Chuyến đi Mỹ đầu tiên

 

Sau vài năm nghỉ hưu, tôi đã có dịp thực hiện một số chuyến đi trong nước cũng như nước ngoài. Có chuyến chỉ vài ngày, có chuyến kéo dài hàng tuần; khi thì đi theo đoàn du lịch trọn gói, lúc lại tự mình lên kế hoạch và sắp xếp mọi thứ. Mỗi chuyến đi đều mang đến những trải nghiệm mới mẻ, nhưng chuyến đi để lại nhiều dấu ấn nhất có lẽ là lần đầu tiên đặt chân đến nước Mỹ vào năm 2013.

Ý định sang Mỹ đến khá bất ngờ. Một người bạn Việt kiều quen biết từ lâu trong một lần về thăm quê đã nhiều lần ngỏ ý mời tôi sang chơi. Ban đầu tôi chỉ nghe cho vui vì nghĩ rằng nước Mỹ quá xa xôi, việc đi lại chắc hẳn phức tạp và tốn kém. Thế nhưng sau nhiều lần được động viên, cộng với sự tò mò muốn tận mắt nhìn thấy đất nước mà từ trước tới nay mình chỉ biết qua sách báo, phim ảnh và truyền hình, tôi quyết định thực hiện chuyến đi. Sau một thời gian cân nhắc, tôi mạnh dạn mua vé máy bay cho hành trình kéo dài khoảng một tháng rưỡi.

Ngay từ khi bắt đầu chuẩn bị, tôi nhận ra rằng việc quan trọng nhất không phải là đặt vé hay chuẩn bị hành lý, mà chính là xin thị thực nhập cảnh Hoa Kỳ. Đối với nhiều người Việt Nam thời điểm đó, đây là thủ tục khiến không ít người lo lắng. Tôi cũng không phải ngoại lệ. Hàng loạt giấy tờ phải chuẩn bị, từ hộ chiếu, ảnh, đơn khai, giấy tờ chứng minh tài chính cho đến lịch trình chuyến đi. May mắn thay, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều người quen. Có người hướng dẫn cách lập đơn, có người tư vấn những điểm cần lưu ý khi phỏng vấn. Nhờ vậy mà mọi việc diễn ra thuận lợi hơn nhiều so với những gì tôi hình dung.

Ngày đến phỏng vấn tại Đại sứ quán Mỹ, dù đã chuẩn bị tâm lý nhưng tôi vẫn có chút hồi hộp. Khi đến lượt mình, viên chức lãnh sự chỉ hỏi vài câu ngắn gọn. “Ông sang Mỹ làm gì?” – “Đi du lịch, thăm bạn bè.” “Hiện nay ông làm công việc gì?” – “Tôi đã nghỉ hưu.” “Có mang theo giấy tờ chứng minh tài chính không?” – “Có.” Tôi đưa cuốn sổ tiết kiệm theo yêu cầu. Cuộc trao đổi diễn ra rất nhanh. Sau vài phút, hộ chiếu của tôi được giữ lại. Rời sứ quán, tôi vẫn chưa thật sự yên tâm vì chưa biết kết quả cuối cùng thế nào. Vài ngày sau, giữa một buổi chiều mưa, nhân viên bưu điện mang đến một phong bì. Mở ra, tôi thấy hộ chiếu đã được dán thị thực. Vậy là cánh cửa đến nước Mỹ chính thức mở ra trước mắt.

Ngày khởi hành đến nhanh hơn tôi tưởng. Từ Hà Nội, chúng tôi bay đến sân bay Đào Viên của Đài Loan để quá cảnh. Chặng bay đầu tiên kéo dài khoảng ba giờ đồng hồ. Sau khi nghỉ ngơi ít giờ trong khu vực trung chuyển, chúng tôi tiếp tục lên chiếc Boeing 747-400 khổng lồ, loại máy bay từng được mệnh danh là “Nữ hoàng bầu trời”. Trước đó tôi đã nhiều lần đi máy bay, nhưng đây là lần đầu tiên trải nghiệm một chuyến bay dài xuyên Thái Bình Dương.

Hành trình từ Đài Loan đến San Francisco dài hơn 11.000 km và mất khoảng 11 giờ 30 phút. Ngồi trong khoang máy bay suốt một khoảng thời gian dài như vậy quả thực không dễ chịu. Dù hãng hàng không phục vụ khá chu đáo, có phim để xem, có bữa ăn nóng và nước uống đầy đủ, nhưng cảm giác mỏi lưng, tê chân và chênh lệch múi giờ vẫn khiến hành khách khá mệt mỏi. Qua ô cửa sổ nhỏ, thỉnh thoảng tôi nhìn xuống những tầng mây trắng trải dài bất tận trên mặt đại dương mênh mông. Ý nghĩ mình đang bay qua một vùng biển rộng lớn nhất hành tinh khiến tôi vừa thích thú vừa có chút ngỡ ngàng.

Khi máy bay chuẩn bị đến San Francisco, tôi tưởng rằng chỉ ít phút nữa sẽ được đặt chân xuống đất. Thế nhưng thực tế lại khác. Hôm đó lưu lượng máy bay đến sân bay quốc tế San Francisco rất đông. Chiếc Boeing của chúng tôi phải bay vòng trên bầu trời gần một giờ đồng hồ để chờ lệnh hạ cánh. Qua cửa sổ, tôi thấy những dải bờ biển, những khu dân cư và mặt nước xanh thẫm của vịnh San Francisco hiện ra rồi lại biến mất sau mỗi vòng lượn. Có lúc tôi đếm được ít nhất năm vòng bay liên tiếp. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một “nạn ùn tắc giao thông trên không” như vậy.

Cuối cùng máy bay cũng hạ cánh an toàn. Sau khi hoàn tất các thủ tục ban đầu, hành khách nối đuôi nhau tiến về khu vực kiểm soát nhập cảnh. Người tiếp nhận hồ sơ của tôi là một nhân viên Mỹ gốc Việt. Trên ngực áo anh đeo bảng tên có chữ “Loc”. Có lẽ để tạo sự thuận tiện cho những người Việt mới đến, anh sử dụng tiếng Việt để trao đổi. Tuy nhiên, tiếng Việt của anh không còn thật lưu loát nên đôi lúc tôi phải xen lẫn cả tiếng Anh để trả lời.

Những câu hỏi được đặt ra cũng tương tự như khi phỏng vấn xin thị thực: sang Mỹ làm gì, ở đâu, trong bao lâu, có người thân hay bạn bè bảo lãnh không. Cuộc trò chuyện diễn ra khá thoải mái. Câu hỏi cuối cùng là: “Ông mang theo bao nhiêu tiền mặt?” Tôi trả lời thành thật số tiền mình mang theo. Anh nhìn tôi vài giây, kiểm tra lại hộ chiếu rồi bất ngờ đóng dấu “cộp” một tiếng rất dứt khoát.

Khi nhận lại hộ chiếu, tôi mở ra xem và khá ngạc nhiên. Dấu nhập cảnh ghi ngày 17 tháng 5, đồng thời cho phép tôi lưu trú đến tận ngày 15 tháng 10. Thời hạn này dài hơn rất nhiều so với kế hoạch chuyến đi của tôi. Sau này khi kể lại cho một số người Việt đang sinh sống tại California, nhiều người cũng tỏ ra bất ngờ vì không phải ai mang hộ chiếu Việt Nam cũng được cấp thời gian lưu trú dài như vậy.

Rời khỏi khu vực sân bay, tôi mới có dịp cảm nhận rõ không khí của California. Lúc đó Hà Nội đang bước vào mùa hè nóng bức, nhiệt độ thường xuyên trên bốn mươi độ C. Trái lại, khí hậu ở vùng ven biển California mát mẻ, khô ráo và dễ chịu. Cái lạnh nhẹ của gió biển khiến cảm giác mệt mỏi sau hơn mười bốn giờ di chuyển dường như tan biến.

Điều làm tôi ấn tượng nhất là ánh sáng của buổi chiều. Đồng hồ đã chỉ hơn tám giờ tối nhưng mặt trời vẫn chưa khuất hẳn. Những tia nắng cuối ngày còn phản chiếu rực rỡ trên các đám mây sẫm màu lơ lửng phía chân trời. Xa xa là mặt nước Thái Bình Dương mênh mông, nơi ánh sáng vàng cam hòa cùng màu xanh của biển tạo nên một khung cảnh đẹp đến khó quên. Đứng trước khung cảnh ấy, tôi hiểu rằng chuyến đi dài ngày sang nước Mỹ không chỉ là một cuộc du lịch đơn thuần. Đó còn là cơ hội để một người đã bước qua tuổi lao động được mở rộng tầm mắt, khám phá những miền đất mới và ghi thêm một kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời mình.

Nơi trú ngụ và tôm hùm

Trong suốt những ngày lưu lại California, chúng tôi được bố trí ở tại nhà một người Việt kiều quen biết từ trước. Đó là một hình thức lưu trú theo kiểu homestay đúng nghĩa, vừa tiết kiệm chi phí, vừa tạo điều kiện để tìm hiểu cuộc sống thường nhật của người dân địa phương. Đối với những người lần đầu đặt chân đến nước Mỹ như chúng tôi, việc được sinh hoạt trong một gia đình Việt kiều mang lại rất nhiều trải nghiệm thú vị, giúp hiểu thêm về cuộc sống của cộng đồng người Việt nơi đất khách quê người.

Ngôi nhà nằm trên một con phố yên tĩnh, hai bên đường là những hàng cây xanh mát. Nhà cửa ở khu vực này mang đậm phong cách kiến trúc phổ biến của người Mỹ. Phía trước mỗi căn nhà đều có một khoảng sân nhỏ tiếp giáp với vỉa hè, được phủ kín bằng thảm cỏ xanh mượt. Trên thảm cỏ ấy thường điểm xuyết vài khóm hoa, bụi cây cảnh hoặc một hai cây bóng mát. Tuy diện tích không lớn nhưng tất cả đều được chăm sóc cẩn thận, tạo nên một khung cảnh rất ngăn nắp và dễ chịu.

Mỗi buổi sáng, chủ nhà đều mang vòi nước ra tưới cây, chăm sóc bãi cỏ và thu dọn những chiếc lá khô rơi trên sân. Tôi thắc mắc vì sao họ phải chăm chút kỹ đến như vậy thì được giải thích rằng chính quyền địa phương có những quy định khá nghiêm ngặt về vệ sinh và cảnh quan. Nếu để cỏ mọc quá cao, cây cối héo úa hoặc sân vườn nhếch nhác, chủ nhà có thể bị nhắc nhở hoặc thậm chí bị phạt tiền. Có lẽ vì thế mà cả khu phố đều sạch sẽ, gọn gàng và gần như không thấy rác thải.

Điều khiến tôi ngạc nhiên là hầu hết các ngôi nhà trong khu vực đều là nhà thấp tầng. Nếu đem so sánh với Việt Nam thì có thể coi là kiểu nhà cấp bốn hoặc nhà một tầng. Chúng không đồ sộ hay cầu kỳ như những biệt thự thường thấy trên phim ảnh. Tường nhà được xây khá nhẹ, nhiều vách ngăn bên trong làm bằng gỗ ép hoặc vật liệu tổng hợp. Khi gõ vào tường nghe tiếng rỗng khác hẳn những bức tường gạch dày ở Việt Nam. Chủ nhà cho biết California là khu vực thường xảy ra động đất nên người ta ưu tiên sử dụng những vật liệu nhẹ, có độ đàn hồi tốt để hạn chế thiệt hại khi có rung chấn. Đó là điều mà trước đây tôi chỉ đọc trên báo chí, nay mới có dịp tận mắt chứng kiến.

Những ngày ở đây, sinh hoạt của gia đình diễn ra khá giản dị. Hằng ngày mọi người thay phiên nhau đi chợ mua thực phẩm rồi cùng chuẩn bị bữa ăn theo khẩu vị Việt Nam. Điều này khiến chúng tôi cảm thấy gần gũi như đang sống ở quê nhà. Ngay trong ngày đầu tiên đặt chân tới California, chủ nhà đã chiêu đãi cả đoàn một bữa phở đặc biệt mà mọi người vui miệng gọi là “phở Cali”.

Thoạt nghe tên gọi ấy, tôi nghĩ chắc hẳn sẽ khác xa món phở ở Việt Nam. Thế nhưng khi thưởng thức mới thấy hương vị khá quen thuộc. Hóa ra cộng đồng người Việt ở California rất đông, đặc biệt tập trung tại thành phố San Jose và nhiều khu vực lân cận. Vì vậy hầu hết các nguyên liệu cần thiết để nấu món ăn Việt Nam đều có thể tìm mua dễ dàng. Bánh phở tươi được sản xuất và đóng gói sạch sẽ. Chỉ cần mang về hâm nóng bằng lò vi sóng là có thể sử dụng. Các loại rau thơm, giá đỗ, hành lá, ngò gai hay húng quế đều rất phong phú. Những bó rau to và tươi không khác gì ở các chợ Sài Gòn.

Nguyên liệu thịt bò cũng rất đa dạng. Ngoài các loại thịt bò thông thường còn có cả thịt bò Kobe được nuôi tại Mỹ. Nước dùng của bát phở hôm ấy không được ninh hoàn toàn bằng xương như cách làm truyền thống ở Việt Nam mà người nấu cho cả những khúc đuôi bò lớn vào hầm cùng các loại gia vị. Thành phẩm là một bát phở có kích thước rất lớn, đầy đặn và giàu dinh dưỡng. Chúng tôi cố gắng ăn thật sạch vì vừa ngon miệng vừa nghĩ rằng không phải ai cũng có dịp ngồi giữa California để thưởng thức một bát phở đậm hương vị Việt Nam như vậy.

Sang ngày hôm sau, chúng tôi lại được một người bạn thiết đãi món ăn nổi tiếng khác là tôm hùm. Đối với nhiều người Việt Nam, tôm hùm là món ăn sang trọng chỉ xuất hiện trong những dịp đặc biệt. Vì vậy khi nghe thông báo thực đơn buổi tối là tôm hùm, ai cũng háo hức.

Tôm hùm mà chúng tôi được thưởng thức thuộc loại tôm hùm vùng Bắc Đại Tây Dương, nổi tiếng nhất là các nguồn khai thác từ Canada và vùng đông bắc nước Mỹ. Trong đó, tiểu bang Maine được xem là “thủ phủ tôm hùm” của Hoa Kỳ. Đây là loài giáp xác có hình dáng rất đặc biệt với năm đôi chân, trong đó đôi chân đầu tiên phát triển thành hai chiếc càng khổng lồ. Một càng có chức năng cắt, còn càng kia dùng để nghiền thức ăn. Sức mạnh của chúng lớn đến mức có thể kẹp vỡ nhiều loại vỏ cứng.

Thời điểm chúng tôi đến California cũng là mùa đánh bắt chính trong năm. Vì vậy giá bán tôm hùm khá dễ chịu so với tưởng tượng của chúng tôi. Chủ nhà kể rằng ở Mỹ, nhiều gia đình có thể mua tôm hùm về chế biến như một món ăn cuối tuần. Trong khi đó ở Việt Nam, giá tôm hùm thường cao hơn rất nhiều và thường chỉ xuất hiện trong các nhà hàng lớn.

Mỗi con tôm hùm được chọn cho bữa ăn đều có kích thước khá lớn, dài trên hai mươi lăm centimet và nặng khoảng bảy trăm đến tám trăm gam. Khi được hấp hoặc nướng chín, lớp vỏ chuyển sang màu đỏ tươi rất đẹp mắt. Phần thịt bên trong trắng ngần, săn chắc và có vị ngọt tự nhiên đặc trưng. Chân, càng và râu sau khi chín đều dễ bóc hơn lúc còn sống.

Món ăn được mọi người yêu thích nhất là tôm hùm nướng với tỏi và phô mai. Những con tôm được bổ đôi theo chiều dọc, phủ lên trên lớp tỏi băm và phô mai rồi đem nướng cho đến khi dậy mùi thơm ngậy. Khi đưa lên bàn, mùi hương lan tỏa khiến ai cũng khó có thể cưỡng lại. Tuy việc tách vỏ lấy thịt đòi hỏi đôi chút công sức nhưng đó cũng là một phần thú vị của bữa ăn. Mọi người vừa trò chuyện, vừa thưởng thức từng miếng thịt tôm ngọt lịm, thỉnh thoảng nhấp một ngụm vang trắng mát lạnh. Trong khung cảnh ấm cúng của gia đình Việt giữa đất Mỹ, món ăn ấy không chỉ ngon bởi hương vị mà còn bởi tình cảm chân thành của những người chủ nhà hiếu khách.

Nhìn lại, những ngày đầu tiên ở California đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp. Đó không chỉ là những ngôi nhà giản dị giữa khu phố yên bình, những bãi cỏ xanh được chăm sóc cẩn thận hay những quy định nghiêm ngặt về môi trường sống. Điều đáng nhớ hơn cả chính là sự gắn bó của cộng đồng người Việt nơi đây, những bữa cơm đậm hương vị quê hương và sự đón tiếp nồng hậu dành cho những vị khách từ phương xa. Những trải nghiệm ấy đã giúp tôi hiểu rằng dù sống ở bất cứ nơi đâu, người Việt vẫn luôn giữ gìn những nét văn hóa quen thuộc của mình, để mỗi người khi xa quê đều có thể tìm thấy một phần quê hương trong cuộc sống nơi đất khách.

Ẩm thực trên những cung đường

Một trong những điều thú vị nhất của mỗi chuyến đi xa đối với tôi không chỉ là ngắm cảnh đẹp, tìm hiểu lịch sử hay khám phá văn hóa địa phương, mà còn là cơ hội được thưởng thức những món ăn đặc trưng của vùng đất mình đặt chân tới. Ẩm thực luôn là một phần quan trọng trong hành trình khám phá. Qua những món ăn, người ta có thể hiểu thêm về tập quán sinh hoạt, điều kiện tự nhiên và cả tính cách của cư dân nơi đó.

Nếu tham gia các đoàn du lịch trọn gói thì chuyện ăn uống thường đã được chuẩn bị sẵn trong chương trình. Các bữa ăn được sắp xếp chu đáo, thực đơn khá phong phú, bàn tiệc lúc nào cũng đầy đặn chẳng khác gì những bữa tiệc cưới ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi đi du lịch theo hình thức tự túc, đặc biệt là ở một đất nước rộng lớn như Hoa Kỳ, việc lựa chọn món ăn lại trở thành một trải nghiệm thú vị không kém việc tham quan các danh lam thắng cảnh.

Nhắc đến nước Mỹ, người ta thường nghĩ ngay đến những món ăn nhanh nổi tiếng như hamburger, hotdog, sandwich hay khoai tây chiên. Đây là những món ăn có mặt ở khắp nơi, từ các thành phố lớn cho tới những thị trấn nhỏ ven đường. Đối với khách du lịch, nhất là những người thường xuyên di chuyển giữa các điểm tham quan hoặc kết hợp du lịch với mua sắm, đồ ăn nhanh là lựa chọn rất thuận tiện. Chỉ cần vài phút là đã có một bữa ăn đầy đủ năng lượng để tiếp tục hành trình.

Trong các trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí, sân bay hay các điểm dừng chân trên xa lộ, người ta đều dễ dàng tìm thấy những cửa hàng bán đồ ăn nhanh. Khách du lịch có thể mua mang đi hoặc ngồi lại dùng bữa ngay tại chỗ. Những món ăn này được chế biến khá hợp khẩu vị, cung cấp đầy đủ chất đạm, tinh bột và rau xanh. Với người Mỹ, đó là bữa ăn quen thuộc hằng ngày.

Tuy nhiên, đối với những người Việt Nam đã quen với bữa cơm gia đình, việc ăn đồ ăn nhanh liên tục trong nhiều ngày không phải lúc nào cũng dễ chịu. Sau vài bữa đầu tiên còn thấy mới lạ, nhưng dần dần cảm giác ngán bắt đầu xuất hiện. Nhiều người trong đoàn chúng tôi thường đùa rằng đi đâu thì đi, cuối cùng vẫn nhớ bát cơm nóng với bát canh rau của quê nhà.

Tôi vẫn nhớ lần đi tham quan vùng Napa Valley, nơi nổi tiếng với những cánh đồng nho và các nhà máy sản xuất rượu vang. Trên đường đi, đoàn dừng chân tại một khu dịch vụ ven xa lộ để nghỉ ngơi và ăn trưa. Tôi mạnh dạn gọi một chiếc hamburger loại double vì nghĩ rằng mình đang đói và chắc sẽ ăn hết được. Thế nhưng khi chiếc bánh được mang ra, tôi mới thấy quyết định của mình có phần quá tự tin.

Chiếc bánh to đến mức phải há miệng hết cỡ mà vẫn không thể cắn trọn một miếng. Tôi đành phải dùng tay tách bánh ra thành nhiều phần nhỏ hơn. Trong lúc loay hoay, nào thịt, nào rau, nào nước sốt cứ liên tục rơi xuống khay. Ăn được một lúc thì cảm giác no đã xuất hiện nhưng chiếc bánh vẫn còn nguyên một nửa. Cuối cùng tôi đành bỏ lại phần còn lại với chút tiếc nuối. Khi ấy mới hiểu vì sao khẩu phần ăn của người Mỹ thường được nhận xét là rất lớn so với người châu Á.

Dần dần, sau vài ngày làm quen, tôi cũng thích nghi hơn với cách ăn uống ở đây. Những chiếc hamburger hay hotdog không còn là thử thách quá lớn nữa. Thậm chí có hôm ăn hết khẩu phần mà vẫn thấy muốn gọi thêm một ly kem hoặc một cốc nước ngọt. Đồ ăn nhanh thường được dùng kèm với Pepsi, Coca-Cola hoặc kem, tạo thành một bữa ăn đơn giản nhưng khá hấp dẫn.

Bên cạnh các món ăn nhanh truyền thống của Mỹ, vùng bờ Tây còn là nơi hội tụ văn hóa ẩm thực của rất nhiều dân tộc khác nhau. Do có cộng đồng người nhập cư đông đảo, thực khách có thể dễ dàng thưởng thức các món ăn đến từ Mexico, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hay Việt Nam.

Trong số đó, ẩm thực Mexico xuất hiện khá nhiều. Người Mexico sinh sống và làm việc tại bang California rất đông, vì vậy các nhà hàng mang phong cách Mexico có mặt ở khắp nơi. Những món như taco, burrito, fajita hay cơm kiểu Mexico đều khá phổ biến. Hương vị đậm đà với nhiều gia vị, ớt và rau thơm khiến các món ăn này có phần gần gũi hơn với khẩu vị của người Việt.

Tại thành phố San Jose, tôi từng ghé một nhà hàng nổi tiếng mang tên El Pollo Loco, có nghĩa là “Gà Điên”. Nhà hàng chuyên phục vụ các món gà nướng theo công thức Mexico. Thịt gà được tẩm ướp kỹ lưỡng, nướng trên lửa than nên có mùi thơm rất hấp dẫn. Ăn kèm với cơm, đậu và nước sốt đặc trưng tạo nên một bữa ăn khá thú vị, khác hẳn với các món gà quen thuộc ở Việt Nam.

Nếu phải chọn món ăn để lại nhiều ấn tượng nhất trong chuyến đi, tôi sẽ dành sự ưu ái cho món beef steak kiểu Mỹ. Trong suốt hành trình, chúng tôi đã có cơ hội thưởng thức món ăn này tại nhiều nhà hàng nổi tiếng. Một trong những lần đáng nhớ nhất là tại nhà hàng của Harris Ranch nằm bên xa lộ số 5. Không gian nơi đây được thiết kế theo phong cách miền Tây nước Mỹ với hình ảnh những chàng cao bồi, những cỗ xe ngựa và khung cảnh thảo nguyên rộng lớn.

Một lần khác, chúng tôi được dùng bữa tại nhà hàng House of Prime Rib ở San Francisco. Điểm đặc biệt của nhà hàng là đầu bếp đẩy một xe phục vụ chứa cả tảng thịt bò nướng lớn đến tận bàn khách. Thực khách thích phần thịt nào thì chỉ cần chỉ vào đó, đầu bếp sẽ cắt ngay trước mặt. Tôi đã cố gắng ăn hết một miếng beef steak nặng gần một pound, dày hơn hai centimet. Miếng thịt mềm, thơm, ngọt tự nhiên và đặc biệt ngon hơn khi dùng cùng một ly vang đỏ. Đó thực sự là một trải nghiệm ẩm thực khó quên.

Dù đã thưởng thức nhiều món ăn hấp dẫn của nước Mỹ, nhưng món ăn khiến tôi cảm thấy gần gũi nhất vẫn là phở Việt Nam. Điều thú vị là ở nước Mỹ, đặc biệt tại những nơi có đông người Việt sinh sống, việc tìm một quán phở không hề khó. Từ San Jose, khu Bolsa nổi tiếng của người Việt ở miền Nam California cho đến tận Boston ở bờ Đông, đâu đâu cũng có những quán phở đông khách.

Trong suốt chuyến đi, tôi đã nhiều lần ghé vào các quán phở để tìm lại hương vị quê hương. Bát phở nóng hổi với nước dùng thơm mùi quế, hồi, bánh phở mềm và những lát thịt bò mỏng khiến người xa quê cảm thấy ấm lòng. Giữa một đất nước rộng lớn và hiện đại, được ngồi trước một tô phở Việt Nam vẫn mang lại cảm giác thân thuộc đặc biệt.

Chuyến đi nước Mỹ vì thế không chỉ là hành trình khám phá cảnh đẹp, con người và văn hóa, mà còn là hành trình khám phá những hương vị đa dạng của thế giới. Từ chiếc hamburger khổng lồ bên đường, món gà nướng Mexico đậm đà, miếng beef steak thơm lừng cho đến bát phở Việt Nam nơi đất khách, mỗi món ăn đều để lại một kỷ niệm riêng, góp phần làm cho chuyến đi trở nên đáng nhớ hơn.

Buổi sáng trong công viên

Giấc ngủ đầu tiên trên đất Mỹ đến với tôi thật nhẹ nhàng và dễ chịu. Trước khi lên đường, nhiều người bạn từng cảnh báo rằng tôi có thể sẽ mất vài ngày để thích nghi với sự chênh lệch múi giờ giữa Việt Nam và nước Mỹ. Thế nhưng thực tế lại khác hẳn. Có lẽ sau hành trình dài với nhiều giờ bay liên tục, cơ thể đã quá mệt mỏi nên khi đặt lưng xuống giường, tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ sâu. Thêm vào đó, tiết trời đầu mùa hè ở miền Bắc California mát mẻ, se lạnh và trong lành cũng góp phần mang lại cho tôi một đêm nghỉ ngơi trọn vẹn.

Sáng hôm sau, tôi thức dậy khá sớm. Điều đầu tiên tôi làm là mở chiếc laptop mang theo để liên lạc với gia đình và bạn bè ở Hà Nội. Khoảng cách nửa vòng trái đất bỗng trở nên ngắn lại nhờ công nghệ. Những lời hỏi han quen thuộc, những dòng tin nhắn từ quê nhà khiến tôi cảm thấy ấm lòng. Sau khi hoàn thành “báo cáo tình hình”, tôi cùng người thân chuẩn bị cho chuyến dạo chơi đầu tiên trong thành phố Fremont.

Khoảng bảy giờ sáng, chúng tôi lên xe hướng về Fremont Central Park – công viên trung tâm nổi tiếng của thành phố. Đây là một trong những không gian xanh lớn nhất khu vực Vịnh San Francisco, nơi người dân địa phương thường đến để tập thể dục, thư giãn hoặc tổ chức các hoạt động ngoài trời. Chỉ mất ít phút lái xe, trước mắt tôi đã hiện ra một khoảng không gian rộng lớn, xanh mát và thanh bình.

Điểm nổi bật nhất của công viên là hồ Lake Elizabeth. Mặt hồ rộng mênh mông, nước phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời xanh trong. Bao quanh hồ là những đám sậy cao lớn đung đưa theo gió. Người ta nói rằng vùng đất này trước kia vốn là khu đầm lầy tự nhiên, và những bãi sậy còn lại chính là dấu tích của một thời xa xưa ấy. Nhìn những bụi sậy trải dài ven mặt nước, tôi bất giác liên tưởng đến những cánh đồng lau bên các dòng sông quê hương, chỉ khác rằng ở đây mọi thứ được bảo tồn rất cẩn thận và hài hòa với cảnh quan chung.

Quanh hồ có một con đường bê tông rộng rãi, sạch sẽ, dài hơn hai dặm. Đây là tuyến đường dành cho người đi bộ, chạy bộ và đạp xe. Mặc dù mặt trời đã lên khá cao, ánh nắng bắt đầu rực rỡ nhưng không khí vẫn mát lạnh. Cái nắng ở California rất đặc biệt. Nhìn ánh mặt trời chói chang tưởng như oi bức, nhưng khi đứng dưới bóng cây hoặc có cơn gió nhẹ thổi qua, người ta vẫn cảm nhận được sự dễ chịu của tiết trời.

Điều làm tôi ấn tượng nhất không phải là cảnh quan, mà là nhịp sống của con người nơi đây. Trên con đường quanh hồ, rất đông người đang đi bộ hoặc chạy bộ. Phần lớn là những người cao tuổi. Có người đi một mình, có người đi theo cặp, có nhóm bạn vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ. Điều đáng chú ý là dù không hề quen biết nhau, mỗi khi gặp người đi ngược chiều, họ thường mỉm cười và cất tiếng chào: “Good morning!”. Lời chào ngắn gọn nhưng thân thiện ấy khiến không khí buổi sáng trở nên gần gũi hơn rất nhiều.

Ban đầu tôi còn hơi ngại ngùng, nhưng chỉ sau vài lần được chào, tôi cũng vui vẻ đáp lại bằng một tiếng “Morning!” thật tự nhiên. Những người xa lạ hoàn toàn có thể trao cho nhau một nụ cười và lời chúc đầu ngày. Đó là nét văn hóa giản dị nhưng rất đáng quý. Nó làm cho một công viên rộng lớn không còn cảm giác lạnh lẽo hay xa cách mà trở thành nơi cộng đồng cùng chia sẻ niềm vui sống.

Ven bờ hồ, tôi bắt gặp vài ông lão đang ngồi câu cá. Họ mặc áo khoác dày, đội mũ lưỡi trai, lặng lẽ hướng mắt về phía mặt nước. Dáng ngồi co ro trong làn gió sớm tạo nên một khung cảnh bình yên đến lạ. Có lẽ đối với họ, niềm vui không nằm ở số cá câu được mà ở những giờ phút thư thái giữa thiên nhiên.

Ở một góc khác của công viên, một nhóm phụ nữ gốc Hoa đang tập thái cực quyền. Những động tác chậm rãi, uyển chuyển diễn ra trong không gian tĩnh lặng dưới những tán cây lớn. Tiếng chim hót, tiếng lá xào xạc và nhịp vận động nhẹ nhàng của họ hòa quyện với nhau thành một bức tranh thanh bình hiếm thấy giữa cuộc sống hiện đại.

Thiên nhiên nơi đây cũng rất phong phú. Trên các bãi cỏ rộng, những đàn vịt và ngỗng nhởn nhơ đi lại kiếm ăn. Chúng dường như chẳng hề sợ hãi con người. Từng đàn nối nhau di chuyển khắp công viên, để lại dấu vết trên các lối đi. Thi thoảng, một chú sóc nhỏ xuất hiện từ gốc cây, chạy vụt qua đường rồi dừng lại nhìn khách tham quan bằng đôi mắt đen láy đầy tò mò. Những con vật hoang dã ấy đã trở thành một phần quen thuộc của cuộc sống nơi đây.

Ven hồ còn có nhiều loài chim nước. Những con cò, con vạc với chiếc mỏ dài chăm chú tìm kiếm thức ăn giữa đám cỏ ven bờ. Chúng đứng bất động hàng phút, rồi bất ngờ lao xuống mặt nước khi phát hiện con mồi. Khung cảnh ấy khiến tôi cảm giác như đang xem một bộ phim tài liệu về thiên nhiên ngay giữa lòng thành phố.

Một điều khác làm tôi chú ý là cách người Mỹ chăm sóc cây xanh. Trong công viên có rất nhiều cây cổ thụ cao lớn. Dưới mỗi gốc cây đều được phủ một lớp dăm gỗ dày. Tôi được giải thích rằng những cành cây khô hoặc cây bị đốn hạ sẽ được nghiền nhỏ rồi tái sử dụng làm lớp phủ cho đất. Cách làm này vừa giữ độ ẩm cho cây, vừa tạo cảnh quan sạch đẹp, lại góp phần bảo vệ môi trường. Điều đó cho thấy tư duy tận dụng và tái chế đã trở thành một phần trong đời sống thường nhật.

Dưới những tán cây lớn còn có các bệ lò nướng được xây dựng từ nhiều thập niên trước. Đây là nơi các gia đình tụ họp vào cuối tuần để tổ chức picnic hoặc tiệc nướng ngoài trời. Hình ảnh ấy khiến tôi hình dung đến những ngày hè nhộn nhịp, khi trẻ em vui đùa trên bãi cỏ, người lớn quây quần bên bếp than và tiếng cười vang lên khắp công viên.

Kết thúc vòng dạo quanh hồ, tôi ngồi nghỉ trên một chiếc ghế gỗ nhìn mặt nước lấp lánh dưới nắng sớm. Không gian trong lành, tiếng chim hót và nhịp sống thong thả của mọi người khiến tâm hồn tôi trở nên thư thái lạ thường. Chuyến đi bộ đầu tiên tại Fremont Central Park không chỉ giúp tôi khám phá một góc nhỏ của nước Mỹ mà còn cho tôi cảm nhận rõ hơn về cách con người nơi đây sống hòa hợp với thiên nhiên.

Buổi sáng ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng đẹp và khó quên. Giữa một đất nước hiện đại với những thành phố phát triển bậc nhất thế giới, vẫn tồn tại những khoảng không gian xanh rộng lớn, nơi con người có thể tìm thấy sự bình yên, gần gũi và thanh thản. Đó chính là món quà quý giá nhất mà công viên Fremont đã dành cho một người khách phương xa trong buổi sáng đầu tiên trên đất Mỹ.

Lượm lặt phố phường

Có dịp sống và sinh hoạt cùng người dân bản xứ trong một thời gian, tôi nhận ra rằng nước Mỹ hiện lên trước mắt khác khá xa so với những hình dung quen thuộc mà nhiều người vẫn có. Từ lâu, qua phim ảnh, sách báo hay truyền hình, nước Mỹ thường được gắn với hình ảnh những tòa nhà chọc trời, những đại lộ rộng lớn và một cuộc sống hiện đại, giàu có bậc nhất thế giới. Thế nhưng, khi trực tiếp đi lại trên các phố phường, quan sát đời sống thường ngày của người dân, tôi nhận thấy một bức tranh đa dạng và gần gũi hơn nhiều.

Đúng là nước Mỹ có những đô thị nổi tiếng với các cụm cao ốc đồ sộ như New York, Chicago hay San Francisco. Tuy nhiên, những khu vực đó chỉ chiếm một phần nhỏ trong không gian đô thị rộng lớn. Phần đông người dân sinh sống trong những khu nhà thấp tầng trải dài bất tận. Nhà một tầng hoặc hai tầng là kiểu kiến trúc phổ biến nhất. Các khu dân cư thường yên tĩnh, nhiều cây xanh và có khoảng sân nhỏ trước nhà. Điều khiến tôi ngạc nhiên là rất nhiều ngôi nhà đã tồn tại hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm nhưng vẫn được sử dụng bình thường. So với những khu đô thị mới xây dựng đồng bộ ở Việt Nam hiện nay, nhiều khu phố tại Mỹ mang vẻ cũ kỹ và có phần lộn xộn hơn.

Dạo bước trên những con phố đông đúc, nơi tập trung các cửa hàng thời trang, quán ăn hay trung tâm thương mại hiện đại, thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những căn nhà cũ kỹ gần như bị bỏ quên giữa dòng chảy phát triển. Chúng đứng lặng lẽ bên cạnh những công trình mới, tạo nên sự tương phản khá thú vị. Có lẽ chính điều đó góp phần tạo nên nét riêng của các thành phố Mỹ, nơi cái mới và cái cũ cùng tồn tại mà không nhất thiết phải thay thế lẫn nhau.

Một điều khác khiến tôi chú ý là cách đánh số nhà. Ở nhiều nơi tại Việt Nam, đặc biệt trong các khu đô thị mới, số nhà thường được quy hoạch khá thống nhất. Trong khi đó, ở nhiều khu phố Mỹ, biển số nhà có đủ kiểu dáng, kích thước và màu sắc khác nhau. Có căn được ghi rất rõ ràng, có căn lại nhỏ đến mức phải đứng sát mới nhìn thấy. Điều này đôi khi gây khó khăn cho những người lần đầu tìm địa chỉ.

Quan sát kỹ hơn các công trình xây dựng, tôi còn bắt gặp những chi tiết tưởng như đã trở thành quá khứ ở nhiều thành phố Việt Nam. Trên không ít tòa nhà vẫn xuất hiện những chiếc máy điều hòa dạng cửa sổ nhô ra ngoài khung cửa. Loại máy này từng rất phổ biến ở nước ta nhiều thập niên trước nhưng hiện nay đã hầu như biến mất. Thế nhưng tại Mỹ, chúng vẫn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong các khu nhà xây dựng từ lâu.

Tương tự như vậy, các loại ăng-ten truyền hình ngoài trời vẫn còn xuất hiện khá nhiều. Trong khi tại Việt Nam, truyền hình cáp, truyền hình số và internet đã khiến hình ảnh những chiếc ăng-ten tua tủa trên mái nhà dần trở thành ký ức, thì ở một số khu dân cư Mỹ, chúng vẫn là một phần quen thuộc của cảnh quan đô thị.

Hệ thống điện lực cũng mang lại cho tôi nhiều cảm nhận thú vị. Tại nhiều thành phố, dây điện và dây viễn thông được đi ngầm dưới lòng đất. Nhưng ở không ít khu dân cư khác, đặc biệt là các khu phố cũ, những đường dây vẫn được kéo nổi trên các cột gỗ cao. Chúng đan xen như mạng nhện, kéo dài hết con phố này sang con phố khác. Trên các cột điện đôi khi còn treo những máy biến áp nhỏ hoặc những hộp kỹ thuật đã nhuốm màu thời gian. Hình ảnh ấy gợi cho tôi nhớ đến các khu phố Việt Nam cách đây vài chục năm.

Một nét rất đặc trưng khác của đời sống đô thị Mỹ là việc phân loại rác thải. Trước hầu hết các ngôi nhà đều có nhiều thùng rác với màu sắc khác nhau. Mỗi loại thùng dành cho một nhóm chất thải riêng như rác sinh hoạt, rác tái chế hay rác hữu cơ. Vào ngày thu gom, các xe chuyên dụng lần lượt đến lấy từng loại. Ban đầu tôi khá ngạc nhiên khi thấy có những chiếc xe chỉ thu một loại rác duy nhất, nhưng dần hiểu rằng đó là một phần trong hệ thống quản lý môi trường được tổ chức rất chặt chẽ.

Đi bộ trên các vỉa hè, đôi lúc tôi bắt gặp những người bán kem dạo đẩy xe nhỏ rong ruổi qua các khu dân cư. Hình ảnh ấy khiến tôi nhớ tới những năm tháng tuổi thơ ở Việt Nam, khi những chiếc xe bán kem hay bánh kẹo còn len lỏi trong các con ngõ nhỏ. Giữa một đất nước hiện đại, những hình ảnh giản dị như vậy tạo cảm giác gần gũi và thân thuộc đến lạ.

Tại San Francisco, một trong những thành phố nổi tiếng nhất nước Mỹ, tôi đặc biệt thích thú khi nhìn thấy những đoàn tàu điện cổ chạy leng keng trên các con dốc. Những chiếc xe với thiết kế từ nhiều thập niên trước vẫn được bảo tồn và vận hành như một phần của lịch sử đô thị. Âm thanh leng keng của chúng khiến tôi nhớ tới những chuyến tàu điện Hà Nội từng đi qua các phố Hàng Đào, Bờ Hồ hay Cầu Giấy trước khi biến mất vào đầu thập niên 1990.

Ở New York, giữa khu vực trung tâm sầm uất của Đại lộ Fifth Avenue, nơi tập trung nhiều cửa hàng sang trọng bậc nhất thế giới, tôi lại bắt gặp những chiếc xích lô du lịch chậm rãi lăn bánh giữa dòng người tấp nập. Chúng không hiện đại hay hào nhoáng, nhưng vẫn có sức hấp dẫn riêng đối với du khách muốn trải nghiệm thành phố theo một cách khác biệt.

Hệ thống giao thông tại Mỹ cũng có nhiều điểm khác với Việt Nam. Nhiều nút giao thông vẫn sử dụng các cụm đèn tín hiệu treo lơ lửng giữa đường. Mỗi khi gió mạnh thổi qua, các hộp đèn lại rung nhẹ. Đặc biệt, ở không ít nơi không có đồng hồ đếm ngược cho người tham gia giao thông như chúng ta thường thấy ở Việt Nam hiện nay.

Ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, gần như lúc nào cũng có thể nghe thấy tiếng động cơ máy bay vọng xuống. Những chiếc máy bay cánh quạt nhỏ mà thế hệ chúng tôi từng quen gọi là “bà già” vẫn xuất hiện khá nhiều. Tại các khu dân cư ngoại ô, người ta xây dựng những sân bay nhỏ dành cho máy bay cá nhân. Với nhiều người Mỹ, sở hữu một chiếc máy bay cỡ nhỏ không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn là một thú vui, giống như sở hữu du thuyền hay xe thể thao.

Những điều tôi quan sát được chỉ là những mảnh ghép nhỏ trong bức tranh rộng lớn về nước Mỹ. Chúng không phản ánh toàn bộ đất nước này, nhưng đủ để cho thấy rằng đằng sau hình ảnh hào nhoáng thường xuất hiện trên màn ảnh còn có một nước Mỹ rất đời thường, với những góc phố cũ kỹ, những đoàn tàu cổ, những chiếc xe bán kem và những cột điện bằng gỗ đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Chính những điều bình dị ấy lại khiến cho những chuyến đi trở nên đáng nhớ hơn, bởi chúng giúp ta hiểu rằng mỗi quốc gia, dù giàu có và hiện đại đến đâu, vẫn luôn mang trong mình những nét riêng được hình thành từ lịch sử, văn hóa và cuộc sống thường nhật của người dân.

Tản mạn về xe cộ

Nước Mỹ là một quốc gia rộng lớn với diện tích gần 10 triệu kilômét vuông. Dân cư phân bố không đồng đều, nhiều khu vực có mật độ dân số khá thưa so với các nước châu Á. Chính vì vậy, phương tiện giao thông cá nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống hằng ngày. Nếu ở Việt Nam, chỉ cần vài phút đi bộ là có thể tới cửa hàng tạp hóa hay quán ăn gần nhà, thì ở nhiều nơi trên đất Mỹ, muốn mua một mớ rau, một hộp sữa hay thậm chí chỉ một gói tăm cũng phải lên xe chạy một quãng đường đáng kể. Với điều kiện địa lý như vậy, ô tô gần như trở thành vật dụng thiết yếu của mỗi gia đình, giống như chiếc xe đạp hay xe máy từng gắn bó với nhiều thế hệ người Việt Nam.

Khí hậu ở nhiều bang của Mỹ cũng góp phần khiến ô tô trở thành lựa chọn gần như bắt buộc. Mùa hè có nơi nóng khô, nhiệt độ lên tới hơn 40 độ C, trong khi mùa đông ở các bang phía bắc thường có tuyết phủ dày và nhiệt độ xuống dưới mức đóng băng. Trong những điều kiện ấy, việc sử dụng xe máy hay các phương tiện hai bánh là điều không mấy thuận tiện. Bởi vậy, phần lớn người dân đều học lái xe từ rất sớm. Một thanh niên đến tuổi trưởng thành mà chưa biết lái xe thường gặp không ít khó khăn trong học tập, làm việc cũng như sinh hoạt hằng ngày.

Điều đáng chú ý là việc sở hữu một chiếc ô tô tại Mỹ tương đối dễ dàng. Thị trường xe rất đa dạng, từ những mẫu xe bình dân giá phải chăng cho tới các dòng xe sang trọng đắt tiền. Người có điều kiện kinh tế tốt có thể mua xe mới thuộc các thương hiệu nổi tiếng, trong khi người thu nhập trung bình hoàn toàn có thể lựa chọn xe đã qua sử dụng với giá hợp lý. Ngoài ra, hình thức mua trả góp rất phổ biến. Chỉ cần có công việc ổn định và lịch sử tín dụng tốt, người mua có thể sở hữu xe ngay mà không cần thanh toán toàn bộ số tiền một lần.

Trong thời gian ở thành phố San Jose thuộc bang California, chúng tôi có dịp ghé thăm khu mua sắm Santana Row – một khu phố thương mại hiện đại với nhiều cửa hàng, nhà hàng và khu vui chơi giải trí. Trong lúc dạo bộ ngắm cảnh, chúng tôi tình cờ bước vào một showroom giới thiệu sản phẩm của hãng xe điện Tesla. Thời điểm đó, Tesla vẫn còn là một cái tên khá mới mẻ đối với nhiều người. Qua các tài liệu giới thiệu, chúng tôi được biết công ty này đã mua lại một nhà máy sản xuất ô tô cũ của Toyota nằm gần tuyến xa lộ 880. Toyota từng góp vốn hàng chục triệu đô la Mỹ cho dự án trước khi rút lui, tạo điều kiện để Tesla phát triển thành một thương hiệu xe điện độc lập.

Bên trong showroom, số lượng xe trưng bày không nhiều nhưng lại thu hút khá đông khách tham quan. Có một mẫu sedan, một mẫu xe thể thao và một bộ khung gầm để khách tìm hiểu cấu tạo kỹ thuật. Trong số đó, Tesla Model S là mẫu xe được chú ý nhiều nhất. Hình dáng bên ngoài của nó khá giống những chiếc sedan cao cấp quen thuộc, không quá khác biệt hay mang dáng vẻ của một sản phẩm công nghệ tương lai như nhiều người tưởng tượng. Tuy nhiên, điều làm nên sức hấp dẫn của chiếc xe lại nằm ở hệ thống động cơ điện hoàn toàn mới mẻ và khả năng vận hành thân thiện với môi trường.

Mặc dù được giới chuyên môn đánh giá cao, xe điện khi ấy vẫn chưa thật sự phổ biến trên đường phố. Trong những chuyến đi dọc các tuyến cao tốc quanh vùng Vịnh San Francisco, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng mới bắt gặp một chiếc Tesla chạy ngang qua. Có lẽ nguyên nhân nằm ở việc hệ thống trạm sạc, bảo dưỡng và dịch vụ hỗ trợ còn hạn chế. Bên cạnh đó, giá bán của xe cũng không hề thấp. Theo lời kể của những người quan tâm tới thị trường ô tô, một chiếc Tesla Model S thời kỳ đầu có giá khoảng vài chục nghìn đô la, nhưng chỉ sau vài năm, giá bán đã tăng lên đáng kể. Không những vậy, khách hàng còn phải đặt trước và chờ đợi nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng mới nhận được xe.

Một điểm khác khiến người mới đến Mỹ cảm thấy ngạc nhiên là vai trò quan trọng của các thiết bị dẫn đường. Hệ thống giao thông của Mỹ được quy hoạch khoa học với mạng lưới đường cao tốc, đường liên bang và đường địa phương chằng chịt. Hầu như mọi khu dân cư đều có đường ô tô đi tới. Tuy nhiên, số lượng nút giao, lối ra vào cao tốc và các tuyến đường kết nối phức tạp khiến việc tìm đúng hướng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Chỉ cần bỏ lỡ một lối ra, người lái có thể phải đi thêm hàng chục kilômét mới quay lại được tuyến đường mong muốn.

Những năm trước đây, thiết bị dẫn đường thường là một bộ máy riêng gắn trên bảng điều khiển. Màn hình hiển thị bản đồ cùng vị trí hiện tại của xe, giúp người lái dễ dàng xác định lộ trình. Ngoài hình ảnh trực quan, thiết bị còn phát hướng dẫn bằng giọng nói như: “Sau 300 mét rẽ phải”, hoặc “Đi thẳng rồi nhập vào cao tốc số...”. Ngày nay, công nghệ này đã được tích hợp sẵn trên hầu hết các dòng xe mới. Thậm chí, nhiều người còn sử dụng điện thoại thông minh với các ứng dụng bản đồ trực tuyến có khả năng cập nhật tình trạng giao thông theo thời gian thực.

Nếu xe máy nhỏ gần như vắng bóng trên đường phố Mỹ thì mô tô phân khối lớn lại là một hình ảnh khá quen thuộc. Trên các tuyến cao tốc, người ta thường bắt gặp những đoàn mô tô nối đuôi nhau thành hàng dài, di chuyển với tốc độ cao và tiếng động cơ vang dội. Những người điều khiển mô tô thường mặc trang phục chuyên dụng, đội mũ bảo hiểm đạt tiêu chuẩn và sử dụng nhiều thiết bị hỗ trợ hiện đại như bộ đàm liên lạc hay camera hành trình.

Nghe kể rằng việc thi lấy bằng lái mô tô khó hơn so với bằng lái ô tô thông thường. Người lái phải chứng minh khả năng điều khiển xe trong nhiều tình huống phức tạp, đồng thời nắm vững các quy tắc an toàn đặc thù. Vì vậy, cộng đồng người chơi mô tô tại Mỹ thường được xem là những tay lái có kinh nghiệm và kỹ năng tốt. Khi gặp một đoàn mô tô trên đường, các xe ô tô thường chủ động giữ khoảng cách và nhường đường để tránh những tình huống không mong muốn.

Quan sát kỹ, có thể thấy phần lớn những người điều khiển mô tô là các quý ông có vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh, nhiều người để râu dài và mang phong cách khá bụi bặm. Hình ảnh ấy từ lâu đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của nước Mỹ. Từ những chiếc ô tô gia đình cần mẫn phục vụ đời sống hằng ngày cho tới những đoàn mô tô hùng dũng lao vun vút trên cao tốc, tất cả đều phản ánh một xã hội mà giao thông cá nhân giữ vai trò vô cùng quan trọng. Và với người lần đầu đặt chân tới xứ sở này, những câu chuyện về xe cộ cũng là một cách thú vị để hiểu thêm về cuộc sống và con người nước Mỹ.

Chuyện xăng xe và dịch vụ ô tô

Có lẽ ai cũng biết rằng ở nước Mỹ, chiếc ô tô không chỉ là một phương tiện đi lại mà gần như là một phần không thể thiếu của cuộc sống thường nhật. Nếu ở nhiều quốc gia khác, người dân vẫn có thể dựa vào hệ thống giao thông công cộng để đi làm, đi học hay mua sắm thì ở Mỹ, đặc biệt tại các khu vực ngoại ô, việc không biết lái xe gần như đồng nghĩa với việc bị hạn chế đáng kể khả năng di chuyển. Người ta thường nói vui rằng ở Mỹ, không biết lái xe chẳng khác nào bị “què chân”. Chính vì vậy, mọi hoạt động liên quan đến xe cộ, từ mua xăng, bảo dưỡng đến đăng kiểm, đều được tổ chức rất khoa học và thuận tiện nhằm phục vụ hàng trăm triệu chiếc xe lưu thông mỗi ngày.

Trong những ngày đầu đặt chân đến Mỹ, điều khiến tôi ngạc nhiên nhất không phải là những con đường rộng thênh thang hay những dòng xe nối đuôi nhau bất tận, mà là cách hoạt động của các cây xăng. Ở Việt Nam, mỗi khi ghé vào trạm xăng, chúng ta chỉ việc dừng xe, nói số tiền hoặc số lít cần mua rồi nhân viên sẽ thực hiện tất cả các công đoạn còn lại. Thế nhưng tại Mỹ, ở phần lớn các cây xăng, người lái xe phải tự làm mọi việc từ đầu đến cuối.

Lần đầu tiên chứng kiến cảnh ấy, tôi không khỏi bỡ ngỡ. Một chiếc xe tiến vào vị trí đổ xăng, người lái bước xuống, thao tác thành thạo như một nhân viên bán hàng chuyên nghiệp. Anh ta quẹt thẻ thành viên, sau đó quẹt thẻ tín dụng để thanh toán trước. Hệ thống yêu cầu nhập mã số bảo mật, xác nhận giao dịch rồi mới cho phép chọn loại nhiên liệu. Sau khi lựa chọn loại xăng phù hợp với chiếc xe của mình, người lái tự lấy vòi bơm, cắm vào miệng bình nhiên liệu và bắt đầu nạp xăng.

Khi bình xăng đầy hoặc số tiền thanh toán đã đạt tới mức đã định trước, máy bơm tự động ngắt. Người lái xe lại tự cất vòi bơm vào đúng vị trí, đóng nắp bình xăng, nhận hóa đơn in từ máy rồi lên xe rời đi. Toàn bộ quá trình diễn ra nhanh gọn, trật tự và hầu như không cần sự can thiệp của nhân viên phục vụ.

Tôi đã có dịp quan sát hoạt động tại một cây xăng của hãng Costco – một hệ thống bán lẻ nổi tiếng chuyên cung cấp hàng hóa với giá cả phải chăng cho các thành viên. Tại đây, quy trình còn chặt chẽ hơn. Muốn mua xăng, khách hàng phải xuất trình thẻ thành viên Costco trước khi thực hiện các bước thanh toán. Dòng xe xếp hàng rất dài nhưng di chuyển nhanh bởi mọi người đều quen thuộc với quy trình tự phục vụ.

Nhìn cảnh ấy, tôi chợt nghĩ rằng trong nhiều trường hợp, người dân Việt Nam có lẽ còn “sướng” hơn người Mỹ. Chúng ta được phục vụ tận nơi, từ việc bơm xăng đến việc thanh toán. Trong khi đó, người Mỹ dù có thu nhập cao nhưng lại phải tự làm rất nhiều công việc vốn được coi là dịch vụ ở nước ta.

Giá xăng dầu tại Mỹ cũng có những đặc điểm đáng chú ý. Giá niêm yết trên cột bơm đã bao gồm nhiều loại thuế và phí liên quan đến việc sử dụng hệ thống giao thông công cộng. Một phần nguồn thu này được sử dụng để bảo trì đường sá, cầu cống và các công trình hạ tầng khác.

Ngoài chi phí nhiên liệu, chủ xe còn phải thực hiện nhiều nghĩa vụ tài chính hàng năm. Một trong những khoản quan trọng là phí đăng ký xe và các loại thuế của bang nơi họ sinh sống. Khi mua xe mới, người dân phải nộp thuế bán hàng, thường dao động trên dưới 6% giá trị chiếc xe, tùy theo quy định của từng bang. Sau đó, hàng năm họ tiếp tục đóng phí đăng ký lưu hành và thực hiện đăng kiểm theo quy định.

Trên biển số xe thường có dán các loại tem thể hiện thời hạn đăng ký và đăng kiểm. Chỉ cần nhìn vào những con tem nhỏ này, lực lượng chức năng có thể biết chiếc xe còn đủ điều kiện lưu hành hay không. Đây là một phương thức quản lý đơn giản nhưng rất hiệu quả.

Trong quá trình di chuyển trên đường, hình ảnh xe cảnh sát cũng xuất hiện khá thường xuyên. Đôi khi tôi bắt gặp những chiếc xe cảnh sát đỗ bên lề với hệ thống đèn tín hiệu đỏ xanh liên tục nhấp nháy. Mỗi lần như vậy, người lái xe thường có chút lo lắng, bởi nếu cảnh sát bật còi và ra hiệu dừng xe thì chắc chắn có điều gì đó cần được kiểm tra.

Tuy nhiên, điều làm tôi ấn tượng không phải là quyền lực của cảnh sát mà là tinh thần phục vụ cộng đồng của họ. Có lần tôi thấy một chiếc xe gặp sự cố đang đỗ sát lề đường. Chung quanh xe là vài nhân viên cảnh sát, cả nam lẫn nữ, đang hỗ trợ người gặp nạn. Họ không chỉ bảo đảm an toàn giao thông mà còn chủ động hỏi han, tìm hiểu tình trạng của người lái xe.

Theo những người dân địa phương, khi một chiếc xe bị hỏng và phải dừng trên đường cao tốc hoặc đường công cộng, chỉ trong thời gian ngắn cảnh sát sẽ có mặt. Nếu cần thiết, họ sẽ gọi xe cứu hộ hoặc xe cấp cứu, đồng thời đứng bảo vệ hiện trường cho đến khi vụ việc được giải quyết xong. Điều đó khiến người tham gia giao thông cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều.

Một điều thú vị khác liên quan đến xe cộ ở Mỹ là dịch vụ rửa xe. Ban đầu tôi nghĩ rằng ở một quốc gia phát triển với mức độ tự động hóa cao như Mỹ, các trạm rửa xe tự động hẳn phải rất phổ biến. Thực tế đúng là có nhiều hệ thống rửa xe bằng máy hiện đại, nhưng không phải ai cũng thích sử dụng.

Tại bang California, nơi tôi có dịp quan sát nhiều nhất, không ít chủ xe vẫn lựa chọn dịch vụ rửa xe bằng tay. Họ cho rằng máy rửa xe có thể làm trầy xước lớp sơn hoặc không làm sạch hoàn toàn các chi tiết trên xe. Vì thế, dù giá thành cao hơn từ 15 đến 20 phần trăm so với rửa tự động, dịch vụ rửa xe thủ công vẫn rất được ưa chuộng.

Điều đặc biệt là khá nhiều cơ sở kinh doanh loại hình này do người Việt Nam làm chủ. Các trạm rửa xe thường nằm gần cây xăng hoặc khu thương mại đông đúc. Chủ cơ sở thường thuê lao động gốc Mexico để trực tiếp thực hiện công việc. Có lẽ vì chi phí nhân công tương đối thấp nên số lượng công nhân trong mỗi ca làm việc khá đông.

Quan sát một chiếc xe được đưa vào khu vực vệ sinh, tôi thật sự ngạc nhiên trước tốc độ làm việc của họ. Chỉ trong vài phút, năm sáu người thợ đã chia nhau từng công đoạn. Người dùng vòi nước áp lực cao để rửa sạch bụi bẩn bên ngoài. Người khác nhanh chóng lau khô thân xe. Một nhóm khác mở cửa xe để hút bụi, làm sạch ghế ngồi, bảng điều khiển và các hộc chứa đồ bên trong. Mỗi người phụ trách một phần việc riêng nên quá trình diễn ra rất nhịp nhàng.

Kết quả là chỉ khoảng năm đến bảy phút, ngay cả một chiếc xe gia đình bảy chỗ cũng đã được làm sạch từ trong ra ngoài. Xe sáng bóng như mới, trong khi khách hàng chỉ cần ngồi chờ hoặc tranh thủ uống một ly cà phê gần đó.

Qua những trải nghiệm tưởng như rất bình thường ấy, tôi hiểu thêm về đời sống xã hội ở nước Mỹ. Đó là một đất nước đề cao tính tự phục vụ, tính kỷ luật và trách nhiệm cá nhân. Từ việc đổ xăng cho đến việc tuân thủ luật giao thông, mọi người đều quen với việc tự mình thực hiện các công việc cần thiết. Đồng thời, hệ thống dịch vụ và quản lý công cộng cũng được tổ chức chặt chẽ nhằm hỗ trợ người dân một cách hiệu quả. Những điều đó góp phần tạo nên nhịp sống đặc trưng của nước Mỹ – hiện đại, thực dụng nhưng cũng rất đáng để quan sát và suy ngẫm đối với một người khách phương xa.

Trong thời gian lưu lại tại thành phố Los Angeles, chúng tôi có dịp tham dự một sự kiện khá đặc biệt dành cho những người yêu thích xe hơi. Đó là một cuộc triển lãm nằm trong khuôn khổ T.H.E. Car Show được tổ chức tại Newport Beach, một thành phố ven biển xinh đẹp thuộc quận Cam của bang California. Dù không phải là người quá am hiểu về kỹ thuật ô tô hay đam mê tốc độ đến mức cuồng nhiệt, tôi vẫn cảm thấy vô cùng hào hứng khi được tận mắt chiêm ngưỡng những mẫu xe thể thao danh tiếng mà trước đây chỉ thấy qua sách báo hoặc trên màn hình ti vi.

Không gian triển lãm được bố trí sang trọng và hiện đại. Những chiếc xe bóng loáng dưới ánh đèn, được đặt trên các bục trưng bày với khoảng cách vừa đủ để khách tham quan có thể ngắm nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Mỗi mẫu xe đều có bảng giới thiệu chi tiết về thông số kỹ thuật, công suất động cơ và những thành tựu mà hãng sản xuất đã đạt được. Đây là dịp hiếm hoi để người yêu xe được tiếp cận gần đến vậy với những biểu tượng của ngành công nghiệp ô tô thế giới.

Lần đầu tiên trong đời, tôi được đứng sát bên những cái tên vốn đã trở thành huyền thoại như Porsche Carrera GT, Audi R8, Bentley GT, Ferrari F430, Mercedes-Benz SLS hay Lamborghini Aventador. Mỗi chiếc xe mang một phong cách riêng nhưng đều toát lên vẻ đẹp mạnh mẽ, sang trọng và đầy quyến rũ. Những đường nét khí động học mềm mại, những bộ vành hợp kim sáng bóng cùng tiếng động cơ được trình diễn thử khiến người xem không khỏi trầm trồ thán phục.

Điều thú vị là bên cạnh các thương hiệu châu Âu nổi tiếng, triển lãm còn giới thiệu nhiều mẫu xe thể thao của các hãng Mỹ. Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý đến chiếc GTM Supercar của Factory Five và mẫu Saleen S7. Chúng không mang vẻ hào nhoáng kiểu quý tộc như Ferrari hay Bentley, nhưng lại có nét cá tính rất riêng, đậm chất Mỹ, khỏe khoắn và táo bạo. Đứng trước những chiếc xe ấy, tôi cảm nhận được niềm tự hào của người Mỹ đối với nền công nghiệp chế tạo ô tô của họ.

Đi dạo garage sale

Rời triển lãm xe hơi, những ngày cuối tuần ở California lại mang đến cho chúng tôi một trải nghiệm hoàn toàn khác. Đó là những chuyến dạo chơi khám phá các điểm garage sale, một nét sinh hoạt rất đặc trưng của người dân Mỹ mà bất cứ du khách nào cũng nên thử một lần.

Ở California, vào mỗi dịp cuối tuần, đặc biệt là sáng thứ Bảy và Chủ nhật, nhiều gia đình tổ chức bán những món đồ không còn nhu cầu sử dụng. Trên các tuyến đường dẫn vào khu dân cư thường xuất hiện những tấm biển hoặc những mảnh giấy nhỏ được dán trên cột điện, hàng rào hay góc phố. Trên đó ghi những dòng chữ quen thuộc như “Garage Sale”, “Yard Sale” hoặc “Estate Sale”, kèm theo địa chỉ và mũi tên chỉ đường rất rõ ràng.

Qua tìm hiểu, chúng tôi biết rằng garage sale là hình thức bày bán đồ tại khu nhà để xe; yard sale là bán ở sân trước hoặc sân sau của ngôi nhà; còn estate sale thường được tổ chức khi gia đình cần thanh lý phần lớn tài sản trong nhà. Dù tên gọi khác nhau nhưng tất cả đều phản ánh một lối sống thực tế và tiết kiệm của người Mỹ, nơi các món đồ đã qua sử dụng vẫn được trân trọng và tiếp tục tìm thấy chủ nhân mới.

Ban đầu, chúng tôi chỉ định ghé xem cho biết chứ không hề có ý định mua sắm. Thế nhưng càng đi, càng khám phá, chúng tôi càng cảm thấy thích thú. Mỗi ngôi nhà mở bán đều mang đến những điều bất ngờ riêng. Có nơi bày la liệt các vật dụng gia đình như bát đĩa, xoong nồi, đồ trang trí, tranh ảnh, sách báo và đồ chơi trẻ em. Có nơi lại trưng bày những món đồ cổ, những bộ sưu tập đồng hồ, máy ảnh hay tem thư đã có tuổi đời hàng chục năm.

Tôi đặc biệt thích thú khi nhìn thấy những dàn âm thanh cổ gồm máy quay băng cối, ampli đèn điện tử và những cặp loa gỗ cỡ lớn. Với người yêu công nghệ ngày nay, chúng có thể là những món đồ lỗi thời, nhưng đối với những ai từng sống trong thời kỳ âm thanh analog còn thịnh hành, đó là cả một kho ký ức quý giá. Thỉnh thoảng lại bắt gặp những món hàng còn nguyên hộp, chưa từng sử dụng. Chỉ cần kiên nhẫn tìm kiếm, người mua hoàn toàn có thể gặp vận may và sở hữu một món đồ tốt với giá rất rẻ.

Người đứng bán hàng đôi khi chính là chủ nhà, nhưng cũng có khi là người thân hoặc đơn vị được ủy quyền. Qua những cuộc trò chuyện ngắn, chúng tôi hiểu thêm về lý do tồn tại của các garage sale. Nhiều gia đình chuẩn bị chuyển sang bang khác sinh sống nên muốn bán bớt đồ đạc để giảm chi phí vận chuyển. Một số gia đình có người cao tuổi chuyển vào viện dưỡng lão. Cũng có những trường hợp buồn hơn khi chủ nhân ngôi nhà đã qua đời, con cháu không sử dụng đến các vật dụng cũ nên quyết định bán lại cho những người có nhu cầu.

Có lần chúng tôi đến một địa điểm từ rất sớm, trước giờ mở cửa khoảng nửa tiếng. Vậy mà trước cổng nhà đã có khá đông người đứng chờ. Họ thong thả đi lại, quan sát qua cửa sổ hoặc trò chuyện với nhau. Khi chủ nhà chính thức mở cửa, mọi người lịch sự bước vào. Các căn phòng bên trong vẫn giữ nguyên cách bài trí vốn có, chỉ khác là đồ đạc được gắn thêm những tấm nhãn ghi giá.

Phòng khách và khu bếp thường là nơi tập trung nhiều hàng hóa nhất. Những món đồ lớn như bàn ghế, tủ sách hay máy móc được đặt ngay trong nhà. Những vật dụng nhỏ hơn được mang ra sân sau hoặc khu vườn để thuận tiện cho khách tham quan. Không khí mua bán diễn ra nhẹ nhàng, thân thiện và rất văn minh.

Một điều khiến chúng tôi thích thú là người mua hoàn toàn có quyền mặc cả. Mức giá cuối cùng nhiều khi chỉ bằng hai mươi đến ba mươi phần trăm giá niêm yết ban đầu. Những món đồ nhỏ như đĩa CD cũ, tấm lót ly, huy hiệu, đồng xu hay các vật lưu niệm đôi khi còn được người bán tặng miễn phí. Bởi đối với họ, điều quan trọng không chỉ là bán được hàng mà còn là tìm được người biết trân trọng những món đồ ấy.

Kết thúc mỗi chuyến đi garage sale, hầu như không ai ra về tay không. Chúng tôi cũng gom góp được một vài món đồ nhỏ làm kỷ niệm. Tuy nhiên, điều đáng nhớ nhất không nằm ở giá trị vật chất của những món hàng mua được. Cái quý giá hơn chính là cơ hội được bước vào cuộc sống thường nhật của người dân Mỹ một cách tự nhiên và gần gũi. Chúng tôi có dịp quan sát cách họ sinh hoạt, bài trí nhà cửa, lưu giữ kỷ niệm và ứng xử với cộng đồng xung quanh.

Cà phê ở San Jose

Trong hành trình khám phá miền Tây nước Mỹ, chúng tôi có dịp nhiều lần ghé qua thành phố San Jose thuộc tiểu bang California. Đây là thành phố lớn thứ ba của bang California và là trung tâm hành chính của Quận Santa Clara. Nằm ở phía nam vịnh San Francisco, San Jose được biết đến trên toàn thế giới như trái tim của Thung lũng Silicon – nơi tập trung hàng nghìn doanh nghiệp công nghệ cao, các trung tâm nghiên cứu và những tập đoàn hàng đầu trong lĩnh vực điện tử, tin học.

Từ những năm 1970, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ, San Jose đã chuyển mình từ một đô thị mang đậm dấu ấn nông nghiệp trở thành một trong những thành phố năng động nhất nước Mỹ. Với diện tích gần 500 km² và dân số xấp xỉ một triệu người, nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi nền kinh tế phát triển mà còn bởi sự đa dạng văn hóa. Đặc biệt, San Jose là nơi sinh sống của cộng đồng người Việt đông đảo nhất tại Hoa Kỳ. Nhiều khu phố, trung tâm thương mại và dịch vụ mang đậm bản sắc Việt Nam đã hình thành, tạo nên một không gian quen thuộc đối với những người Việt xa quê.

Mỗi lần đến San Jose, chúng tôi thường dành thời gian dạo quanh các khu thương mại của người Việt. Những tấm biển hiệu bằng tiếng Việt, những quán phở, tiệm bánh mì hay cửa hàng bán đủ loại hàng hóa từ quê nhà khiến người ta có cảm giác như đang bước đi trên một con phố nào đó ở Việt Nam. Năm 2011, khu thương mại mang tên “Little Saigon” chính thức được công nhận, đánh dấu vị thế đặc biệt của cộng đồng người Việt trong đời sống kinh tế và văn hóa của thành phố.

Trong những ngày lưu lại đây, chúng tôi có dịp gặp gỡ bạn bè, dùng bữa tại các nhà hàng Việt Nam và thỉnh thoảng ghé xem những khu dân cư đang rao bán nhà. Giá bất động sản ở California vốn nổi tiếng đắt đỏ, nhưng vào thời điểm đó, sau những biến động của thị trường nhà đất, không ít căn nhà được chào bán với mức giá thấp hơn nhiều so với trước. Đối với những người yêu thích tìm hiểu cuộc sống địa phương, việc ngắm nhìn những khu phố yên tĩnh, những ngôi nhà có khu vườn xanh mát cũng là một trải nghiệm thú vị.

Tuy nhiên, điều để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất lại không phải là những trung tâm mua sắm hay các khu dân cư hiện đại, mà là một quán cà phê mang cái tên rất Việt Nam: “Chợt Nhớ”. Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, đây là một quán đồ uống khá bình thường như hàng trăm quán khác trong thành phố. Bảng hiệu không quá nổi bật, không gian cũng không có gì đặc biệt. Thế nhưng, bên trong lại tồn tại một hình thức phục vụ khiến nhiều người lần đầu đến đây không khỏi ngạc nhiên. Các nữ tiếp viên của quán làm việc trong một phong cách phục vụ hết sức khác thường so với những gì chúng tôi từng biết. Chính sự khác biệt ấy đã khiến quán trở thành đề tài được nhắc đến trong nhiều câu chuyện của cộng đồng địa phương. Các nữ tiếp viên trong quán mang mặc thống nhất một loại trang phục: không mặc gì, kể cả đồ lót. Ngang ngực và hông chỉ quấn dải băng vài màu đen mỏng manh với chiều rộng chỉ khoảng 5 phân. Trong lúc khách ngồi trò chuyện, họ liên tục đi lại, rót nước và phục vụ đồ uống như tại bất kỳ quán cà phê nào khác. Khung cảnh ấy phản ánh một phần sự đa dạng trong văn hóa giải trí và kinh doanh tại nước Mỹ, nơi mà nhiều mô hình dịch vụ có thể tồn tại nếu phù hợp với quy định pháp luật địa phương.

Nghe những người quen sống lâu năm tại San Jose kể lại, loại hình quán cà phê này từng gây ra không ít tranh luận. Có người cho rằng đó chỉ là một hình thức kinh doanh đặc biệt nhằm thu hút khách hàng; người khác lại nhìn nhận đây là một biểu hiện của sự cởi mở trong xã hội phương Tây. Dù đồng tình hay không, khó có thể phủ nhận rằng nó đã trở thành một trải nghiệm đáng nhớ đối với những du khách lần đầu bắt gặp.

Rời quán cà phê ấy, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình qua những con đường rộng lớn của San Jose. Thành phố vẫn hiện lên với hình ảnh của một trung tâm công nghệ hiện đại, nơi hội tụ những giấc mơ khởi nghiệp và những thành tựu khoa học tiên tiến. Nhưng xen giữa những tòa nhà văn phòng và các khu công nghệ cao vẫn là những góc nhỏ mang đậm dấu ấn văn hóa, những câu chuyện đời thường và những trải nghiệm bất ngờ, góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng của thành phố được mệnh danh là thủ đô của Thung lũng Silicon.

Thẩm rượu ở Napa Valley

Rượu vang California từ lâu đã nổi tiếng trên toàn thế giới và được xem là một trong những niềm tự hào của ngành nông nghiệp Hoa Kỳ. Phần lớn những chai vang hảo hạng của bang California được sản xuất tại hai vùng trồng nho nổi tiếng là Napa Valley và Sonoma Valley. Hai khu vực này nằm khá gần nhau, chỉ cách thành phố San Francisco khoảng hơn một giờ lái xe, vì vậy hầu hết du khách đều kết hợp tham quan cả hai khi có dịp đến miền Bắc California.

Chuyến đi đến Napa Valley không chỉ là dịp để thưởng thức rượu vang mà còn là cơ hội để tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Con đường từ San Francisco đến Napa đưa du khách đi qua những ngọn đồi xanh, những cánh rừng thấp thoáng trong sương sớm và đặc biệt là những vườn nho trải dài bất tận. Vào mùa hè, các giàn nho phủ một màu xanh mướt mắt; đến mùa thu hoạch, những chùm nho chín mọng tạo nên một khung cảnh vừa thanh bình vừa trù phú.

Napa Valley hiện có hơn 300 cơ sở sản xuất rượu vang lớn nhỏ và mỗi năm đón trên 5 triệu lượt khách tham quan. Hầu hết các nhà máy rượu đều mở cửa cho du khách vào tham quan quy trình sản xuất. Từ những khu vực ép nho, lên men, ủ rượu trong các thùng gỗ sồi cho đến những hầm chứa rượu lâu năm đều được giới thiệu khá chi tiết. Sau phần tham quan, khách thường được mời nếm thử một số loại vang đặc trưng của cơ sở sản xuất. Đây là hoạt động được nhiều người yêu thích nhất trong hành trình khám phá Napa.

Trong số những địa điểm tôi ghé thăm có cơ sở sản xuất rượu nổi tiếng Robert Mondavi. Những vườn nho rộng lớn, được chăm sóc cẩn thận, trải dài dưới ánh nắng California tạo nên một khung cảnh rất đẹp. Nơi đây được xem là một trong những thương hiệu góp phần đưa rượu vang Napa ra thị trường quốc tế.

Một điểm đến khác gây ấn tượng mạnh là Castello di Amorosa. Đây là một lâu đài được xây dựng theo phong cách Ý thời trung cổ, với những bức tường đá, tháp canh và hầm rượu nằm sâu dưới lòng đất. Bước vào bên trong, du khách có cảm giác như đang lạc vào một góc nhỏ của châu Âu. Quầy giới thiệu rượu được bài trí sang trọng, còn các nhân viên hướng dẫn rất nhiệt tình và am hiểu về từng loại vang.

Tôi cũng ghé thăm Castle Winery, nơi vừa là cơ sở sản xuất rượu vừa là địa điểm tổ chức các buổi tiệc cưới, dã ngoại và gặp gỡ cuối tuần. Không gian yên tĩnh giữa những vườn nho khiến nơi đây trở thành điểm nghỉ chân lý tưởng cho du khách.

Dĩ nhiên, đến Napa mà không thử nếm rượu thì coi như chưa trọn vẹn chuyến đi. Sau khi tham quan, chúng tôi cũng ngồi lại thưởng thức vài ly vang cùng những du khách Mỹ đến từ nhiều nơi khác nhau. Mọi người trò chuyện vui vẻ, chia sẻ cảm nhận về từng loại rượu. Kết thúc chuyến đi, cả nhóm chỉ mang về những kỷ niệm đẹp và vài tấm ảnh lưu niệm, còn chẳng ai mua chai rượu nào. Nhưng có lẽ điều đáng nhớ nhất không nằm ở những chai vang đắt tiền, mà chính là khung cảnh thanh bình, không khí thân thiện và trải nghiệm thú vị tại thung lũng rượu vang nổi tiếng bậc nhất nước Mỹ.

Thành phố San Francisco, tiểu bang California

San Francisco là một trong những thành phố nổi tiếng và hấp dẫn nhất của nước Mỹ. Nằm ở cực bắc bán đảo San Francisco, bên bờ Thái Bình Dương và vịnh San Francisco rộng lớn, thành phố được biết đến với khí hậu ôn hòa quanh năm, những lớp sương mù bảng lảng, những ngọn đồi dốc nối tiếp nhau cùng nhiều công trình kiến trúc đặc sắc. Không chỉ là một trung tâm kinh tế và văn hóa quan trọng của bang California, San Francisco còn được xem là một trong những biểu tượng của miền Tây nước Mỹ.

Khác với nhiều thành phố lớn khác của Hoa Kỳ có khí hậu nóng vào mùa hè, San Francisco nổi tiếng với những ngày hè mát mẻ. Nhiệt độ thường dao động ở mức dễ chịu nhờ ảnh hưởng của dòng hải lưu lạnh ngoài khơi Thái Bình Dương. Những làn sương mù từ biển thường xuyên tràn vào thành phố, đặc biệt vào buổi sáng và chiều tối, tạo nên một khung cảnh vừa huyền ảo vừa lãng mạn. Chính điều kiện tự nhiên này đã góp phần tạo nên nét riêng biệt mà không nơi nào ở nước Mỹ có được.

Lịch sử hiện đại của San Francisco bắt đầu từ năm 1776 khi người Tây Ban Nha xây dựng một pháo đài quân sự và một khu truyền giáo tại đây. Tuy nhiên, phải đến năm 1849, khi cơn sốt vàng California bùng nổ, thành phố mới thực sự phát triển mạnh mẽ. Hàng chục nghìn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về California với hy vọng đổi đời từ những mỏ vàng. San Francisco trở thành cửa ngõ đón nhận làn sóng di cư khổng lồ ấy, nhanh chóng chuyển mình từ một khu định cư nhỏ thành một đô thị sầm uất.

Trong quá trình phát triển, thành phố từng phải đối mặt với một trong những thảm họa lớn nhất lịch sử nước Mỹ. Vào ngày 18 tháng 4 năm 1906, trận động đất mạnh xảy ra đã tàn phá phần lớn San Francisco. Sau động đất, những đám cháy kéo dài nhiều ngày tiếp tục thiêu rụi hàng nghìn công trình. Khoảng 80% thành phố bị phá hủy. Tuy nhiên, với ý chí và quyết tâm của người dân, San Francisco đã được tái thiết nhanh chóng, trở thành một đô thị hiện đại nhưng vẫn lưu giữ được nhiều dấu ấn lịch sử quý giá.

Trải qua hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển, San Francisco sở hữu một kho tàng kiến trúc phong phú. Những dãy nhà cổ theo phong cách Victoria với mặt tiền trang trí tinh xảo vẫn được bảo tồn tại nhiều khu phố. Xen giữa các công trình cổ là những tòa nhà hiện đại, tạo nên sự hài hòa giữa quá khứ và hiện tại. Nhiều ngôi nhà mang dấu ấn kiến trúc Tây Ban Nha, Anh và châu Âu lục địa, phản ánh lịch sử giao lưu văn hóa lâu đời của thành phố.

Một trong những nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất của San Francisco là địa hình đồi dốc. Thành phố được xây dựng trên hơn bốn mươi ngọn đồi lớn nhỏ, khiến nhiều con đường có độ dốc đáng kinh ngạc. Chính những con dốc ấy đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho thành phố, đồng thời mang đến cho du khách những góc nhìn ngoạn mục ra vịnh biển và các khu dân cư xung quanh.

Nổi tiếng nhất trong số đó là phố Lombard, thường được gọi là “con đường quanh co nhất thế giới”. Đoạn đường chỉ dài khoảng 400 mét nhưng có độ dốc lớn, buộc các kỹ sư phải thiết kế thành nhiều khúc cua gấp liên tiếp theo hình chữ chi. Hai bên đường được phủ đầy hoa và cây cảnh đủ màu sắc, nở rực rỡ quanh năm. Các phương tiện chỉ được phép di chuyển với tốc độ rất thấp để đảm bảo an toàn và để du khách có thời gian thưởng thức cảnh quan độc đáo. Lombard từ lâu đã trở thành một biểu tượng du lịch của San Francisco.

Do nằm bên bờ vịnh rộng lớn, San Francisco sở hữu hệ thống cầu nổi tiếng thế giới. Những cây cầu không chỉ phục vụ giao thông mà còn là các công trình kỹ thuật mang giá trị kiến trúc đặc biệt. Cầu San Francisco – Oakland Bay Bridge nối trung tâm thành phố với khu vực East Bay có chiều dài hơn 12 km. Cầu San Mateo – Hayward kéo dài gần 20 km, là một trong những cây cầu dài nhất bắc qua vịnh.

Tuy nhiên, công trình nổi tiếng nhất vẫn là cầu Cổng Vàng (Golden Gate Bridge). Được xây dựng từ năm 1933 và hoàn thành vào năm 1937, cây cầu treo này từng giữ kỷ lục là cầu treo dài nhất thế giới. Nhịp chính dài khoảng 1.280 mét, bắc qua eo biển Golden Gate, nơi nối vịnh San Francisco với Thái Bình Dương. Màu đỏ cam đặc trưng của cây cầu được lựa chọn nhằm giúp các phương tiện dễ nhận biết trong điều kiện sương mù dày đặc. Trải qua gần một thế kỷ, Golden Gate vẫn là biểu tượng được nhắc đến đầu tiên khi nói về San Francisco. Đứng trên cầu, du khách có thể cảm nhận rõ làn gió lạnh từ đại dương, ngắm nhìn mặt nước xanh thẳm và đường chân trời của thành phố.

Bên cạnh những cây cầu nổi tiếng, San Francisco còn là một thành phố cảng quan trọng của bờ Tây Hoa Kỳ. Dọc theo đại lộ ven biển The Embarcadero là hệ thống bến cảng từng đóng vai trò trung tâm giao thương của vùng California. Ngày nay, nhiều bến cảng cũ đã được cải tạo thành khu tham quan, mua sắm và giải trí. Những chiếc du thuyền hiện đại đưa khách tham quan dạo quanh vịnh, ngắm cảnh thành phố từ mặt nước và ghé thăm các hòn đảo lịch sử.

Trong số đó, đảo Alcatraz là điểm đến nổi tiếng nhất. Hòn đảo từng là nơi đặt một trong những nhà tù liên bang khét tiếng của nước Mỹ. Những tên tội phạm nguy hiểm nhất từng bị giam giữ tại đây. Sau khi nhà tù đóng cửa, Alcatraz trở thành một địa điểm tham quan hấp dẫn, thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm đến tìm hiểu lịch sử và chiêm ngưỡng khung cảnh vịnh San Francisco từ trên đảo.

San Francisco hiện là một trong những thành phố đông dân và đa dạng văn hóa nhất nước Mỹ. Người dân nơi đây có nguồn gốc từ nhiều quốc gia và châu lục khác nhau. Các cộng đồng người châu Á, châu Âu, Mỹ Latinh cùng sinh sống và đóng góp vào sự phát triển của thành phố. Sự đa dạng ấy đã tạo nên một môi trường cởi mở, năng động và giàu tính sáng tạo. Nhiều phong trào văn hóa, nghệ thuật và các tư tưởng tiến bộ của nước Mỹ đã được khởi nguồn hoặc phát triển mạnh tại San Francisco.

Ngày nay, với vẻ đẹp thiên nhiên, bề dày lịch sử, những công trình kiến trúc đặc sắc cùng đời sống văn hóa phong phú, San Francisco luôn nằm trong danh sách những điểm đến hấp dẫn nhất thế giới. Thành phố không chỉ là niềm tự hào của bang California mà còn là một biểu tượng đặc biệt của nước Mỹ hiện đại.

Con đường ven biển đẹp nhất bờ Tây

Thấy mấy ông khách Việt quanh quẩn trong nhà đã vài ngày liền, người trong gia đình sốt ruột đến mức phải gợi ý: “Sao không xuống Santa Cruz hay Monterey chơi đi!”. Thế là một buổi sáng trời âm u đặc trưng của miền duyên hải California, chúng tôi lại lên đường.

Xe chạy ra xa lộ rồi nhập vào tuyến đường ven biển nổi tiếng. Hai bên đường, những triền đồi xanh nhạt thấp thoáng trong màn sương mỏng. Chỉ hơn một tiếng rưỡi sau, chúng tôi đã đến điểm khởi đầu của chuyến tham quan được nhiều du khách yêu thích: con đường mang tên “17-Mile Drive”, thường được người Việt gọi một cách lãng mạn là “17 dặm đường tình”.

Nghe tên gọi có vẻ thơ mộng, nhưng thực ra đây chỉ là một tuyến đường dài khoảng 17 dặm, tương đương hơn 27 km, chạy vòng quanh bán đảo Monterey thuộc bang California. Điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của nó không phải chiều dài, mà là cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp cùng những công trình sang trọng nằm dọc hai bên đường.

Toàn bộ khu vực thuộc quyền quản lý của Công ty Pebble Beach. Đây không chỉ là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng mà còn là nơi cư trú của nhiều người giàu có và nổi tiếng. Trong số các chủ nhân biệt thự từng sinh sống tại đây có những tên tuổi lớn của điện ảnh Mỹ như Elizabeth Taylor, Dean Martin, Jerry Lewis, Karl Malden hay Marlon Brando. Bên trong khu vực còn có những sân golf đẳng cấp thế giới và những bãi biển riêng dành cho cư dân.

Du khách muốn vào tham quan phải trả phí sử dụng đường. Mức phí không quá cao so với giá cả ở California, nhưng đủ để góp phần duy trì cảnh quan và các dịch vụ công cộng. Mỗi năm có khoảng tám triệu lượt xe vào khu vực này, cho thấy sức hút rất lớn của tuyến đường ven biển nổi tiếng bậc nhất nước Mỹ.

Con đường bắt đầu bằng những đoạn xuyên qua rừng thông và rừng tùng. Trong làn sương sớm bảng lảng, cây cối hiện lên mờ ảo như trong tranh thủy mặc. Càng đi sâu, cảnh biển càng hiện rõ. Những con sóng từ Thái Bình Dương liên tục xô vào bờ đá tạo nên những dải bọt trắng kéo dài bất tận.

Để tránh du khách đi lạc vào khu vực riêng của cư dân, toàn tuyến được đánh dấu bằng những vạch chỉ dẫn màu đỏ rất dễ nhận biết. Trên đường có 21 điểm dừng chân công cộng được bố trí hợp lý để du khách ngắm cảnh, nghỉ ngơi và chụp ảnh.

Một trong những địa điểm nổi tiếng nhất là Spanish Bay – Vịnh Tây Ban Nha. Nơi đây có bãi cát trắng trải dài, mặt biển xanh thẫm và không khí trong lành. Xa hơn là Point Joe, một mỏm đá nhô ra biển, nơi từ nhiều thế kỷ trước các thủy thủ từng nhầm tưởng là cửa chính dẫn vào vịnh Monterey. Chính sự nhầm lẫn ấy đã khiến không ít con tàu bị mắc cạn trên những ghềnh đá nguy hiểm.

Tuy nhiên, biểu tượng nổi tiếng nhất của toàn tuyến đường lại là cây tùng cô độc mang tên The Lone Cypress. Cây mọc trên một mỏm đá cheo leo giữa biển, đã tồn tại hơn 250 năm mặc cho gió biển và sóng lớn bào mòn. Hình ảnh cây tùng đơn độc nhưng kiên cường ấy đã trở thành biểu tượng của Pebble Beach và xuất hiện trong vô số bức ảnh, tranh vẽ cũng như các ấn phẩm du lịch.

Dọc tuyến đường, phía trong bờ biển là những khu biệt thự trị giá hàng triệu đô la với tầm nhìn hướng ra đại dương. Khúc cuối của hành trình đưa du khách đi qua một khu rừng cổ thụ tồn tại từ rất lâu đời. Giữa những hàng cây xanh tốt vẫn có nhiều thân cây đã chết khô từ hàng chục năm trước. Người ta gọi chúng là những “cây ma”. Thay vì chặt bỏ, các thân cây này được giữ nguyên như một phần của hệ sinh thái và lịch sử tự nhiên nơi đây.

Rời khỏi 17-Mile Drive khi trời bắt đầu hửng nắng, chúng tôi vẫn còn lưu luyến. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người coi đây là con đường ven biển đẹp nhất bờ Tây nước Mỹ. Sự kết hợp hài hòa giữa đại dương, rừng cây, ghềnh đá và những công trình kiến trúc sang trọng đã tạo nên một cảnh quan hiếm có. Một chuyến đi ngắn ngủi nhưng để lại những ấn tượng khó quên về vẻ đẹp của thiên nhiên California.

Gặp gỡ ở quận Cam

Sang Mỹ được chừng hai tuần, sau những ngày đầu làm quen với múi giờ mới, đường phố mới và nhịp sống hoàn toàn khác biệt, chúng tôi bắt đầu một chuyến đi dài ngày về phía Nam California. Chiếc Lexus 470 chở bốn người lăn bánh từ sáng sớm. Từ vùng Vịnh San Francisco, xe men theo cao tốc 101 rồi chuyển sang Interstate 5 tại Gilroy để hướng về Los Angeles và quận Cam. Trời trong xanh, nắng vàng nhẹ, hai bên đường là những cánh đồng rộng lớn kéo dài đến tận chân trời. Đường sá ở Mỹ quả thật rất thuận lợi cho những chuyến đi xa. Mặt đường phẳng lì, xe cộ chạy đều đặn với tốc độ cao nhưng rất trật tự, khiến người ngồi trên xe có cảm giác như đang trôi đi trên một dòng sông nhựa khổng lồ.

Xe đang bon bon trên freeway thì bỗng nhiên tôi thấy mót đi vệ sinh. Ở Việt Nam, chuyện dừng xe bên lề đường tìm một chỗ khuất để giải quyết nhu cầu cá nhân là điều không quá hiếm gặp, nhưng các bạn đồng hành lập tức phản đối. Họ bảo rằng ở Mỹ chuyện ấy tuyệt đối không nên làm, bởi nếu bị cảnh sát phát hiện có thể bị phạt rất nặng. Một người kể rằng có một ông người Hoa chỉ vì mở cửa kính ô tô và nhổ nước bọt ra ngoài mà đã bị phạt tới một nghìn đô la. Nghe vậy tôi cũng thấy ngán ngẩm, nhưng nhu cầu cấp bách thì đâu dễ gì trì hoãn.

Cuối cùng chiếc xe phải rẽ vào một cây xăng ven đường. Một người bạn bước nhanh vào văn phòng xin phép đi nhờ nhà vệ sinh. Chờ mãi không thấy, lát sau anh quay ra với vẻ mặt khó chịu, bảo rằng họ từ chối vì khu vực này không phục vụ khách vãng lai. Thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Trong lúc anh bạn còn đang trao đổi với nhân viên cây xăng, tôi đã tranh thủ quan sát xung quanh và phát hiện phía sau một bồn chứa nhiên liệu đặt nghiêng có một góc khá kín đáo. Tôi dặn bạn đứng ngoài canh chừng rồi nhanh chóng chạy tới giải quyết. Chỉ vài phút sau đã quay trở lại xe, lòng thấp thỏm lo cảnh sát xuất hiện bất ngờ. May mắn là mọi chuyện diễn ra êm thấm và chiếc Lexus lại tiếp tục lao đi trên xa lộ.

Buổi chiều, khi tiến gần Los Angeles, xe bắt đầu leo qua đèo Tejon. Con đèo dài hơn sáu mươi cây số với những đoạn dốc thoai thoải nối tiếp nhau. Càng lên cao, không khí càng khô và lạnh hơn. Quãng đường kéo dài khiến tai tôi ù đặc vì thay đổi độ cao liên tục. Hai bên là những dãy núi trập trùng mang màu vàng nâu đặc trưng của miền Nam California. Thi thoảng mới bắt gặp vài cụm cây xanh hay những đàn bò gặm cỏ trên sườn đồi. Cảnh vật vừa hùng vĩ vừa hoang sơ, rất khác với những cung đèo ở Việt Nam.

Đến chiều muộn, chúng tôi có mặt tại khu Westminster, ngay trung tâm quận Cam. Khách sạn được chọn nằm ở vị trí khá thuận lợi, gần những khu thương mại nổi tiếng của cộng đồng người Việt. Nơi đây thường được gọi bằng cái tên thân thuộc là Little Saigon, trải rộng trên địa bàn hai thành phố Westminster và Garden Grove. Trong nhiều thập niên qua, đây đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, kinh tế và xã hội của người Việt tại Hoa Kỳ. Đi trên đường phố, nhìn các biển hiệu bằng tiếng Việt, các tiệm phở, tiệm vàng, văn phòng luật sư hay phòng mạch mang những cái tên rất quen thuộc, tôi có cảm giác như mình đang ở một khu phố nào đó của Sài Gòn hơn là trên đất Mỹ.

Buổi tối hôm ấy, chúng tôi lái xe xuống khu vực Long Beach để thăm một người bạn là họa sĩ đang sinh sống tại đây. Cuộc gặp gỡ diễn ra ngắn ngủi nhưng rất vui vẻ. Những câu chuyện về quê hương, về đời sống của người Việt nơi đất khách khiến thời gian trôi đi nhanh chóng. Sau đó cả nhóm trở về khách sạn nghỉ ngơi sớm vì ai cũng đã thấm mệt sau một ngày dài ngồi xe.

Sáng hôm sau, một người bạn đề nghị tới tham quan triển lãm âm thanh nổi tiếng mang tên T.H.E Show Newport Beach 2013. Đây là triển lãm thường niên dành cho những người yêu thích thiết bị âm thanh cao cấp. Triển lãm chỉ diễn ra trong ba ngày và hôm chúng tôi đến cũng là ngày cuối cùng. Địa điểm tổ chức nằm trong khách sạn Hilton Newport Beach với hơn một trăm bốn mươi phòng trưng bày riêng biệt.

Bước vào bên trong, chúng tôi như lạc vào một thế giới khác. Mỗi căn phòng là một hệ thống âm thanh hoàn chỉnh với khả năng cách âm rất tốt. Các hãng sản xuất lớn từ khắp nơi trên thế giới mang tới những sản phẩm mới nhất và đắt giá nhất của mình. Điều khiến tôi ngạc nhiên là sự trở lại mạnh mẽ của các thiết bị cổ điển như ampli đèn, máy quay băng cối hay đầu đĩa than. Những thiết bị tưởng như đã thuộc về quá khứ nay lại được giới chơi âm thanh săn đón. Giá của nhiều bộ dàn lên tới hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn đô la.

Do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ ghé qua những thương hiệu quen thuộc như TEAC, Pioneer, Marantz rồi dừng lại khá lâu tại gian hàng của McIntosh. Bộ dàn với những đồng hồ công suất phát sáng màu xanh đặc trưng trông thật nổi bật. Khi nghe thấy chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Việt, người quản lý gian hàng mỉm cười rồi bất ngờ mở một bản nhạc Việt Nam. Giai điệu quen thuộc vang lên giữa không gian triển lãm khiến cả nhóm sững người xúc động. Trong khoảnh khắc ấy, cảm giác xa quê dường như tan biến. Chúng tôi chỉ biết liên tục nói: “Thank you! Thank you!” để bày tỏ sự cảm kích.

Rời triển lãm, chúng tôi quay về đại lộ Bolsa, được xem là trái tim của cộng đồng người Việt tại quận Cam. Điểm dừng chân đầu tiên là quán Coffee Factory. Quán khá đông khách nên chúng tôi phải chờ một lúc mới tìm được chỗ ngồi ngoài hiên. Nhìn quanh, gần như tất cả đều là người Việt. Phần đông là những người thuộc thế hệ lớn tuổi, có lẽ đã định cư ở Mỹ từ nhiều năm trước. Những ánh mắt tò mò đôi khi hướng về phía chúng tôi, có lẽ vì giọng nói Bắc kỳ nguyên chất vẫn còn rất rõ.

Thời gian còn lại trong ngày, chúng tôi thong thả đi bộ qua các cửa hàng trên đại lộ Bolsa. Chúng tôi ghé vào một hiệu sách Việt Nam, một cửa hàng băng đĩa của Thúy Nga Paris và nhiều cơ sở kinh doanh khác. Điểm dừng chân lâu nhất vẫn là Trung tâm thương mại Phúc Lộc Thọ, biểu tượng nổi tiếng của Little Saigon. Bên trong là hàng trăm cửa hiệu với đủ loại mặt hàng, từ quần áo, vàng bạc, thuốc bắc cho đến đồ lưu niệm. Không khí nhộn nhịp nơi đây khiến tôi có cảm giác như đang dạo chơi trong một khu chợ lớn ở quê nhà.

Bữa trưa, cả nhóm thưởng thức bánh mì tại Lee’s Sandwiches, một thương hiệu quen thuộc của người Việt ở Mỹ. Sau đó chúng tôi trở về khách sạn nghỉ ngơi để chuẩn bị cho hành trình đi Las Vegas vào sáng hôm sau. Tối đến, chúng tôi nhận lời mời dùng bữa tại gia đình một người Việt ở Garden Grove. Chủ nhà là người gốc Bắc nên câu chuyện diễn ra vô cùng cởi mở. Từ những kỷ niệm thời bao cấp, những đổi thay của Hà Nội cho tới cuộc sống nơi đất khách quê người, mọi đề tài đều được chia sẻ chân thành. Bữa cơm gia đình giản dị nhưng đầm ấm ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng đẹp về tình đồng hương trên đất Mỹ, khép lại một ngày đáng nhớ ở quận Cam.

Thành phố Las Vegas

Từ quận Cam thuộc miền Nam California đến Las Vegas là quãng đường hơn 400 km. Đối với nhiều người Việt sống ở California, đây là một hành trình quen thuộc vào những dịp cuối tuần hoặc nghỉ lễ. Tuy nhiên, với tôi, chuyến đi này vẫn mang lại nhiều cảm xúc mới mẻ bởi Las Vegas từ lâu đã là một cái tên gợi lên sự tò mò và háo hức.

Xe rời khu dân cư đông đúc của quận Cam từ sáng sớm. Càng đi sâu vào nội địa, cảnh vật hai bên đường càng trở nên khô cằn. Những dãy núi thấp hiện ra phía xa, màu đất đá ngả vàng dưới ánh mặt trời chói chang. Đôi khi chỉ thấy vài bụi cây dại cố bám rễ trên nền đất khô nứt. Nevada vốn nổi tiếng là tiểu bang sa mạc, nơi lượng mưa rất ít và khí hậu khắc nghiệt. Trong cái nóng rung rinh như có hơi nước bốc lên từ mặt đường, tôi chợt nghĩ thật khó tưởng tượng rằng giữa vùng đất cằn cỗi này lại mọc lên một thành phố nổi tiếng bậc nhất thế giới.

Đến Las Vegas vào đầu giờ chiều, chúng tôi nhận phòng tại khách sạn Best Western, một dạng nhà nghỉ cao cấp khá tiện nghi. Sau khi nghỉ ngơi ít phút, cả nhóm lên đường đến thăm một người bạn đang sinh sống ở vùng ngoại ô thành phố.

Gia đình người bạn ở trong một khu dân cư mới xây dựng. Những con đường rộng rãi, sạch sẽ chạy giữa các dãy nhà thấp tầng được quy hoạch đồng bộ. Không gian yên tĩnh đến mức khó ai có thể liên tưởng nơi đây chỉ cách khu trung tâm giải trí náo nhiệt vài chục phút lái xe. Ngôi nhà của bạn được trang hoàng đơn giản nhưng gọn gàng, ấm cúng. Hai vợ chồng sống ở đây đã nhiều năm và xem Las Vegas như quê hương thứ hai.

Ngồi chuyện trò chưa được bao lâu thì bà chủ nhà mời mọi người ra bàn ăn. Điều làm tôi ngạc nhiên là món ăn đãi khách quê nhà lại chính là phở. Giữa sa mạc Nevada xa xôi, được thưởng thức một bát phở nóng hổi mang hương vị Việt Nam thật là một cảm giác đặc biệt. Những lát thịt bò mềm, nước dùng thơm và chút rau thơm quen thuộc khiến khoảng cách địa lý dường như biến mất. Mỗi người một bát lớn, ăn xong ai cũng thấy no căng bụng, chỉ muốn ngồi nghỉ thêm một lúc để tiếp tục câu chuyện.

Khi mặt trời bắt đầu lặn sau những ngọn đồi phía xa, chúng tôi từ biệt gia chủ để quay về trung tâm thành phố. Cuộc khám phá Las Vegas thực sự chỉ bắt đầu khi màn đêm buông xuống.

Trong suy nghĩ của tôi trước chuyến đi, Las Vegas đơn giản là thành phố cờ bạc nổi tiếng nhất nước Mỹ. Nhưng khi tận mắt chứng kiến, tôi nhận ra nơi đây còn là thành phố của ánh sáng, của những giấc mơ được tạo dựng bằng trí tưởng tượng và tiền bạc. Nếu ban ngày Las Vegas có phần lặng lẽ dưới cái nóng gay gắt của sa mạc thì đêm xuống lại là lúc thành phố bừng tỉnh.

Chúng tôi có hẹn gặp thêm một nhóm bạn nữa. Điểm hẹn được chọn không phải nhà hàng hay quán cà phê mà là một casino – điều rất bình thường ở Las Vegas. Xe được gửi dưới tầng hầm khách sạn Bellagio, sau đó cả nhóm đi bộ dọc đại lộ Nam Las Vegas, hay còn gọi là Las Vegas Strip, con đường nổi tiếng nhất của thành phố.

Ánh đèn từ hàng nghìn bảng quảng cáo, màn hình điện tử và các tòa nhà cao tầng hòa vào nhau tạo thành một biển sáng rực rỡ. Dòng người từ khắp nơi trên thế giới đổ về đây đông như trẩy hội. Có những gia đình đi nghỉ dưỡng, những đôi tình nhân mới cưới, những nhóm bạn trẻ thích vui chơi và cả những người tìm vận may tại các sòng bạc.

Dọc hai bên đại lộ là những khách sạn khổng lồ với kiến trúc mô phỏng các kỳ quan nổi tiếng trên thế giới. Đi bộ ở Las Vegas giống như thực hiện một chuyến du lịch vòng quanh địa cầu thu nhỏ. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, người ta có thể nhìn thấy hình ảnh của Paris, New York, Ai Cập hay Italia hiện diện trên cùng một con đường.

Điều thú vị là phần lớn tầng trệt của các khách sạn đều dành cho casino. Các khu vực này gần như nối thông với nhau, du khách có thể tự do đi lại, tham quan và chụp ảnh. Tiếng máy đánh bạc reo vang liên tục, xen lẫn tiếng nói cười và những bản nhạc sôi động tạo nên một bầu không khí đặc trưng mà khó nơi nào có được.

Trong lúc dạo bước, tôi nhớ lại đôi nét về lịch sử thành phố. Ban đầu, Las Vegas chỉ là một điểm dừng chân nhỏ giữa sa mạc dành cho những đoàn xe và tuyến đường sắt đi qua miền Tây nước Mỹ. Đến năm 1946, Benjamin “Bugsy” Siegel, một nhân vật nổi tiếng trong giới giang hồ Mỹ, đã cho xây dựng Flamingo Hotel & Casino, sòng bạc hiện đại đầu tiên của thành phố. Từ đó, Las Vegas phát triển với tốc độ chóng mặt. Những khu nghỉ dưỡng sang trọng liên tiếp mọc lên, thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới. Ngày nay, khu vực đô thị Las Vegas đã có gần hai triệu cư dân và đón hàng chục triệu lượt khách mỗi năm.

Lang thang gần hai cây số, chúng tôi đến khách sạn Venetian. Đây là một trong những khu nghỉ dưỡng nổi tiếng nhất thành phố với hơn bốn nghìn phòng. Bước vào bên trong, tôi có cảm giác như đang lạc vào thành phố Venice của nước Ý. Những quảng trường lát đá, những cây cầu cong bắc qua kênh nước, các bức tranh tường và kiến trúc kiểu Phục hưng được tái hiện công phu. Trên dòng kênh nhân tạo, những chiếc gondola nhẹ nhàng lướt đi dưới sự điều khiển của các chàng chèo thuyền trong trang phục truyền thống. Một vài người còn cất tiếng hát, khiến khung cảnh càng thêm lãng mạn.

Thời gian trôi nhanh mà không ai để ý. Khi nhìn đồng hồ, chúng tôi mới biết đã gần hai giờ sáng. Thành phố vẫn sáng rực như ban ngày và dòng người vẫn chưa có dấu hiệu thưa bớt. Tuy nhiên, sau một ngày dài di chuyển và tham quan, ai cũng cảm thấy mệt. Cả nhóm quyết định quay trở về khách sạn nghỉ ngơi để chuẩn bị cho hành trình ngày hôm sau.

Nằm trong phòng khách sạn, tôi vẫn còn nhớ đến những ánh đèn rực rỡ ngoài kia. Giữa vùng sa mạc khô cằn của Nevada, Las Vegas hiện lên như một ốc đảo kỳ lạ do bàn tay con người tạo dựng. Thành phố ấy có thể khiến người ta yêu hay không yêu, nhưng chắc chắn sẽ để lại những ấn tượng khó quên đối với bất kỳ ai từng đặt chân tới.

Grand Canyon ở Arizona

Sau bữa sáng tại Las Vegas, chúng tôi khởi hành từ khá sớm để đến Grand Canyon West, một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất của bang Arizona. Từ trung tâm thành phố đến đây mất khoảng hai giờ chạy xe. Chặng đầu tiên là đường cao tốc rộng rãi, mặt đường bằng phẳng, xe chạy rất thuận lợi. Tuy nhiên, sau khi rời xa khu vực đô thị, con đường dẫn vào Grand Canyon West trở nên hẹp hơn và gồ ghề hơn. Xe phải len lỏi qua những quả đồi thấp phủ đầy đá sỏi và cây bụi đặc trưng của vùng sa mạc Tây Nam nước Mỹ. Cảnh vật hai bên đường khá hoang vắng, thỉnh thoảng mới xuất hiện vài ngôi nhà nhỏ đơn sơ nằm tách biệt giữa vùng đất rộng lớn. Người đồng hành cho biết đây là khu vực sinh sống của bộ lạc người da đỏ Hualapai, một cộng đồng bản địa đã gắn bó với vùng đất này từ nhiều thế hệ.

Khi còn cách điểm đến không xa, xe bất ngờ phải dừng lại trước một nhóm người đứng bên đường. Họ thực hiện việc thu phí đối với các phương tiện đi vào khu vực do bộ lạc quản lý. Sau khi nộp phí bằng tiền mặt, xe được phép tiếp tục hành trình. Điều thú vị là việc thu phí ở đây khá đơn giản, không có trạm kiểm soát lớn hay hệ thống máy móc hiện đại như ở nhiều khu du lịch khác.

Grand Canyon từ lâu đã được xem là một trong những kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng nhất của nước Mỹ và của cả thế giới. Khu vực này trải rộng trên diện tích rất lớn, được hình thành qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất và xói mòn tự nhiên. Những lớp sa thạch nhiều màu sắc xếp chồng lên nhau đã tạo nên một bức tranh địa chất khổng lồ. Dưới tác động liên tục của mưa, gió và sự thay đổi nhiệt độ, các khối đá bị bào mòn thành vô số hình dạng khác nhau. Có nơi giống những tòa tháp cổ kính, có nơi như những mái vòm khổng lồ, lại có chỗ mang hình dáng của tổ ong hoặc những con vật kỳ lạ. Màu sắc của đá cũng thay đổi liên tục theo ánh sáng và thời gian trong ngày. Từ sắc đỏ rực như lửa, các lớp đá chuyển dần sang màu nâu, tím nhạt rồi vàng cam, tạo nên một khung cảnh vừa hùng vĩ vừa huyền ảo.

Điểm tham quan mà chúng tôi ghé thăm là West Rim, phần rìa phía Tây của Grand Canyon. Ngay khi bước xuống xe và tiến lại gần mép vực, tất cả mọi người đều không khỏi kinh ngạc trước quy mô đồ sộ của thắng cảnh này. Trước mắt chúng tôi là những vách đá dựng đứng kéo dài đến tận chân trời. Bên dưới, dòng sông Colorado uốn lượn như một dải lụa xanh sẫm giữa lòng vực sâu. Đứng ở độ cao khoảng 4.000 feet, tương đương hơn 1.200 mét, nhìn xuống đáy hẻm núi khiến ai cũng có cảm giác choáng ngợp. Không gian rộng lớn đến mức con người trở nên vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên.

Để phục vụ khách du lịch, khu vực West Rim được đầu tư khá đầy đủ các dịch vụ tham quan. Ngoài hệ thống xe buýt đưa đón giữa các điểm ngắm cảnh, nơi đây còn có sân bay trực thăng. Du khách có thể mua vé để bay xuống gần bờ sông Colorado, từ đó cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của hẻm núi từ một góc nhìn hoàn toàn khác. Một trong những điểm nổi tiếng nhất là Eagle Point, nơi có cây cầu kính Skywalk. Công trình này vươn ra khỏi mép vực khoảng 20 mét, tạo cảm giác như đang lơ lửng giữa không trung. Đứng trên mặt kính trong suốt, du khách có thể nhìn thẳng xuống vực sâu hàng trăm mét bên dưới. Đây là trải nghiệm vừa thú vị vừa thử thách lòng can đảm. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn và tránh ùn tắc, du khách phải mua vé riêng và không được tự ý chụp ảnh trên cầu.

Từ Eagle Point, chúng tôi tiếp tục đến Home of the Hualapai, nơi được xem là điểm ngắm toàn cảnh đẹp nhất của West Rim. Từ đây có thể quan sát dòng Colorado uốn khúc qua những vách núi đá nhiều màu sắc, tạo thành một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ hiếm có. Đứng giữa không gian bao la ấy, tôi hiểu vì sao Grand Canyon luôn được nhắc đến như một trong những kỳ quan thiên nhiên nổi bật nhất hành tinh. Mỗi năm có hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến đây để tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp mà thiên nhiên đã mất hàng triệu năm mới tạo nên.

Buổi chiều, chúng tôi rời Grand Canyon để quay trở lại Las Vegas. Trên đường đi, đoàn ghé thăm đập Hoover Dam, một công trình kỹ thuật nổi tiếng nằm trên ranh giới giữa hai bang Arizona và Nevada. Ngay từ cổng vào, công tác an ninh đã được thực hiện rất nghiêm ngặt. Các phương tiện đều phải dừng lại để kiểm tra trước khi được phép đi tiếp.

Khi mặt trời dần ngả về phía Tây, ánh nắng cuối ngày phủ lên những khối bê tông khổng lồ của con đập một màu vàng óng đẹp mắt. Đứng trên đỉnh đập nhìn xuống phía dưới, chúng tôi mới cảm nhận hết quy mô đồ sộ của công trình này. Con đập cao hơn 200 mét, tương đương chiều cao của một tòa nhà khoảng 70 tầng. Được xây dựng trong giai đoạn nước Mỹ đang chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc Đại suy thoái kinh tế những năm 1930, Hoover Dam từng là một dự án gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, công trình cuối cùng vẫn được triển khai và hoàn thành vào năm 1936, trở thành biểu tượng cho ý chí và năng lực xây dựng của nước Mỹ.

Ngày nay, hồ nước nhân tạo hình thành phía sau đập là nguồn dự trữ nước quý giá cho cả một vùng rộng lớn giữa sa mạc khô cằn. Nhà máy thủy điện tại đây cung cấp điện năng cho Las Vegas và nhiều khu vực ở miền Nam bang California. Không chỉ mang giá trị kinh tế to lớn, Hoover Dam còn là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách yêu thích các công trình kỹ thuật. Kết thúc chuyến đi, hình ảnh Grand Canyon hùng vĩ cùng Hoover Dam đồ sộ vẫn để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về thiên nhiên và sức sáng tạo của con người trên miền đất Tây Nam nước Mỹ.

Xem show ở Las Vegas

Buổi tối hôm ấy, sau bữa ăn, anh bạn nhà báo trong đoàn bất ngờ đề nghị:

– Đi xem show không? Vé chỉ khoảng hai chục đô một người thôi, đặc sắc lắm. Đến Las Vegas mà không xem thì hơi phí.

Nghe vậy, tôi gật đầu ngay. Trước khi sang Mỹ, tôi đã tìm hiểu khá nhiều về thành phố Las Vegas – nơi được mệnh danh là kinh đô giải trí của thế giới. Những chương trình biểu diễn nghệ thuật, các buổi hòa nhạc, các show ca múa hoành tráng và cả những tiết mục chỉ dành cho người lớn đều là một phần không thể thiếu của thành phố này. Tôi vẫn nghĩ rằng nếu có cơ hội thì nhất định phải xem thử một lần cho biết.

Tuy nhiên, khi đến Las Vegas mới thấy việc mua vé không hề đơn giản như tưởng tượng. Giá vé cho các chương trình nổi tiếng thường lên đến cả trăm đô la Mỹ, trong khi chúng tôi đi theo đoàn nên mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào lịch trình chung. Nếu tự ý tách đoàn đi xem thì chưa chắc đã biết mua vé ở đâu, xem xong lại phải tự tìm đường về khách sạn. Vì thế, khi nghe anh bạn rủ rê, tôi coi như đây là dịp thuận lợi hiếm có.

Xe đưa chúng tôi đến một con phố khá vắng vẻ. Không khí khác hẳn với những đại lộ rực rỡ ánh đèn mà người ta vẫn thường thấy trong phim ảnh về Las Vegas. Trước mắt chúng tôi là một tòa nhà hai tầng cũ kỹ, bên ngoài gần như tối om. Nếu không được dẫn tới tận nơi, có lẽ chẳng ai nghĩ đây là địa điểm biểu diễn.

Đứng nhìn mãi mới thấy một cánh cửa nhỏ nằm khuất dưới mái hiên. Ánh sáng từ ngọn đèn đường hắt vào đủ để nhận ra lối đi. Chúng tôi lần lượt bước vào. Ngay phía trong cửa là hai người bảo vệ da đen cao lớn đứng chắn hai bên. Dáng vẻ của họ khiến khách mới đến cảm thấy có chút căng thẳng.

Bên cạnh lối vào có một ô cửa nhỏ với ánh đèn vàng hắt ra. Sau tấm kính là một cô gái ngồi bán vé. Anh bạn nhà báo bước tới hỏi giá rồi quay lại với vẻ mặt lúng túng.

– Họ bảo vé sáu mươi đô một người. Trên mạng quảng cáo có hai mươi thôi!

Mọi người nhìn nhau. Đã đến tận nơi mà quay về thì tiếc. Cuối cùng tôi rút một tờ một trăm đô đưa cho anh bạn. Một người khác góp thêm ít tiền nữa. Số tiền ấy đủ mua vé cho cả nhóm. Cô bán vé trả lại tiền lẻ toàn loại một đô la rồi phát cho mỗi người một tấm vé nhỏ.

Qua cửa kiểm soát, chúng tôi được hướng dẫn đi lên tầng hai.

Phòng biểu diễn không lớn. Chính giữa căn phòng là một sân khấu hình vuông, mỗi chiều chừng một mét, thấp hơn mặt sàn khoảng hai mươi phân. Hệ thống đèn tập trung chiếu sáng khu vực đó, còn xung quanh tương đối tối. Dọc theo các bức tường là những hàng ghế kê sát nhau. Lúc chúng tôi vào, chỉ có khoảng vài người khách đang ngồi chờ.

Một cô phục vụ mang đồ uống ra mời. Tiếng nhạc nhẹ nhàng vang lên. Không khí có phần huyền bí và khác lạ khiến ai cũng tò mò.

Ít phút sau, một cô gái trẻ bước ra. Dáng người nhỏ nhắn, làn da trắng nhợt dưới ánh đèn sân khấu. Tiết mục bắt đầu bằng những động tác múa chậm rãi. Sau một lúc, cô lần lượt cởi bỏ những phần trang phục còn lại và tiếp tục biểu diễn trên sân khấu.

Bốn vị khách người Hàn Quốc ngồi hàng đầu nhanh chóng kéo ghế sát vào sân khấu. Cô gái di chuyển quanh bốn phía, tương tác trực tiếp với khán giả. Thỉnh thoảng, những tờ tiền một đô la được đặt lên sân khấu như một hình thức thưởng cho người biểu diễn. Khi tiết mục kết thúc, cô thu gom số tiền đó rồi rời vào phía sau.

Tiếp theo là một cô gái khác. Người này cao lớn hơn, mái tóc đen dài và phong thái tự tin. Sau đó lần lượt xuất hiện những nghệ sĩ với ngoại hình và màu da khác nhau: người da trắng, người da màu, người có nét Á Đông. Mỗi người đều có phong cách trình diễn riêng nhưng về cơ bản đều theo cùng một hình thức.

Điều làm tôi chú ý là vóc dáng của các cô gái. Hầu như ai cũng sở hữu thân hình rất cân đối. Dưới ánh đèn sân khấu, làn da của họ mịn màng đến mức khó nhận thấy bất kỳ khuyết điểm nào. Có lẽ đằng sau những tiết mục ngắn ngủi ấy là cả một quá trình tập luyện và chăm sóc cơ thể rất nghiêm túc.

Chương trình kéo dài khá lâu. Sau khi nhóm khách người Hàn Quốc ra về, chúng tôi chuyển xuống ngồi vào vị trí gần sân khấu hơn. Anh bạn nhà báo chia cho mỗi người vài tờ tiền lẻ rồi hướng dẫn:

– Thích thì đặt một hoặc hai đô lên sân khấu. Hết tiền thì đứng lên nhường chỗ cho người khác.

Nghe cách anh nói, tôi hiểu đây là một phần văn hóa tiêu dùng khá phổ biến ở những địa điểm giải trí kiểu này. Mọi thứ đều diễn ra công khai, không khí nhìn chung khá thoải mái.

Sau phần biểu diễn trên sân khấu, chương trình bước sang một hình thức tương tác khác. Một cô gái trẻ đi vòng quanh khu vực khán giả. Anh bạn nhà báo đưa cho cô tờ hai mươi đô la rồi quay sang dặn:

– Một lát cô ấy sẽ ngồi vào lòng một người trong nhóm. Chỉ được ngồi yên thôi, không được tự ý chạm vào người ta.

Quả nhiên, cô gái chọn một người trong đoàn rồi ngồi xuống đùi ông ấy. Cả nhóm bật cười khi thấy ông bạn lúng túng không biết nên để tay ở đâu. Cô gái liên tục thực hiện những động tác mang tính biểu diễn trong khi khán giả xung quanh gật gù tán thưởng.

Điều khiến tôi chú ý không phải là những động tác gợi cảm mà là cách mọi thứ được tổ chức rất chuyên nghiệp. Có những quy định rõ ràng giữa người biểu diễn và khách hàng. Người xem được phép quan sát nhưng không được vượt quá giới hạn đã đặt ra. Nhân viên bảo vệ luôn hiện diện để đảm bảo mọi việc diễn ra đúng quy tắc.

Anh bạn nhà báo còn cho biết nếu khách có nhu cầu sử dụng thêm các dịch vụ khác thì có thể trả thêm tiền. Tuy nhiên, đó là những giao dịch riêng nằm ngoài phạm vi chương trình biểu diễn.

Sau này tìm hiểu thêm, tôi được biết bang Nevada có những quy định pháp luật khá đặc biệt. Riêng thành phố Las Vegas không cho phép mại dâm hợp pháp như nhiều người vẫn tưởng. Thế nhưng các loại hình giải trí dành cho người lớn lại được quảng bá rất mạnh mẽ và phát triển thành một ngành kinh doanh đem lại doanh thu đáng kể.

Rời khỏi địa điểm biểu diễn, chúng tôi bước ra đường phố trong làn gió đêm mát lạnh. Xa xa, những khách sạn khổng lồ và các bảng hiệu neon vẫn sáng rực như ban ngày. Dòng người trên đại lộ chính vẫn tấp nập không ngừng.

Ngồi trên xe trở về khách sạn, tôi nghĩ nhiều hơn về thành phố này. Las Vegas không chỉ là nơi có những sòng bạc nổi tiếng hay những khách sạn xa hoa. Nó còn là biểu tượng của một nền công nghiệp giải trí được tổ chức bài bản, nơi mọi nhu cầu vui chơi của con người đều có thể trở thành dịch vụ kinh doanh.

Buổi xem show tối hôm đó có thể không phải là trải nghiệm nghệ thuật theo nghĩa truyền thống, nhưng nó giúp tôi hiểu thêm một góc rất đặc biệt của đời sống Mỹ. Với một người lần đầu đặt chân tới Las Vegas, đó là một kỷ niệm khó quên, một lát cắt khác lạ trong hành trình khám phá nước Mỹ rộng lớn.

Bờ Đông và những điểm đến

Phần sau của chuyến đi nước Mỹ, chúng tôi dành trọn một tuần để khám phá bờ Đông – nơi tập trung những thành phố lớn, những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục nổi tiếng của Hoa Kỳ. Sau nhiều ngày rong ruổi ở bờ Tây với những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chúng tôi háo hức chờ đợi được tận mắt chứng kiến những địa danh mà trước đây chỉ biết qua sách báo, phim ảnh hay truyền hình.

Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi đăng ký một tour du lịch do hãng E-World Travel & Tours Inc. tổ chức. Đây là một công ty của người Hoa, chuyên khai thác các tuyến tham quan dành cho khách du lịch châu Á. Giá tour của họ rẻ hơn khá nhiều so với các công ty du lịch bản địa. Chương trình chúng tôi lựa chọn kéo dài 7 ngày 6 đêm. Nếu mua riêng lẻ, giá mỗi người là 850 đô la Mỹ, nhưng khi đăng ký theo cặp thì giá chỉ còn 595 đô la một người. Đặc biệt, nếu có thêm người thứ ba hoặc thứ tư cùng ở chung phòng khách sạn thì được miễn phí tiền tour. Chính sách này khá hấp dẫn đối với những nhóm bạn hoặc gia đình đi cùng nhau.

Hành trình của tour đi qua những địa danh nổi tiếng nhất vùng Đông Bắc nước Mỹ: New York, Philadelphia, Washington D.C., thác Niagara, Boston rồi quay trở lại New York. Chỉ nhìn vào lịch trình cũng đủ thấy đây là một chuyến đi dày đặc và nhiều trải nghiệm.

Chúng tôi đáp chuyến bay từ bờ Tây sang bờ Đông. Chuyến bay kéo dài khoảng năm tiếng đồng hồ, nhưng do phải vượt qua ba múi giờ nên cảm giác thời gian thay đổi khá rõ rệt. Máy bay hạ cánh xuống sân bay John F. Kennedy (JFK) vào khoảng sáu giờ sáng. Sau khi làm thủ tục nhận hành lý, chúng tôi còn phải chờ thêm vài giờ mới đến giờ xe của công ty du lịch đến đón khách. Vì vậy, mọi người tranh thủ đi dạo quanh sân bay, ngồi nghỉ và ăn sáng nhẹ.

Đây cũng là dịp để chúng tôi hiểu thêm về cách tổ chức tour của các công ty du lịch kiểu này. Hãng chỉ chịu trách nhiệm vận chuyển, bố trí khách sạn nghỉ đêm và mua vé cho một số điểm tham quan bắt buộc. Còn lại, khách tự do khám phá theo sở thích. Khi đến các thành phố lớn, hướng dẫn viên chỉ giới thiệu sơ bộ những địa điểm nổi bật, hẹn giờ và vị trí tập trung để lên xe. Khoảng thời gian còn lại mỗi người tự quyết định lịch trình riêng của mình. Với những người thích tự do, đây là cách đi khá thú vị vì không bị bó buộc bởi một lịch trình quá cứng nhắc.

Phương tiện chính của đoàn là chiếc xe khách Volvo 54 chỗ hiện đại và tiện nghi. Xe luôn kín chỗ. Ngoài nhóm chúng tôi còn có ba du khách người Ấn Độ, một người Campuchia, còn lại phần lớn là khách du lịch từ Trung Quốc đại lục. Điều thú vị là đa số họ đều còn khá trẻ, trong khi nhóm chúng tôi thuộc lớp tuổi người đã cứng tuổi.

Mỗi buổi sáng trước khi xe khởi hành, hướng dẫn viên lại phát cho từng người một tờ giấy ghi số ghế ngồi trong ngày. Ban đầu chúng tôi khá ngạc nhiên vì không được ngồi cố định. Sau mới hiểu rằng việc thay đổi vị trí như vậy giúp mọi người đều có cơ hội ngồi ở những hàng ghế thuận lợi để quan sát phong cảnh. Đây là một cách tổ chức đơn giản nhưng khá công bằng.

Một điểm khiến chúng tôi hài lòng là chất lượng khách sạn. Mặc dù giá tour tương đối rẻ nhưng các khách sạn đều thuộc những thương hiệu có uy tín như Hilton, Marriott, Hyatt hay Crowne Plaza. Phòng nghỉ sạch sẽ, tiện nghi đầy đủ và vị trí tương đối thuận lợi cho việc di chuyển.

Trong suốt hành trình, chúng tôi được đi qua hầu hết những địa điểm nổi tiếng của các thành phố lớn. Tại New York, đoàn tham quan khu Manhattan với những tòa nhà chọc trời, Quảng trường Thời Đại, khu tài chính Phố Wall và nhiều công trình biểu tượng khác. Tuy nhiên, điểm gây ấn tượng mạnh với tôi lại là chuyến tham quan tàu sân bay USS Intrepid – nay được chuyển đổi thành bảo tàng quân sự nổi tiếng.

Đứng trên boong tàu rộng lớn, tận mắt nhìn thấy những loại máy bay chiến đấu từng làm nên lịch sử không quân Mỹ, tôi có cảm giác như đang bước vào một cuốn phim tư liệu sống động. Ở đó có chiếc F-4 Phantom, loại chiến đấu cơ từng được mệnh danh là “Con ma”; có F-105 Thunderchief, hay còn gọi là “Thần Sấm”; và đặc biệt là chiếc SR-71 Blackbird huyền thoại, một trong những máy bay trinh sát nhanh nhất từng được chế tạo.

Điều khiến tôi chú ý hơn cả là giữa dàn máy bay Mỹ lại xuất hiện một chiếc MiG-17 sơn màu xanh da trời với phù hiệu Không quân Việt Nam. Nó đứng đó như một chứng nhân của một thời kỳ lịch sử đầy biến động. Nhìn từ xa, người xem có cảm giác như chiếc máy bay này vừa bị “bắt sống” và đưa về trưng bày tại đây. Đối với một người Việt Nam, hình ảnh ấy gợi lên nhiều suy nghĩ và cảm xúc khó diễn tả.

Một trong những điểm dừng chân đáng nhớ khác là thành phố Boston. Đây là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử của nước Mỹ, đồng thời là trung tâm giáo dục hàng đầu thế giới. Hướng dẫn viên thả khách xuống khu vực trung tâm và hẹn giờ tập trung vào cuối buổi chiều. Chúng tôi tha hồ đi bộ khám phá những con phố cổ kính.

Trong lúc lang thang trên đại lộ Boylston, gần nhà thờ Old South Church, chúng tôi bắt gặp một khu tưởng niệm đặc biệt. Hàng trăm đôi giày thể thao cùng rất nhiều bó hoa được đặt dọc theo vỉa hè. Đó là nơi tưởng nhớ các nạn nhân của vụ đánh bom xảy ra trong cuộc thi Marathon Boston ngày 15 tháng 4 năm 2013. Vụ khủng bố đã làm ba người thiệt mạng và hơn hai trăm tám mươi người khác bị thương. Dù sự kiện đã diễn ra nhiều năm trước, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn được người dân thành phố gìn giữ như một lời nhắc nhở về mất mát và nghị lực vượt qua đau thương.

Đến Boston mà không ghé thăm các trường đại học danh tiếng thì quả là thiếu sót. Chúng tôi được tham quan Đại học Harvard và Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Khuôn viên Harvard mang vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm nhưng không hề xa cách. Sinh viên từ khắp nơi trên thế giới tụ hội về đây, tạo nên một bầu không khí học thuật rất đặc biệt.

Ở sân trường Harvard có bức tượng đồng nổi tiếng của John Harvard. Điều đầu tiên đập vào mắt khách tham quan là mũi giày của bức tượng sáng bóng khác thường. Hướng dẫn viên giải thích rằng hầu như ai đến đây cũng đưa tay chạm vào mũi giày với niềm tin sẽ gặp may mắn. Sau hàng chục năm, hàng triệu lượt khách đã khiến phần đồng ở đó nhẵn bóng như được đánh xi. Tuy nhiên, cũng có một câu chuyện vui được truyền miệng rằng có sinh viên nghịch ngợm từng lén tiểu vào chân tượng, khiến nhiều người nghe xong chỉ biết bật cười và vội rút khăn giấy lau tay.

Trên đường trở về New York, đoàn còn được ghé thăm Học viện Quân sự West Point – cái nôi đào tạo nhiều vị tướng và nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng của Hoa Kỳ. Nằm bên bờ sông Hudson thơ mộng, khu học viện mang dáng vẻ uy nghiêm của một pháo đài cổ. Những dãy nhà bằng đá xám, những bãi tập rộng lớn và không khí kỷ luật nghiêm cẩn khiến người tham quan dễ dàng hình dung về môi trường đào tạo sĩ quan ưu tú của nước Mỹ.

Bảy ngày trên bờ Đông trôi qua rất nhanh. Chuyến đi giúp chúng tôi hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và sức mạnh của nước Mỹ qua những thành phố tiêu biểu nhất của quốc gia này. Từ những công trình hiện đại ở New York, dấu ấn lịch sử tại Philadelphia và Washington D.C., vẻ hùng vĩ của thác Niagara đến bầu không khí học thuật của Boston, mỗi nơi đều để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên. Khi xe trở lại New York để kết thúc hành trình, ai nấy đều cảm thấy mệt nhưng hài lòng vì đã có thêm một trải nghiệm đáng nhớ trong cuộc đời.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Có một thời như thế đấy

Những kỷ niệm về ngôi nhà 97