Tôi bị kỷ luật
Đến bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu vì sao ngày
ấy mình lại chọn học khoa Chế tạo máy chứ không phải một ngành nào khác. Nếu
nói đó là kết quả của một quá trình tìm hiểu nghiêm túc, cân nhắc kỹ lưỡng về
sở thích, năng lực hay triển vọng nghề nghiệp thì hoàn toàn không đúng. Thực
ra, lúc ấy tôi còn rất trẻ, nhận thức về nghề nghiệp khá mơ hồ. Những quyết
định quan trọng của tuổi mười tám đôi khi lại được đưa ra từ những suy nghĩ rất
đơn giản.
Tôi nhớ thời đó trên báo chí, đài phát thanh thường
xuyên nhắc đến vai trò của ngành cơ khí. Người ta nói cơ khí là ngành công
nghiệp then chốt, là nền tảng cho sự phát triển của đất nước. Trong suy nghĩ
của những thanh niên vừa tốt nghiệp phổ thông như chúng tôi, đó là một lĩnh vực
rất quan trọng, rất có tương lai. Nếu dùng ngôn ngữ bây giờ thì có thể nói ngành
cơ khí lúc ấy là một ngành rất “hot”.
Không chỉ nghe trên đài, đọc trên báo, tôi còn chịu
ảnh hưởng từ bạn bè xung quanh. Chúng tôi thường xuyên bàn luận về việc chọn
trường, chọn ngành. Người này khuyên một câu, người kia góp một ý. Có người bảo
học cơ khí ra trường dễ có việc làm, người khác lại nói đất nước đang cần kỹ sư
cơ khí để xây dựng công nghiệp. Nghe nhiều rồi thành xuôi tai. Cuối cùng, không
cần suy nghĩ quá lâu, tôi ghi ngay vào hồ sơ nguyện vọng ngành cơ khí, kèm theo
ngành đóng tàu.
Sau này nhìn lại, tôi thấy mình khá may mắn. Trong
suốt năm năm học đại học, tôi không bị chuyển ngành hay chuyển trường như một
số bạn bè cùng khóa. Thời chiến tranh, việc thay đổi nơi học tập hoặc chuyên
ngành đào tạo không phải chuyện hiếm. Có những bạn đang học giữa chừng phải
chuyển sang lĩnh vực khác theo nhu cầu đào tạo của nhà nước. Riêng tôi vẫn được
tiếp tục học đúng ngành đã chọn từ đầu.
Điều quý giá hơn cả tấm bằng đại học là những người
bạn mà tôi có được trong quãng thời gian ấy. Nhiều người trong số họ đã trở
thành bạn thân thiết suốt cuộc đời. Cho đến tận hôm nay, khi ngồi viết lại
những dòng hồi ức này, tôi vẫn thường xuyên liên lạc với họ. Chúng tôi đã cùng
nhau trải qua những năm tháng tuổi trẻ đầy biến động, cùng học tập, cùng sơ
tán, cùng chứng kiến chiến tranh và trưởng thành trong những hoàn cảnh rất đặc
biệt.
Hết năm học thứ nhất, tình hình chiến sự trở nên căng
thẳng hơn. Không quân Mỹ mở rộng các cuộc đánh phá ra miền Bắc, khiến nhiều
trường đại học phải tiếp tục sơ tán. Chúng tôi lại khăn gói rời Hà Nội về các
vùng nông thôn.
Giai đoạn đầu, lớp tôi sơ tán về thôn Thanh Xuyên,
thuộc xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên. Nếu đi từ ga Tía, rẽ vào bên phải theo
tỉnh lộ 73, qua cầu Đồng Quan rồi rẽ trái là tới nơi. Ngày nay đường sá có thể
đã thay đổi nhiều, nhưng trong ký ức của tôi, những con đường làng, những cánh
đồng và những mái nhà tranh ở Thanh Xuyên vẫn còn rất rõ nét.
Cuộc sống sơ tán khi ấy chủ yếu dựa vào sự đùm bọc của
người dân địa phương. Chúng tôi ở nhờ trong nhà dân, sinh hoạt giản dị và thiếu
thốn đủ bề. Việc học tập nhiều lúc bị gián đoạn. Hàng ngày, ngoài những công
việc liên quan đến học hành, chúng tôi còn phải tự lo cuộc sống của mình: đi
nhận gạo, nấu ăn, làm các công việc lao động lặt vặt, giúp đỡ gia đình nơi ở
nhờ. Có những ngày gần như chẳng học được gì vì phải lo quá nhiều việc khác.
Trong số những kỷ niệm ở Thanh Xuyên, điều tôi nhớ
nhất là những lần ra sông Nhuệ tắm và mò trai. Đó vừa là thú vui của tuổi trẻ,
vừa là cách cải thiện bữa ăn vốn rất đạm bạc thời chiến. Việc mò trai đối với
tôi không hoàn toàn xa lạ. Từ năm 1965, khi còn ở Hà Đông, tôi đã nhiều lần
theo các anh lớn xuống sông La Khê – một nhánh của sông Nhuệ – để mò trai, bắt
hến. Nhờ vậy mà tôi cũng có chút kinh nghiệm. Những con trai bắt được mang về
luộc hoặc nấu canh đều trở thành món ăn đáng giá trong hoàn cảnh thiếu thốn lúc
bấy giờ.
Mùa hè năm 1972 là một mùa hè đặc biệt. Người ta
thường gọi đó là “mùa hè đỏ lửa”. Khắp các chiến trường, chiến sự diễn ra vô
cùng ác liệt. Hàng ngàn sinh viên từ các trường đại học được tuyển chọn để nhập
ngũ, bổ sung lực lượng cho quân đội. Không khí ấy tác động mạnh đến tất cả
chúng tôi. Nhiều người bạn trong lớp đã chuẩn bị sẵn tâm lý lên đường bất cứ
lúc nào.
Tôi cũng nằm trong danh sách được gọi đi khám tuyển.
Với tâm trạng của một thanh niên thời chiến, tôi sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ
nào mà đất nước giao phó. Tuy nhiên, sau đợt khám sức khỏe, tôi lại không được
chọn.
Đến nay tôi cũng không biết chính xác nguyên nhân là
gì. Có thể do tiêu chuẩn sức khỏe chưa thật phù hợp, cũng có thể vì một lý do
nào đó trong công tác tuyển quân. Riêng tôi vẫn đoán rằng gia đình mình khi ấy
đã có cha và anh cả đang phục vụ trong quân đội, hơn nữa đều đang ở chiến
trường B2, nên tôi không còn nằm trong diện ưu tiên tuyển chọn. Dù sao đó cũng
chỉ là suy đoán của riêng tôi.
Điều đáng nhớ là trong số những người được gọi đi đợt
ấy có khá nhiều bạn ở Hà Nội như Nguyễn Duy Cường “tẩm”, Lê Ninh “lùn”, Nguyễn
Đình Đại “gà” và một số người khác. Tuy nhiên, số được lựa chọn cuối cùng không
nhiều. Họ không phải ra chiến trường ngay mà được cử đi đào tạo, học tập về các
loại khí tài mới ở nước ngoài để chuẩn bị cho những nhiệm vụ đặc biệt sau này.
Chiến tranh đã đưa mỗi người đi theo một con đường
khác nhau. Có người tiếp tục học tập, có người lên đường nhập ngũ, có người
sang nước ngoài đào tạo. Nhưng tất cả chúng tôi đều mang theo ký ức về một thời
tuổi trẻ đầy biến động, gian khổ nhưng cũng rất đáng tự hào.
Sau những ngày căng thẳng của thời chiến, chúng tôi được trả về trường
nhưng thực tế chẳng có ai quản lý hay kiểm soát sinh hoạt của sinh viên nữa.
Nhà trường lúc ấy gần như ở trong tình trạng phân tán hoàn toàn. Các khoa, các
lớp đã tỏa đi nhiều nơi khác nhau để tham gia lao động phục vụ chiến đấu. Người
thì đến các nhà máy, người xuống kho tàng, bến bãi, người tham gia những công
việc hậu cần phục vụ tiền tuyến. Thành phố Hà Nội vì chiến tranh mà trở nên
vắng vẻ khác thường. Nhiều cơ quan, trường học đã sơ tán về các địa phương
ngoại thành hoặc các tỉnh lân cận. Những con phố vốn đông đúc ngày thường nay
thưa thớt người qua lại.
Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi bỗng trở thành những người gần như hoàn
toàn tự do. Không có lịch học, không có cán bộ quản lý trực tiếp, cũng chẳng ai
kiểm tra việc đi lại hay sinh hoạt. Ban đầu ai cũng thấy thích thú. Sau những
ngày tháng học tập và rèn luyện có phần nghiêm ngặt, được tự do rong chơi giữa
một Hà Nội hiếm có trong đời là điều vô cùng hấp dẫn đối với những chàng trai
đôi mươi.
Hơn chục ngày liền, chúng tôi tụ tập thành từng nhóm, lang thang khắp
nơi. Hà Nội thời sơ tán mang một vẻ đẹp rất riêng, vừa yên tĩnh vừa có chút
buồn man mác. Những địa điểm quen thuộc của tuổi trẻ trở thành nơi gặp gỡ của
bạn bè. Có hôm cả nhóm kéo nhau ra khu vực trước Nhà hát Lớn để chụp ảnh kỷ
niệm. Bây giờ nghĩ lại, đó có lẽ là một trong những tấm ảnh quý giá nhất của
thời sinh viên. Hầu như đầy đủ gương mặt của những người bạn Hà Nội ngày ấy đều
có mặt trong bức ảnh.
Thời gian đã trôi qua quá lâu. Nhiều người bạn năm xưa giờ đây ít gặp
hoặc hoàn toàn mất liên lạc. Những cái tên như Minh, Tùng, Phong, Toàn hay Bảo
chỉ còn hiện lên trong ký ức. Có người chuyển công tác xa, có người định cư ở
nơi khác, cũng có người từ lâu không còn tin tức. Ngược lại, một số bạn vẫn duy
trì được tình cảm thân thiết cho đến tận hôm nay như Dũng, Ninh, Cường, Đạt,
Đại, Thêm và Hùng. Mỗi lần gặp nhau, câu chuyện lại quay về những năm tháng
tuổi trẻ đầy kỷ niệm ấy.
Những ngày có chút tiền trong túi, chúng tôi lại rủ nhau đi ăn quà. Món
khoái khẩu của đám sinh viên khi ấy là bánh tôm Hồ Tây. Đối với sinh viên thời
chiến, được ăn một đĩa bánh tôm nóng giòn bên hồ đã là một sự xa xỉ nho nhỏ.
Những buổi tụ tập như thế vừa để thưởng thức món ngon, vừa là dịp trò chuyện,
đùa nghịch với nhau.
Có một chi tiết mà chính tôi không còn nhớ rõ, nhưng lại bị bạn bè nhắc đi
nhắc lại suốt nhiều năm sau. Không hiểu từ đâu xuất hiện câu chuyện rằng sau
khi ăn xong bánh tôm, tôi còn cầm bát đĩa đi xuống ven hồ định rửa giúp người
bán hàng. Có lẽ đó chỉ là câu chuyện do đám bạn bịa ra để trêu chọc nhau, nhưng
vì quá buồn cười nên mỗi lần gặp mặt, họ lại lôi ra kể khiến ai cũng cười
nghiêng ngả.
Một lần khác, chúng tôi rủ nhau đến khu vực trước Ngân hàng Nhà nước để
ăn kem. Khi ấy kem là món quà được nhiều sinh viên yêu thích. Trong lúc mọi
người đang thưởng thức từng que kem mát lạnh thì Nguyễn Ngọc Thêm bất ngờ đưa
ra một lời thách đố táo bạo: anh sẽ ăn hết cả một phích kem que.
Đám bạn lập tức hưởng ứng. Một chiếc phích kem được mua ngay tại chỗ.
Trước những ánh mắt vừa tò mò vừa thích thú của mọi người, Thêm bắt đầu thực
hiện "kỳ tích" của mình. Những que kem đầu tiên được ăn rất nhanh. Ai
nấy đều nghĩ có lẽ anh sẽ chiến thắng dễ dàng.
Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Kem thời đó chủ yếu được làm từ
nước đá pha đường, hương vị khá đơn giản nhưng lại rất lạnh. Sau khi ăn đến que
thứ ba, Thêm bắt đầu có dấu hiệu mệt mỏi. Khuôn mặt không còn vẻ tự tin như lúc
ban đầu. Đến que thứ tư, tốc độ ăn chậm hẳn lại. Mọi người vừa cười vừa cổ vũ.
Sang đến que thứ năm thì tình hình trở nên khó khăn thật sự. Anh bắt đầu nghẹn,
răng buốt đến mức chảy cả máu chân răng.
Cuối cùng cuộc thách đố phải dừng lại. Thêm đành chấp nhận thất bại trong
tiếng cười vui vẻ của cả nhóm. Điều làm chúng tôi xúc động hơn cả là thái độ
của bà bán kem. Thấy đám sinh viên nghịch ngợm nhưng đáng yêu, bà không hề khó
chịu. Ngược lại, bà còn ân cần đưa cho Thêm một chiếc khăn mặt để lau người và
nghỉ ngơi. Giọng bà nghẹn ngào khi kể rằng con trai bà cũng đang ở trong quân
đội như chúng tôi sắp tới đây, không biết đang đóng quân nơi nào và cuộc sống
ra sao. Câu chuyện ấy khiến không khí đang vui vẻ bỗng trở nên lắng lại. Chiến
tranh đã len lỏi vào cuộc sống của mọi gia đình theo những cách như thế.
Thế nhưng niềm vui rong chơi kéo dài mãi rồi cũng đến lúc nhường chỗ cho
sự lo lắng. Chơi mãi cũng chán. Nghỉ học quá lâu khiến chúng tôi bắt đầu bất
an. Điều đáng sợ nhất đối với sinh viên lúc đó là nguy cơ bị nhà trường kỷ
luật. Chúng tôi được biết rằng các bạn cùng lớp từ lâu đã tham gia các đoàn
sinh viên đến các nhà máy, công xưởng hoặc đơn vị quân đội để lao động phục vụ
chiến đấu. Nhiều người đã làm việc liên tục hơn một tháng.
Sau nhiều lần bàn bạc, chúng tôi quyết định tìm đến nơi sơ tán của Khoa.
Khi ấy Khoa đang đóng tại thôn Cẩm Bào, thuộc xã Cẩm Xuyên, huyện Hiệp Hòa,
tỉnh Bắc Giang. Chuyến đi giống như một cuộc phiêu lưu nho nhỏ của tuổi trẻ.
Chúng tôi mang theo hành lý đơn giản rồi cùng nhau tìm đường đến nơi.
Khi gặp lãnh đạo Khoa, chúng tôi trình bày lý do vắng mặt trong thời gian
qua bằng tất cả sự thành khẩn. Lý lẽ được đưa ra nghe cũng khá chính đáng:
chúng tôi đang chuẩn bị tinh thần để nhập ngũ, nên có phần lơ là việc học tập
và sinh hoạt tập thể. Tuy nhiên, lãnh đạo Khoa không dễ dàng chấp nhận cách
giải thích ấy.
Tất cả đều bị yêu cầu viết bản kiểm điểm. Không những vậy, còn có người
bị nhắc nhở nghiêm khắc, thậm chí bị đe dọa sẽ đuổi học nếu tiếp tục vi phạm.
Sau đó, Khoa chính thức thông báo hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với chúng tôi
vì hành vi tự ý bỏ học trong thời gian dài.
Nhận quyết định kỷ luật, ai cũng có phần buồn và áy náy. Nhưng tuổi trẻ
vốn hiếu động. Những ngày ở Cẩm Xuyên trôi qua khá chậm chạp. Học hành chưa ổn
định, công việc cũng chưa rõ ràng. Chúng tôi cảm thấy mình như đang ở trong
trạng thái chờ đợi. Không thể hoàn toàn tập trung vào việc học, mà cũng chưa
được lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Rồi điều mong đợi cuối cùng cũng đến. Sau một thời gian cân nhắc, lãnh
đạo Khoa quyết định cử chúng tôi bổ sung cho một đơn vị quân đội. Tin ấy lan
nhanh trong nhóm bạn. Mọi người đều háo hức, xen lẫn chút hồi hộp. Những ngày
tháng rong chơi của tuổi sinh viên dường như đã khép lại. Trước mắt là một
chặng đường mới với nhiều thử thách đang chờ đợi. Chúng tôi hồi hộp đếm từng
ngày, chuẩn bị hành trang và sẵn sàng lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc.



Nhận xét
Đăng nhận xét