Trại Hòe – Những ngày đầu quân ngũ
Tôi bước vào cuộc
sống quân ngũ từ rất sớm. Lúc đó là vào tháng 5 năm 1965, tôi lên học ở Trường
Văn hóa Quân đội (sau này trường mang tên liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi). Có lẽ tôi
là một trong những học sinh đầu tiên của Trường và theo học cho đến lúc cuối
cùng, chứng kiến sáu lần di chuyển địa điểm trong thời gian tròn 5 năm. Những
câu chuyện về một thời xa xưa ấy luôn nằm trong tâm thức tôi cho đến tận ngày
hôm nay, thỉnh thoảng trong những giấc mơ tôi cũng gặp lại những khuôn mặt,
những phong cảnh tuy mờ nhạt nhưng quen thuộc. Lo đến một ngày nào đó, không có
khả năng nhớ lại, tôi tập hợp những mảnh vụn của ký ức trong những trang viết
hồi tưởng này.
Những ngày đầu tiên
của cuộc đời quân ngũ trong ký ức tôi luôn gắn liền với một địa danh nhỏ bé
mang tên Trại Hòe. Nay nơi ấy thuộc thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa,
tỉnh Bắc Giang, nhưng vào thời điểm giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước,
đối với một cậu bé mới mười một tuổi như tôi, đó là cả một thế giới hoàn toàn
mới lạ.
Từ vòng tay gia đình
bước vào môi trường tập thể của quân đội là một sự thay đổi rất lớn. Bây giờ
nhìn lại, tôi vẫn thấy ngạc nhiên vì mình đã thích nghi được nhanh đến như thế.
Nếu đem so sánh với các cháu nhỏ ngày nay ở độ tuổi ấy, được sống trong sự chăm
sóc đầy đủ của gia đình, được học tập và vui chơi trong điều kiện thuận lợi,
thì cuộc sống của chúng tôi khi đó quả thật khác xa, tưởng như thuộc về một câu
chuyện của thời huyền thoại.
Trường đóng quân trên
một quả đồi trọc khá rộng và bằng phẳng. Đó vốn là một doanh trại quân đội đã
có sẵn từ trước. Những dãy nhà tranh vách đất hoặc vách đan bằng phên nứa lợp
lá cọ nằm quây quần quanh một khoảng sân lớn ở trung tâm. Mọi thứ đều đơn sơ,
mộc mạc nhưng ngăn nắp và có trật tự. Những hàng cây trẩu cao lớn đứng rải rác
quanh sân, tỏa bóng mát xuống nền đất đỏ. Dưới gốc cây là những luống dứa xanh
um, lá sắc nhọn xòe ra bốn phía. Đối với chúng tôi, đó vừa là cảnh quan, vừa là
một phần của tuổi thơ gắn bó suốt những tháng ngày ở trường.
Khoảng sân giữa
trường rộng mênh mông, mặt đất được san tương đối bằng phẳng nhưng không hề có
cỏ. Mỗi khi trời nắng, mặt sân đỏ au và khô rang. Đây là nơi diễn ra hầu hết
các hoạt động tập thể của nhà trường. Buổi chiều, sân trở thành sân bóng đá của
lũ học trò. Những trận bóng diễn ra sôi nổi với quả bóng đã cũ, nhiều khi vá đi
vá lại không biết bao nhiêu lần. Đến tối, vào những dịp đặc biệt, khoảng sân ấy
lại biến thành rạp chiếu phim ngoài trời. Chỉ cần căng một tấm màn trắng giữa
hai cây cột là cả trường háo hức ngồi xem những thước phim hiếm hoi giữa thời
chiến tranh.
Con đường chính dẫn
từ cổng trường đi thẳng vào giữa sân. Đối diện cổng là nhà ăn lớn, nơi hàng
trăm học sinh tập trung mỗi ngày. Phía sau nhà ăn là khu bếp và một chiếc giếng
nước lớn. Chiếc giếng ấy là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho cả trường. Mỗi
sáng, những hàng người nối nhau ra giếng lấy nước, tiếng gàu va vào thành
giếng, tiếng nước đổ vào thùng vang lên quen thuộc như một phần nhịp sống
thường ngày.
Bên trái sân là khu
Hiệu bộ, cách gọi Ban Giám hiệu nhà trường thời bấy giờ. Khu vực này đối với
chúng tôi luôn mang một vẻ nghiêm trang đặc biệt. Những thầy cô lãnh đạo nhà
trường làm việc ở đó. Bọn học sinh lớp 5 chúng tôi ở dãy nhà phía đối diện. Từ
cửa lớp hay cửa nhà ở có thể nhìn sang khu Hiệu bộ qua khoảng sân rộng. Mỗi lần
thấy các thầy đi lại, chúng tôi thường tự giác giữ gìn trật tự hơn một chút.
Ngay từ những ngày
đầu nhập trường, chúng tôi được phát quân trang, quân dụng theo chế độ của quân
đội. Bộ quần áo màu xanh, chiếc mũ mềm, chăn màn, ba lô và những vật dụng sinh
hoạt cần thiết khiến chúng tôi cảm thấy mình như những người lính thực sự. Cảm
giác ấy vừa háo hức, vừa có chút tự hào. Dù tuổi còn rất nhỏ nhưng tất cả đều
hiểu rằng mình đã bước vào một môi trường đặc biệt.
Cuộc sống ở đây được
tổ chức theo nền nếp quân đội rất nghiêm túc. Những ngày đầu tiên, chúng tôi
chưa học văn hóa ngay mà được phổ biến về tình hình đất nước, truyền thống vẻ
vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiệm vụ của thế hệ trẻ trong thời kỳ
chiến tranh. Bên cạnh đó là những bài học về nội quy, điều lệnh nội vụ và các
quy định trong sinh hoạt tập thể.
Tôi còn nhớ rất rõ
những buổi tập gấp chăn màn. Chiếc chăn phải được gấp vuông vức thành khối chữ
nhật ngay ngắn đặt ở đầu giường. Tư trang cá nhân phải sắp xếp đúng vị trí quy
định. Quần áo treo thẳng hàng. Giày dép đặt song song dưới gầm giường. Lúc đầu,
những công việc ấy đối với một đứa trẻ là không hề đơn giản. Có hôm gấp đi gấp
lại nhiều lần vẫn chưa đạt yêu cầu. Nhưng rồi nhờ sự hướng dẫn tận tình của các
giáo viên phụ trách và sự nhắc nhở thường xuyên, mọi việc dần trở thành thói
quen.
Nhịp sống hàng ngày
diễn ra theo hiệu lệnh. Sáng sớm tiếng kèn báo thức vang lên giữa không gian
tĩnh lặng của đồi trung du. Sau đó là những tiếng kẻng quen thuộc báo giờ tập
hợp, giờ ăn, giờ học, giờ lao động và giờ nghỉ. Mọi hoạt động đều có thời gian
quy định rõ ràng. Chính môi trường ấy đã rèn luyện cho chúng tôi tính kỷ luật,
sự tự giác và tinh thần tập thể từ khi còn rất nhỏ.
Tuy
cuộc sống vật chất còn nhiều thiếu thốn nhưng thiên nhiên quanh trường lại đem
đến cho chúng tôi những trải nghiệm khó quên. Mùa hè vùng trung du Bắc Bộ nắng
như đổ lửa. Ánh mặt trời chiếu xuống khoảng sân rộng làm mặt đất nóng rực. Hơi
nóng bốc lên khiến mắt người nhìn lúc nào cũng phải nheo lại. Những con thằn
lằn nhỏ chạy thoăn thoắt trên các cột nhà, lúc ẩn lúc hiện như đang chơi trò
trốn tìm với lũ trẻ chúng tôi.
Trên những cây mít,
cây bạch đàn và những cây trẩu cao lớn, ve sầu tha hồ cất tiếng kêu vang. Âm
thanh ấy kéo dài suốt cả buổi trưa, hòa cùng tiếng gió tạo thành bản nhạc quen
thuộc của vùng trung du. Có những hôm nằm nghỉ trên giường, nghe tiếng ve râm
ran ngoài cửa sổ, tôi bỗng nhớ nhà da diết. Nhưng rồi chỉ ít phút sau, tiếng
gọi nhau của bạn bè lại kéo tôi trở về với cuộc sống tập thể đầy ắp tiếng nô
đùa.
Điều tôi nhớ nhất có
lẽ là những cơn gió. Do trường nằm trên đỉnh đồi nên gió thổi liên tục quanh
năm. Những luồng gió mạnh lùa qua các gian nhà rộng, mang theo hương thơm của
cây cỏ và mùi đất khô sau nắng. Giữa cái oi ả của mùa hè, những cơn gió ấy làm
dịu đi biết bao mệt nhọc. Chúng tôi thường ngồi bên cửa sổ, cảm nhận làn gió
mát thổi qua mái tóc và nhìn ra khoảng trời xanh ngắt phía xa.
Nhiều năm đã trôi qua
kể từ những ngày đầu tiên ở Trại Hòe. Doanh trại năm xưa có lẽ đã thay đổi rất
nhiều. Những dãy nhà lá, những luống dứa, khoảng sân đất đỏ và cả chiếc giếng
nước lớn có thể không còn nguyên vẹn như trong ký ức. Nhưng đối với tôi, đó vẫn
là nơi đánh dấu bước ngoặt đầu tiên của cuộc đời. Chính từ ngọn đồi ấy, một cậu
bé rời gia đình đã bắt đầu học cách sống tự lập, học tính kỷ luật, tinh thần
đồng đội và những phẩm chất đầu tiên của người lính. Những ký ức về Trại Hòe vì
thế luôn hiện lên trong tâm trí tôi với vẻ đẹp giản dị, thân thương và không
bao giờ phai nhạt theo năm tháng.
Doanh trại Trại Hòe nằm trên một
ngọn đồi thấp giữa vùng trung du Hiệp Hòa. Từ trên đồi nhìn ra xa là những cánh
đồng lúa xen lẫn những dải đồi thoai thoải nối tiếp nhau đến tận chân trời.
Cảnh vật bình dị, yên ả nhưng cuộc sống ở đây không hề dễ dàng, nhất là đối với
những cậu học trò mới rời gia đình để bước vào môi trường quân đội.
Nguồn nước sinh hoạt là một trong những khó khăn đầu
tiên mà chúng tôi phải làm quen. Trên đồi không có nguồn nước nào khác ngoài
những cái giếng đào. Những chiếc giếng ở vùng đất trung du này rất sâu. Đứng
nhìn xuống chỉ thấy một khoảng tối hun hút, mặt nước nhỏ bé nằm tận dưới đáy
như một tấm gương tròn. Có lẽ phải sâu đến cả chục mét mới gặp mạch nước. Mỗi
sáng, chúng tôi xếp hàng bên giếng để lấy nước rửa mặt, đánh răng và vệ sinh cá
nhân. Nước giếng trong vắt, mát lạnh, mùa hè cũng như mùa đông đều giữ nguyên
một nhiệt độ dễ chịu. Tuy nhiên, số lượng nước có hạn nên phải sử dụng rất tiết
kiệm.
Phía sau nhà ăn có một chiếc
giếng lớn phục vụ cho cả trường. Từ sáng sớm đến chiều tối lúc nào cũng có
người qua lại. Những tiếng gàu kéo nước kẽo kẹt, tiếng nước đổ vào thùng, tiếng
gọi nhau í ới đã trở thành âm thanh quen thuộc trong đời sống hàng ngày.
Việc tắm giặt thì không thể thực hiện ở giếng. Muốn
tắm phải đi xuống con mương thủy lợi nằm phía sau doanh trại. Con mương ấy sau
này đã trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức tuổi thơ của tôi.
Những năm đó, chiến tranh phá hoại bằng không quân của
Mỹ đã bắt đầu lan rộng ra miền Bắc. Mặc dù còn nhỏ, chúng tôi vẫn cảm nhận được
không khí chiến tranh ngày một rõ rệt. Có những buổi đang học bài hay lao động,
từ xa vọng lại tiếng động cơ phản lực ì ầm. Ban đầu chỉ là một âm thanh mơ hồ
như tiếng sấm từ phía chân trời. Rồi tiếng động mỗi lúc một rõ hơn, mạnh hơn.
Chỉ vài phút sau, những chiếc máy bay bạc màu đã lao vút qua trên nền trời xanh
thẳm.
Mỗi lần như vậy, tiếng kẻng báo động lại vang lên dồn
dập khắp doanh trại. Không ai bảo ai, tất cả
chúng tôi lập tức bỏ mọi công việc đang làm để chạy về phía các giao thông hào
đã được đào sẵn phía sau nhà ở. Những chiếc hào ngoằn ngoèo chạy men theo sườn
đồi. Chúng không sâu lắm nhưng đủ để che chắn khi có máy bay đến gần.
Ngồi trong giao thông hào, lũ trẻ chúng tôi vừa hồi
hộp vừa tò mò. Tai lắng nghe tiếng động cơ trên không, mắt vẫn cố ngước lên
nhìn khoảng trời xanh qua mép hào. Có đứa còn tranh nhau đoán xem đó là máy bay
loại gì, bay theo hướng nào. Chúng tôi chưa thực sự hiểu hết sự khốc liệt của
chiến tranh, bởi tuổi thơ khi ấy vẫn còn quá hồn nhiên. Chỉ đến khi tiếng kẻng
báo yên vang lên, mọi người lại lần lượt leo lên khỏi hào, phủi đất cát trên
quần áo rồi trở về công việc dang dở như chưa có chuyện gì xảy ra.
Những ngày Chủ nhật là khoảng thời gian được mong chờ
nhất trong tuần. Hôm ấy không phải học tập căng thẳng như thường lệ. Nhiều bạn
có cha mẹ hoặc người thân từ Hà Nội lên thăm. Từ sáng sớm, các cậu bé đã thấp
thỏm ngóng ra cổng trường. Mỗi khi thấy bóng người quen xuất hiện là reo lên
sung sướng.
Người thân lên thăm thường mang theo đủ thứ quà vặt:
gói lạc rang, ít bánh đa, mấy quả cam, vài củ khoai luộc hay đơn giản chỉ là
một túi đường kính. Những món quà ấy tuy nhỏ nhưng chứa đựng biết bao tình cảm
gia đình.
Còn những đứa không có người lên thăm, trong đó có tôi
nhiều lần, thường rủ nhau đi loanh quanh khám phá vùng xung quanh doanh trại.
Có lần, một nhóm bạn rủ tôi thực hiện chuyến đi xa
nhất từ trước tới lúc đó: xuống phố huyện Hiệp Hòa, tức thị trấn Phố Thắng ngày
nay. Sau khi xin phép đầy đủ, chúng tôi lên đường từ sáng.
Chuyến đi hoàn toàn cuốc bộ. Từ Trại Hòe xuống tới phố
huyện phải mất hai, ba tiếng đồng hồ. Con đường đất đỏ quanh co qua những cánh
đồng, những xóm nhỏ và những triền đồi thấp. Chúng tôi vừa đi vừa chuyện trò
nên chẳng thấy mệt.
Đến nơi, trước mắt hiện ra một phố huyện nhỏ bé và
nghèo nàn đúng kiểu vùng trung du Bắc Bộ thời chiến tranh. Những dãy nhà thấp
lè tè nằm thưa thớt hai bên đường. Đường sá bụi bặm, vắng vẻ. Xe cộ hiếm hoi.
Người đi lại cũng không nhiều. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe đạp cọc cạch
hoặc chiếc xe bò chậm chạp đi ngang qua.
Dẫu vậy, đối với những cậu bé suốt một thời gian dài sống trong
doanh trại, nơi ấy vẫn mang vẻ hấp dẫn đặc biệt. Chúng tôi đi hết đầu phố đến
cuối phố, nhìn ngắm mọi thứ như những nhà thám hiểm vừa phát hiện một vùng đất
mới.
Vui sướng nhất là khi gặp một quầy bán kem. Sau khi
kiểm tra túi tiền, mỗi đứa đều đủ tiền mua một que kem. Cây kem nhỏ thôi nhưng
ngon vô cùng. Đó là thứ quà xa xỉ đối với học sinh thời ấy. Chúng tôi vừa ăn
vừa cười nói vui vẻ như vừa trải qua một sự kiện trọng đại.
Trên đường trở về, cả nhóm ghé qua Trại Cờ, nơi đóng
quân của các khóa học sinh lớn tuổi hơn. So với Trại Hòe, nơi này khang trang
hơn hẳn. Nhà cửa gọn gàng, cây cối xanh tốt và đông vui hơn. Nhìn các anh lớn
sinh hoạt nhộn nhịp, chúng tôi vừa ngưỡng mộ vừa mong một ngày nào đó mình cũng
trưởng thành như họ.
Những chuyến đi khám phá quanh doanh trại luôn mang
đến nhiều điều thú vị. Trong các bụi cây ven đường mọc rất nhiều dây lạc tiên.
Đến mùa quả chín, những quả nhỏ màu vàng óng hoặc tím nhạt lấp ló dưới tán lá.
Tìm được một bụi lạc tiên sai quả là niềm vui lớn của lũ trẻ chúng tôi. Mỗi đứa
tranh nhau hái rồi ngồi ăn ngay tại chỗ.
Người dân quanh vùng cũng thường mang nông sản đến bán
cho tụi trẻ. Nhờ vậy mà tôi được biết đến nhiều loại quả lạ lần đầu tiên trong
đời. Trong số đó, nhớ nhất là quả chay. Hình dáng của nó khiến tôi liên tưởng
đến những quả dâu tây khổng lồ màu đỏ sẫm. Bên trong có nhiều múi nhỏ như tép
bưởi. Vị chua thanh pha chút ngọt dịu khiến chúng tôi ăn mãi không chán.
Nhưng tất cả những niềm vui kể trên có lẽ vẫn không
thể sánh bằng những buổi chiều ra mương tắm.
Đó là thiên đường thực sự của tuổi thiếu niên.
Chiều nào cũng vậy, vừa đến giờ nghỉ là từng tốp học
sinh ùa xuống mương. Cả một đoạn bờ mương dài bỗng trở nên náo nhiệt bởi tiếng
cười nói vang vọng.
Đây là tuyến mương thủy lợi lớn nên nước chảy rất mạnh
mỗi khi mở cống. Ban đầu tôi không biết bơi. Thế nhưng dưới sự hướng dẫn nhiệt
tình của bạn bè, tôi dần học được từng động tác. Từ những kiểu bơi đơn giản
nhất như bơi chó, rồi chuyển sang bơi sải, bơi ếch, bơi đứng, thậm chí tập cả
bơi bướm.
Tất nhiên, trong quá trình học không ít lần tôi uống
nước đến sặc sụa. Có hôm vừa bơi được vài mét đã chìm nghỉm rồi lại vùng vẫy
ngoi lên. Nhưng tuổi trẻ vốn gan dạ và hiếu động, chẳng ai vì thế mà bỏ cuộc.
Trò chơi hấp dẫn nhất là nhảy từ cống Bốn Cửa xuống
dòng nước bên dưới. Chúng tôi gọi vui đó là trò “nhảy dù”. Đứng trên thành cống
nhìn xuống dòng nước cuộn chảy phía dưới ai cũng thấy hơi run. Nhưng chính cảm
giác vừa sợ vừa thích ấy lại tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt.
Một đứa nhảy thì cả bọn nhảy theo. Rồi thi xem ai nhảy
đẹp hơn, xa hơn. Có lúc còn nắm tay nhau nhảy tập thể.
Nguy hiểm thì chắc chắn là có. Đã từng có bạn bị dòng
nước cuốn sát miệng cống làm mọi người một phen hoảng hốt. Thế nhưng sau đó
chẳng mấy ai nhớ lâu. Hôm sau lại tiếp tục lao xuống nước như thường.
Cuộc sống ở Trại Hòe cứ thế trôi qua trong học tập,
rèn luyện và những niềm vui tuổi nhỏ. Chúng tôi tưởng rằng sẽ còn ở đó rất lâu.
Thế nhưng chiến tranh không cho phép mọi thứ diễn ra
bình yên như vậy. Sau khoảng ba tháng, một buổi chiều muộn, khi bữa cơm tối vừa
kết thúc, bất ngờ một đoàn xe tải lớn tiến vào sân trường. Những chiếc xe nối
đuôi nhau thành hàng dài dưới ánh hoàng hôn đang tắt dần.
Tiếng kẻng tập hợp vang lên. Toàn
trường nhanh chóng có mặt tại sân. Thầy Hiệu trưởng Bùi Khắc Quỳnh thông báo kế
hoạch hành quân khẩn cấp. Chúng tôi phải thu dọn toàn bộ tư trang, mang lên xe
ngay trong đêm. Không ai biết sẽ đi đâu. Đoàn xe lặng lẽ rời Trại Hòe trong
bóng tối. Tiếng động cơ đều đều vang lên suốt đêm dài. Chúng tôi ngồi chen chúc
trên thùng xe, mệt quá thì ngủ gà ngủ gật. Khoảng nửa đêm, đoàn xe dừng lại
trước một bến phà. Tất cả phải xuống xe đi bộ qua sông rồi lại lên xe tiếp tục
hành trình.
Đến gần sáng, khi bầu trời bắt
đầu hửng sáng phía chân trời, đoàn xe mới dừng hẳn. Một địa điểm mới hiện ra
trước mắt. Cuộc sống của chúng tôi lại bước sang một chặng đường khác. Về sau, có tin rằng không lâu sau khi nhà trường rời khỏi Trại Hòe, khu vực ấy đã
bị máy bay Mỹ ném bom. Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn cảm thấy rùng mình. Nếu cuộc
hành quân hôm ấy chậm đi ít ngày, có lẽ số phận của rất nhiều người đã khác.
Và như thế, Trại Hòe chỉ tồn tại
trong cuộc đời tôi vẻn vẹn vài tháng ngắn ngủi. Nhưng những tháng ngày ấy đã để
lại những ký ức trong trẻo, hồn nhiên và sâu đậm đến mức hơn nửa thế kỷ sau,
mỗi khi nhắm mắt lại, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng ve trên đồi, tiếng nước chảy
dưới mương và tiếng kẻng báo động vọng lên giữa bầu trời tuổi thơ năm ấy.

Nhận xét
Đăng nhận xét