỗ nào cũng thấy bóng
những chú chó chạy tung tăng. Chúng tôi yêu chó theo cách rất trẻ con và chân
thành. Mỗi con chó đều có tên riêng. Có con được đặt tên theo màu lông, có con
được đặt theo tên nhân vật trong truyện hoặc phim mà chúng tôi từng nghe kể.
Mỗi lần tan học hay lao động về, việc đầu tiên của nhiều đứa là chạy đi tìm chó
của lớp mình.
Có chó thì sinh hoạt cũng vui hơn hẳn. Chúng chạy theo
chúng tôi khắp nơi, từ lớp học, nhà ở đến sân chơi. Buổi tối, khi chúng tôi
ngồi học bài dưới ánh đèn dầu leo lét, chúng nằm cuộn mình bên chân giường hoặc
trước cửa nhà. Thỉnh thoảng nghe tiếng động lạ, chúng lại sủa vang khiến mọi
người cảm thấy yên tâm. Trong hoàn cảnh sống giữa rừng núi, những chú chó thực
sự trở thành bạn đồng hành của chúng tôi.
Nhiều bạn còn chăm sóc chó rất cẩn thận. Thức ăn của
mình có gì ngon cũng để dành một ít cho chó. Có bạn còn tranh thủ giờ nghỉ để
bắt ve, tắm rửa hoặc làm chỗ nằm cho chúng. Những bạn được coi là "có điều
kiện" hơn còn nuôi riêng một con chó thay vì nuôi chung theo lớp. Phong
trào nuôi chó ngày càng phát triển khiến khu trường lúc nào cũng rộn ràng tiếng
sủa. Nhưng rồi một ngày, tin dữ bất ngờ đến.
Nhà trường thông báo cấm nuôi chó. Lý do được giải
thích rất rõ ràng. Trong điều kiện sống giữa rừng núi, việc tiêm phòng gần như
không thể thực hiện đầy đủ. Nếu xảy ra bệnh dại thì hậu quả sẽ rất nguy hiểm.
Vì vậy, để bảo đảm an toàn cho học sinh, Ban chỉ huy quyết định tất cả chó
trong trường phải được tập trung về nhà bếp. Khi nghe thông báo ấy, cả lớp tôi
lặng đi. Chúng tôi hiểu lý do của nhà trường là đúng. Thế nhưng tình cảm dành
cho những con vật đã gắn bó với mình suốt nhiều tháng trời khiến đứa nào cũng
thấy buồn và ấm ức. Dù vậy, trong môi trường quân đội, mệnh lệnh là mệnh lệnh. Không
ai có quyền phản đối. Ngày những chú chó bị đưa xuống nhà bếp là một ngày rất
đặc biệt. Nhiều đứa đứng nhìn theo với vẻ mặt buồn xo. Có đứa còn lén lau nước
mắt.
Anh nuôi của trường là một người dân tộc Tày rất khéo
tay. Chỉ ít giờ sau, từ khu bếp đã bốc lên những làn khói thơm ngào ngạt. Mùi
thịt nấu rựa mận lan khắp sườn đồi, quyện trong gió núi khiến ai đi qua cũng
phải hít hà. Trong hoàn cảnh thiếu thốn lúc bấy giờ, đó là một bữa ăn được coi
là rất sang trọng.
Nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Toàn bộ lớp tôi đồng
loạt từ chối đến nhà ăn. Những cậu bé vốn ngày thường luôn đói bụng, luôn mong có thêm
thức ăn, hôm ấy lại nhất quyết không động đũa. Đó không phải là một cuộc phản
kháng có tổ chức. Chỉ đơn giản là chúng tôi không nỡ ăn những con vật đã từng
là bạn của mình.
Một vài bạn còn lặng lẽ xuống bếp xin lại những khúc
xương còn sót lại trong nồi xáo. Chẳng ai biết đó là xương của con chó nào, của
lớp nào. Nhưng đối với chúng tôi lúc ấy, điều đó không còn quan trọng nữa.
Cả nhóm mang số xương ấy về khu nhà ở. Giữa sân lớp học
có một tảng đá lớn. Chúng tôi đào một cái hố nhỏ bên cạnh rồi chôn những chiếc
xương xuống như một nghi thức tiễn biệt. Bạn Đỗ Giới, vốn có năng khiếu hội họa
và rất khéo tay, lập tức đi kiếm đất sét về nặn một cái đầu chó. Tác phẩm tuy
đơn sơ nhưng nhìn vào là nhận ra ngay. Cái đầu chó được gắn trên phiến đá làm
thành một tấm bia tưởng niệm. Sau đó, trong sự nghiêm trang rất trẻ con, cả lớp
đứng thành hàng, cúi đầu mặc niệm. Có đứa còn sụt sịt thật sự.
Nhìn cảnh ấy bây giờ có thể thấy buồn cười. Nhưng vào
thời điểm đó, tất cả chúng tôi đều rất chân thành. Đó là cách những đứa trẻ
sống xa gia đình bày tỏ tình cảm với những người bạn bốn chân đã từng mang đến
cho mình niềm vui và sự gắn bó.
Các thầy trên Đại đội không hề thích trò ấy. Thầy Ninh
sau đó đã họp lớp và phê bình chúng tôi khá nghiêm khắc. Theo các thầy, đó là
những biểu hiện quá ủy mị, không phù hợp với tinh thần của học sinh quân đội. Chúng
tôi ngồi nghe, chẳng đứa nào cãi lại. Nhưng trong lòng mỗi người vẫn lưu giữ
một nỗi tiếc nuối rất riêng.
Nhiều năm đã trôi qua, những chú chó năm ấy từ lâu đã
chỉ còn trong ký ức. Thế nhưng mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy hiện lên rõ mồn
một hình ảnh những cậu học trò nhỏ giữa núi rừng Đại Từ, đứng nghiêm trang
trước một tấm bia đất sét có hình đầu chó. Một câu chuyện vừa ngây ngô, vừa cảm
động, nhưng cũng rất đẹp của tuổi thơ chúng tôi trong những năm tháng chiến
tranh.
Nếu hỏi điều gì khiến những đứa trẻ sống xa gia đình
như chúng tôi mong chờ nhất trong những năm tháng ở Đại Từ, tôi sẽ không ngần
ngại trả lời rằng đó chính là những ngày Chủ nhật.
Suốt cả tuần, cuộc sống của chúng tôi diễn ra đều đặn
theo tiếng kẻng, tiếng còi và những quy định nghiêm ngặt của nhà trường. Học
tập, lao động, sinh hoạt tập thể nối tiếp nhau từ sáng đến tối. Những công việc
ấy giúp chúng tôi bận rộn, giúp quên đi nỗi nhớ nhà. Nhưng sâu thẳm trong lòng,
đứa nào cũng mang theo một khoảng trống riêng dành cho gia đình.
Và Chủ nhật chính là ngày khoảng trống ấy được lấp
đầy. Ngay từ tối thứ Bảy, nhiều đứa đã bắt đầu hồi hộp. Không ai nói ra nhưng
ai cũng âm thầm hy vọng ngày mai sẽ có bố mẹ hoặc người thân lên thăm.
Sáng Chủ nhật ở khu trường luôn có một không khí khác
thường. Dù không phải học hành hay lao động nhưng hầu như chẳng ai ngủ nướng.
Từ rất sớm, nhiều đứa đã thức dậy, thu dọn chăn màn gọn gàng rồi đi ra trước
nhà ngóng nhìn về phía xa.
Nơi chúng tôi hướng mắt về chính là khu vực “cây đa
Hiệu bộ”. Cây đa ấy nằm cách khu lớp học một quãng khá xa. Đó là nơi tiếp nhận
người nhà từ dưới xuôi lên và cũng là nơi đặt trạm liên lạc của nhà trường. Mỗi
Chủ nhật đều có một học sinh hoặc cán bộ được phân công trực ở đó để đón khách
và chuyển tin tức về các lớp.
Ngày ấy làm gì có điện thoại, càng không có những phương
tiện liên lạc hiện đại như bây giờ. Muốn báo tin có người lên thăm, chỉ còn
cách duy nhất là chạy bộ. Bởi vậy, cứ mỗi lần có người nhà đến, cậu liên lạc
lại ba chân bốn cẳng chạy từ cây đa về lớp. Đó thường là những khoảnh khắc náo
nhiệt nhất trong tuần. Đang ngồi học bài, đang chơi ngoài sân hay đang giặt
quần áo, chỉ cần nghe tiếng gọi lớn:
– Có người nhà lên thăm!
Là lập tức hàng chục cái đầu ngẩng lên. Đứa nào có tên
được gọi thì mừng rỡ như bắt được vàng. Chẳng cần ai nhắc, chúng tôi lập tức
lao xuống đồi, băng qua những thửa ruộng, men theo những con đường đất để chạy
ra cây đa.
Nhiều khi vừa chạy vừa đoán xem hôm nay ai lên. Là mẹ?
Là bố? Hay là anh chị em?
Đối với một đứa trẻ sống xa gia đình, được gặp người
thân sau nhiều tuần xa cách là niềm hạnh phúc rất khó diễn tả.
Tôi vẫn nhớ những lần nhìn thấy bóng mẹ từ xa. Mẹ
thường mặc bộ quần áo nâu giản dị, vai đeo chiếc túi vải đã bạc màu. Sau chặng
đường dài mệt nhọc, gương mặt mẹ có phần hốc hác nhưng lúc nào cũng ánh lên
niềm vui khi nhìn thấy con. Còn tôi thì thường chạy ào tới. Nhiều khi chưa kịp
chào hỏi gì đã ôm chầm lấy mẹ. Những giây phút ấy luôn khiến tôi xúc động mỗi
khi nhớ lại.
Dĩ nhiên, gặp gỡ để vơi đi nỗi nhớ chỉ là một phần.
Điều mà lũ học trò chúng tôi quan tâm không kém chính là những món quà tiếp tế
từ gia đình. Thời chiến tranh, đời sống vô cùng thiếu thốn. Bởi vậy, bất cứ thứ
gì người nhà mang lên cũng đều quý giá. Có người được mang cho ít bánh kẹo, vài
cái bánh mì hay trứng luộc. Có người được tiếp tế đường kính, lạc rang hoặc vài
hộp sữa đặc Liên Xô hiếm hoi. Những món quà ấy bây giờ có thể rất bình thường,
nhưng đối với chúng tôi khi ấy lại là cả một kho báu. Đặc biệt nhất vẫn là
những món ăn do chính mẹ chuẩn bị.
Cha tôi thời gian đó đang ở chiến trường xa. Mọi việc
trong gia đình đều do mẹ quán xuyến. Ngoài công việc cơ quan và chăm sóc các em
tôi đang sơ tán ở nhiều nơi khác nhau, mẹ còn phải tìm cách lên thăm tôi. Đó là
một hành trình không hề đơn giản. Các em tôi sơ tán ở Hưng Yên và Sơn Tây nên
mẹ có thể đạp xe đến thăm. Riêng tôi ở tận Đại Từ, đường sá xa xôi và khó đi
hơn rất nhiều. Muốn lên được đây, mẹ thường phải chờ có xe cơ quan hoặc nhờ
người quen đi cùng. Có khi cả tháng trời mẹ mới thu xếp lên thăm được một lần. Vì
vậy, mỗi chuyến đi của mẹ đều chất chứa biết bao tình thương và sự vất vả. Tôi
biết điều đó. Nhưng thú thật, khi ấy tôi vẫn chỉ là một cậu bé đang tuổi lớn. Điều
tôi quan tâm trước tiên mỗi lần gặp mẹ lại là chiếc túi đựng đồ ăn.
Mẹ thường dành dụm nhiều tuần liền để chuẩn bị cho
tôi. Có khi là ít thịt rang, vài quả trứng luộc, mấy gói bánh quy hoặc một vài
cái kẹo cứng có giấy gói sặc sỡ. Nhìn thấy những món ăn ấy, tôi gần như quên
hết mọi lời dặn dò. Và thế là bi kịch thường xuyên xảy ra.
Tôi vốn nổi tiếng trong lớp về khả năng ăn khỏe. Những
thứ thèm thuồng cả tháng trời nay bỗng xuất hiện trước mắt, làm sao có thể nhịn
được? Kết quả là chỉ trong một buổi chiều hoặc một buổi tối, tôi đã xử lý gần
hết số thực phẩm mẹ mang lên. Ăn xong thì sung sướng thật. Nhưng đêm đến lại là
chuyện khác. Bụng bắt đầu đau âm ỉ. Rồi chẳng bao lâu sau, "Tào Tháo"
xuất hiện. Nỗi khổ lúc ấy không chỉ nằm ở việc đau bụng mà còn ở hoàn cảnh sinh
hoạt của chúng tôi.
Nhà vệ sinh nằm dưới chân đồi, cách khu nhà ở một
quãng khá xa. Muốn xuống đó phải đi qua những lối mòn giữa lau lách và cây cối
um tùm. Ban ngày thì không sao. Nhưng giữa đêm khuya trong rừng núi, mọi chuyện
trở nên đáng sợ hơn rất nhiều. Tôi còn nhớ rõ những đêm phải thức dậy nhiều
lần. Một tay cầm đèn bão, tay kia nắm chặt cây gậy để phòng thân. Trong đầu đủ
loại tưởng tượng hiện lên: rắn, cầy hương, thú rừng hay bất cứ thứ gì có thể
xuất hiện từ bụi cây tối om bên cạnh. Mỗi lần bước xuống đồi là một lần lấy hết
can đảm. Có hôm phải đi đi lại lại ba, bốn lượt cho đến gần sáng. Đến khi trời
hửng sáng thì người mệt lả, mắt thâm quầng vì thiếu ngủ.
Ngoài chuyện ăn uống, chúng tôi còn nghĩ ra nhiều cách
rất ngộ nghĩnh để thưởng thức những món quà hiếm hoi. Chẳng hạn như đường kính
hoặc sữa đặc. Không ai muốn ăn nhanh hết. Vì vậy chúng tôi cuộn giấy thành
những chiếc ống nhỏ rồi cắm vào lọ đường hoặc hộp sữa để hút từng chút một.
Cách ấy khiến món quà kéo dài được lâu hơn và cũng tạo cảm giác thú vị hơn.
Có những bạn còn sáng tạo hơn nữa. Các bạn tự chế kẹo
bằng cách cho đường vào một chiếc thìa nhôm rồi hơ trên ngọn đèn dầu đến khi
đường tan chảy. Nếu có vài hạt lạc rang thì làm thành kẹo lạc. Còn muốn có
hương vị đặc biệt, các bạn lấy đầu tăm khều một chút cao Sao Vàng bỏ vào. Loại
kẹo "bạc hà" tự chế ấy vừa cay, vừa thơm, vừa ngọt. Bây giờ nghĩ lại
có phần buồn cười, nhưng ngày ấy lại là một món quà tuyệt vời.
Những ngày Chủ nhật cứ thế trôi qua. Có những Chủ nhật
vui trọn vẹn vì được gặp người thân. Có những Chủ nhật buồn vì chờ mãi mà không
thấy ai lên. Nhưng dù vui hay buồn, đó vẫn là những ngày đặc biệt nhất trong ký
ức tuổi thơ của chúng tôi.
Giữa những năm tháng chiến tranh, khi đất nước còn đầy
gian khó, những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi dưới gốc cây đa, những túi quà giản dị và
những vòng tay của mẹ đã trở thành nguồn động viên lớn lao giúp chúng tôi vượt
qua nỗi nhớ nhà để tiếp tục học tập, trưởng thành giữa núi rừng Đại Từ.
Tuổi thơ bao giờ cũng có một khả năng kỳ lạ. Dù sống
trong hoàn cảnh thiếu thốn đến đâu, trẻ con vẫn tìm ra những niềm vui riêng cho
mình.
Những năm sống ở Đại Từ cũng vậy. Cuộc sống của chúng
tôi thiếu đủ thứ. Thiếu đồ chơi, thiếu sách báo, thiếu quần áo ấm và nhất là
thiếu những món ăn vặt của trẻ con. Thế nhưng chính sự thiếu thốn ấy lại buộc
chúng tôi phải sáng tạo ra những thú vui rất riêng mà có lẽ thế hệ sau này khó
có thể hình dung được.
Nhưng bên ngoài thế giới nhỏ bé của chúng tôi, chiến
tranh đang ngày càng trở nên ác liệt. Năm 1966, cuộc chiến tranh phá hoại bằng
không quân của Mỹ đã mở rộng ra nhiều địa phương ở miền Bắc. Những thông tin về
các trận ném bom liên tục được phát trên đài phát thanh. Nhiều cây cầu, nhà
máy, ga tàu và tuyến giao thông quan trọng trở thành mục tiêu đánh phá. Dù còn
nhỏ, chúng tôi vẫn cảm nhận được bầu không khí căng thẳng ấy.
Khu vực Đại Từ nằm không quá xa các tuyến đường chiến
lược. Máy bay Mỹ thường xuyên bay qua vùng trời nơi chúng tôi sơ tán. Ban đầu,
những tiếng động cơ phản lực từ xa chỉ khiến chúng tôi tò mò. Nhưng rồi dần
dần, ai cũng quen thuộc với âm thanh đặc trưng ấy.
Có những buổi chiều đang học bài, từ phía chân trời
bỗng vang lên tiếng gầm trầm đục. Tiếng động lúc đầu rất nhỏ. Rồi mỗi lúc một
lớn hơn. Các thầy lập tức ra hiệu rút xuống giao thông hào. Chỉ vài giây sau,
những chiếc máy bay phản lực đã xuất hiện. Loại mà chúng tôi thường nghe nhắc
đến nhiều nhất là F-4H, hay còn gọi "Con Ma". Những
chiếc máy bay ấy bay rất nhanh. Nhiều lần chúng lợi dụng địa hình núi non để hạ
thấp độ cao rồi luồn qua các khe núi phía sau khu trường. Cảm giác lúc ấy vô
cùng đặc biệt. Máy bay lao vút qua đầu trước. Chỉ vài giây sau tiếng nổ như sấm
mới dội tới. Âm thanh ấy mạnh đến mức mặt đất dường như rung lên. Những người
yếu tim thường giật mình thon thót. Còn lũ học trò chúng tôi vừa sợ vừa tò mò. Nhiều
đứa từ giao thông hào vẫn cố ngóc đầu lên nhìn theo.
Có hôm máy bay xuất hiện liên tục trong nhiều giờ. Các
trận địa pháo cao xạ quanh vùng bắt đầu khai hỏa. Tiếng pháo nổ dồn dập vọng từ
các sườn núi xa xa. Từng đám khói trắng xuất hiện trên bầu trời. Thỉnh thoảng,
từ một hướng khác, những quả tên lửa phòng không lao lên để lại những vệt khói
dài.
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được chứng kiến một
cuộc đối đầu giữa không quân và lực lượng phòng không. Khung cảnh vừa dữ dội
vừa khó quên. Có lần, một chiếc máy bay Mỹ bay qua quá thấp. Sau đó, người ta
phát hiện một thùng dầu phụ rơi xuống khu rừng gần nơi chúng tôi ở. Tin tức ấy
lập tức lan truyền khắp trường. Hàng trăm học sinh háo hức kéo nhau đi xem. Chiếc
thùng kim loại dài nằm giữa khu rừng như một vật thể đến từ thế giới khác. Đối
với những đứa trẻ sống giữa núi rừng, đó là một sự kiện lớn.
Ngoài những câu chuyện về máy bay, trong trường còn
thường xuyên xuất hiện những tin đồn ly kỳ. Nào là có biệt kích nhảy dù xuống
vùng núi. Nào là có gián điệp trà trộn vào dân địa phương. Nào là có người lạ
xuất hiện quanh khu trường. Mỗi lần như vậy, lũ học trò lại bàn tán xôn xao. Có
bạn quả quyết đã tận mắt nhìn thấy. Có bạn còn mô tả rất chi tiết.
Nhưng rồi sau này nghĩ lại, phần lớn có lẽ chỉ là trí
tưởng tượng phong phú của tuổi học trò giữa những năm tháng chiến tranh. Riêng
tôi, suốt thời gian ở Đại Từ chưa bao giờ tận mắt gặp một "gián điệp"
nào cả. Dẫu vậy, những câu chuyện ấy vẫn góp phần tạo nên bầu không khí đặc
biệt của một thời kỳ mà đất nước đang ở trong cuộc chiến sinh tử.
Giữa tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời, giữa những
lần báo động chạy xuống giao thông hào và giữa những tin đồn nửa thật nửa hư,
chúng tôi vẫn lớn lên từng ngày. Tuổi thơ của chúng tôi không có nhiều tiện
nghi, nhưng lại có những trải nghiệm mà có lẽ suốt cuộc đời sẽ không bao giờ
quên được.



Nhận xét
Đăng nhận xét