Vỡ... ruột

 

Con người ta càng nhiều tuổi lại càng hay nhớ chuyện ngày xửa ngày xưa. Lạ lắm! Những việc mới xảy ra hôm trước có khi quên ngay, vậy mà những mẩu ký ức từ hơn nửa thế kỷ trước lại bất chợt hiện lên rõ mồn một. Dạo này, mỗi lần đi dạo trong công viên gần nhà, tôi lại nhớ đến quãng đường đi học vỡ lòng của mình cách đây hơn sáu mươi năm.


Tuổi thơ của tôi thực ra khá mờ nhạt. Tôi không nhớ được một câu chuyện nào thật trọn vẹn, có đầu có cuối như người ta thường kể. Trong trí nhớ chỉ còn sót lại những hình ảnh rời rạc, những góc phố, những con đường, những khuôn mặt và vài sự việc vụn vặt. Nhưng chính những mảnh ghép vụn vặt ấy lại làm nên cả một thời thơ ấu không thể nào quên.

Những năm đó tôi sống cùng Bố ở Nam Định. Bố tôi khi ấy là Chính ủy Quân khu, mang quân hàm Thiếu tướng. Tuy nhiên, đối với một cậu bé mới đến tuổi đi học như tôi thì những chức vụ hay quân hàm ấy hoàn toàn vô nghĩa. Điều tôi quan tâm nhất chỉ là mỗi ngày được chạy nhảy ở đâu, có được ăn quà hay không và làm thế nào để tránh bị người lớn bắt đi ngủ trưa.

Khi đến tuổi đi học vỡ lòng, ngày đầu tiên đến lớp được tổ chức khá trang trọng. Chú Phong, thư ký của Bố, được giao nhiệm vụ đưa tôi đến trường. Hôm ấy chú lấy xe đạp chở tôi ngồi phía sau. Trên suốt quãng đường đi, chú vừa đạp xe vừa kiên nhẫn chỉ từng ngã rẽ.

– Đây là công viên nhé!

– Kia là bưu điện!

– Qua chỗ cây đa này thì rẽ phải!

– Tan học nhớ đi theo đường này để về nhà!

Chú dặn đi dặn lại kỹ đến mức tôi có cảm giác mình sắp thực hiện một chuyến thám hiểm vĩ đại chứ không phải đi học vỡ lòng.

Lớp học của tôi nằm trên một bãi đất trống phía trước Nhà thờ Lớn Nam Định. Đó chỉ là một căn nhà lá dựng tạm, vách tre, mái rạ đơn sơ. Bây giờ nghĩ lại thấy quá đỗi sơ sài, nhưng hồi ấy đối với chúng tôi đó là cả một thế giới mới mẻ.

Trong lớp có hai dãy bàn dài. Trên các băng ghế chen chúc những đứa trẻ trạc tuổi nhau. Đứa nào cũng mặt mũi lem nhem, tóc tai lởm chởm, vừa khóc vừa cười, vừa tò mò vừa sợ sệt. Có đứa còn đang sụt sịt nhớ mẹ. Có đứa vừa ngồi xuống đã cấu véo bạn bên cạnh khiến cả lớp nhốn nháo.

Ông giáo dạy vỡ lòng là một người đàn ông lớn tuổi. Ông đeo cặp kính gọng đen đã cũ. Khi tôi bước vào, ông ngẩng đầu nhìn qua cặp kính rồi chỉ tay về hàng ghế đầu:

– Cho cháu ngồi đây.

Chú Phong dắt tôi đến tận chỗ ngồi rồi mới yên tâm ra về.

Tôi còn đang ngơ ngác quan sát xung quanh thì "rầm" một tiếng.

Ông giáo dùng cây thước gỗ lớn gõ mạnh xuống mặt bàn để ổn định trật tự. Tiếng động bất ngờ làm tôi giật nảy người. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được quyền lực ghê gớm của cây thước giáo viên.

Đúng lúc ấy, phía sau lưng có vật gì cứng cứng chọc vào người tôi mấy cái. Tôi quay lại. Một thằng bé mặt tròn vo đang nhìn tôi. Nó ghé sát tai hỏi nhỏ:

– Nhà mày ở đâu?

Tôi đáp lí nhí. Nó lại hỏi:

– Mày tên gì?

Thế là cuộc trò chuyện đầu tiên của đời học sinh bắt đầu.

Về sau tôi biết nó tên là Văn Lợi. Nó cao to hơn tôi, người mập mạp, đôi má bầu bĩnh lúc nào cũng đỏ hây hây. Chúng tôi ngồi gần nhau suốt một thời gian dài.

Điều kỳ lạ là hơn sáu mươi năm sau, trong một dịp trở lại Nam Định, tôi tình cờ gặp lại chính Văn Lợi ngay trên nền đất cũ nơi lớp học năm xưa từng tồn tại. Cả hai ông già tóc bạc nhìn nhau rồi cùng cười. Thời gian như biến mất trong khoảnh khắc ấy.

Còn chuyện học hành hồi đó ra sao thì thú thực tôi chẳng nhớ nhiều. Có lẽ vì học vỡ lòng chủ yếu là tập đánh vần, tập viết những chữ cái đầu tiên. Điều còn đọng lại sâu sắc hơn lại là con đường đến trường.

Nhà tôi cách lớp học hơn một cây số. Hằng ngày tôi tự đi bộ. Con đường ấy chạy ngang qua một công viên lớn. Với một đứa trẻ, công viên hấp dẫn hơn lớp học gấp nhiều lần. Tôi thường đi rất chậm. Thấy chiếc lá đẹp cũng nhặt. Thấy bông hoa rơi cũng nhặt. Có hôm mải ngắm đàn chim trên cây nên đến lớp muộn. Có hôm lại đứng nhìn người ta chơi đá cầu đến quên cả giờ giấc. Nếu ngày ấy có giải thưởng học sinh đi học chậm nhất thành phố thì chắc tôi đủ tiêu chuẩn tranh huy chương vàng.

Nhân dịp cậu con trai bước vào tuổi học sinh, Bố tôi quyết định đầu tư một món quà đặc biệt: một đôi dép da mới tinh. Đó là loại dép xăng-đan rất đẹp.

Ngày nay nghe đến dép da thì chẳng có gì lạ, nhưng hồi đó là cả một tài sản đáng giá. Đặc biệt hơn nữa, đôi dép không phải sản phẩm thủ công thông thường. Đế dép làm bằng cao su cờ-rếp mềm và nhẹ, thuộc loại hàng sang trọng thời bấy giờ.

Bố đưa đôi dép cho tôi với vẻ hài lòng. Tôi nhận đôi dép với vẻ miễn cưỡng. Lý do rất đơn giản. Từ bé tôi toàn đi chân đất.

Đôi chân đã quen với đất cát, cỏ cây, sỏi đá. Nay bị nhét vào đôi dép da cứng quèo thì chẳng khác nào bắt một chú ngựa quen chạy đồng phải mang giày tây. Mấy ngày đầu, dép cọ vào da làm đau rát. Đi được một đoạn là muốn tháo ra ngay.

Vào lớp, việc đầu tiên của tôi không phải lấy sách vở mà là cởi dép rồi xoa bóp bàn chân. Nhưng vì còn quá nhỏ nên tôi chưa hiểu giá trị của món đồ ấy.

Một hôm, trong lúc học, tôi bỏ dép ra như thường lệ. Giờ ra chơi chạy nhảy lung tung. Lúc vào học lại cũng chẳng để ý. Đến khi tan trường mới phát hiện một chiếc dép đã biến mất.

Tôi tìm khắp nơi. Lật dưới gầm bàn. Ngó sau bục giảng. Tìm ngoài sân. Không thấy. Chiếc dép như bốc hơi khỏi mặt đất. Thế là tôi đành xách chiếc còn lại trong tay rồi lủi thủi đi bộ về nhà.

Các bạn thử tưởng tượng cảnh tượng ấy xem. Một cậu học sinh vỡ lòng nét mặt buồn so như chó cái mất con. Chân đi đất. Tay xách cặp. Tay cầm chiếc dép cô đơn còn sót lại. Vừa đi vừa lo sợ không biết về nhà sẽ bị xử lý thế nào. Con đường hơn một cây số hôm ấy bỗng dài khủng khiếp. Tôi đi ngang công viên mà chẳng còn tâm trí ngắm hoa. Đi ngang bưu điện mà chẳng buồn nhìn. Đầu óc chỉ nghĩ đến số phận chiếc dép bị thất lạc.

May mắn thay, Bố không nổi giận như tôi tưởng tượng. Người chỉ nhìn chiếc dép còn lại rồi lắc đầu cười. Có lẽ Bố hiểu rằng một đứa trẻ lần đầu đi học thì mất dép cũng là chuyện bình thường. Còn tôi thì nhớ mãi sự kiện ấy.

Sau này trải qua biết bao chuyện lớn lao của cuộc đời, từ chiến tranh đến hòa bình, từ tuổi trẻ đến tuổi già, vậy mà hình ảnh cậu bé đi chân đất xách chiếc dép lẻ loi trên con đường từ lớp vỡ lòng về nhà vẫn luôn hiện lên rõ ràng trong ký ức.

Mỗi lần nhớ lại, tôi lại bật cười. Cười vì sự ngây ngô của chính mình. Cười vì những điều tưởng nhỏ bé lại có sức sống bền bỉ đến kỳ lạ trong tâm trí con người. Và đôi khi, nghĩ đến chiếc dép thất lạc năm nào, tôi vẫn có cảm giác... vỡ ruột như thuở ấy.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Có một thời như thế đấy

Những kỷ niệm về ngôi nhà 97