Chuyển môi trường công tác mới

 

Trong những năm từ 1980 đến 1985, tôi được giao chủ trì nhiều công việc chuyên môn quan trọng của đơn vị. Đây là giai đoạn mà đội ngũ cán bộ kỹ thuật chúng tôi phải làm việc với cường độ cao để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hiện đại hóa trang bị kỹ thuật của quân đội. Mặc dù điều kiện vật chất còn nhiều khó khăn, phương tiện nghiên cứu, thiết kế và chế tạo chưa thật đầy đủ, nhưng với tinh thần trách nhiệm và lòng say mê nghề nghiệp, tôi cùng đồng đội đã hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ được giao.


Trong số những công việc đáng nhớ nhất có việc xây dựng bộ tài liệu thống kê phụ tùng lắp lẫn cho các loại cơ giới quân sự đang sử dụng trong toàn quân. Đây là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác và khối lượng khảo sát rất lớn. Ngoài ra, tôi còn tham gia nghiên cứu, thiết kế và chế tạo bán moóc phục vụ vận tải quân sự; cải tiến xe chỉ huy dùng trong các cuộc duyệt binh, diễu hành, đặc biệt là phục vụ Lễ Quốc khánh 2/9 năm 1985. Những kết quả đó sau này đã được ghi nhận trong cuốn “Lịch sử Viện Kỹ thuật Cơ giới Quân sự - Biên niên sự kiện (1974 – 2024)” xuất bản năm 2024 nhân kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống. Đó là niềm tự hào không chỉ của riêng tôi mà còn của cả tập thể cán bộ kỹ thuật đã gắn bó với đơn vị trong những năm tháng đầy thử thách ấy.

Nhờ quá trình phấn đấu liên tục trong công tác cũng như trong rèn luyện phẩm chất chính trị, đầu năm 1980 tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với một người cán bộ trẻ lúc bấy giờ, đây là một dấu mốc hết sức quan trọng. Từ đó, tôi luôn tự nhắc mình phải sống và làm việc có trách nhiệm hơn, xứng đáng với niềm tin của tổ chức và đồng đội.

Những nỗ lực trong lao động sáng tạo của tôi cũng được ghi nhận bằng nhiều hình thức khen thưởng. Năm 1985, tôi được trao tặng Huy hiệu Lao động sáng tạo và Bằng Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đây là phần thưởng rất có ý nghĩa đối với một cán bộ kỹ thuật, bởi nó ghi nhận không chỉ kết quả công việc mà còn ghi nhận tinh thần tìm tòi, đổi mới và sáng tạo trong lao động.

Tháng 10 năm 1985, tôi được cử tham gia một lớp học tiếng Anh do Tổng cục Kỹ thuật tổ chức tại Viện Kỹ thuật Quân sự. Khi đó, trong học viên lan truyền thông tin rằng lớp học này nhằm chuẩn bị nguồn cán bộ đi thực tập dài hạn tại Ấn Độ. Thực hư thế nào không ai biết rõ, nhưng ai cũng hy vọng có cơ hội được tiếp cận môi trường học tập mới. Riêng tôi, dù không quá kỳ vọng vào chuyện xuất ngoại, vẫn coi đây là dịp quý báu để bổ sung kiến thức và thay đổi không khí công tác sau nhiều năm chỉ gắn bó với công việc chuyên môn kỹ thuật.

Việc học ngoại ngữ ở tuổi không còn trẻ đối với tôi là một thử thách thật sự. Những người trẻ học nhanh bao nhiêu thì tôi phải cố gắng gấp nhiều lần mới theo kịp. Hết chương trình A lại đến chương trình B, hết khóa này lại tiếp tục khóa khác. Buổi sáng lên lớp, buổi chiều tự học, tối về lại ôn bài. Có những hôm tôi ngồi hàng giờ chỉ để nhớ cách phát âm một từ hoặc thuộc một đoạn hội thoại ngắn. Mắt nhìn sách, tai nghe băng, miệng đọc theo, tay ghi chép liên tục. Nói vui là phải huy động cùng lúc tất cả các giác quan mới theo được chương trình. Sau một năm miệt mài học tập, tháng 10 năm 1986 chúng tôi hoàn thành khóa học và được cấp giấy chứng nhận. Đến nay tôi không còn nhớ mình đạt trình độ nào, chỉ nhớ rằng đó là những tháng ngày học tập rất nghiêm túc và đầy cố gắng.

Tưởng rằng con đường công tác của mình sẽ tiếp tục gắn bó với chuyên ngành kỹ thuật, nhưng cuộc sống luôn có những bước ngoặt bất ngờ.

Năm 1988, thực hiện Nghị quyết 47 về giảm quân số và giải quyết chính sách đối với cán bộ quân đội, tôi được điều động sang làm trợ lý chính trị của đơn vị. Đây là một quyết định khiến tôi khá bất ngờ. Trước đó, tôi hoàn toàn là một cán bộ kỹ thuật, quen làm việc với bản vẽ, máy móc, số liệu và các phương án kỹ thuật. Trong khi đó, công tác chính trị lại là một lĩnh vực hoàn toàn khác, liên quan trực tiếp đến con người, tổ chức và các chính sách cán bộ.

Trong quân đội thời đó có câu nói vui: “Nhất chính, nhì tham, tam cần, tứ kỹ”, ý nói cán bộ chính trị được xếp hàng đầu, tiếp đến là tham mưu, hậu cần và cuối cùng là kỹ thuật. Tôi vốn thuộc diện “thứ tư”, vậy mà chỉ sau một quyết định điều động đã chuyển sang diện “thứ nhất”. Điều đó vừa là vinh dự, vừa là áp lực rất lớn.

Những ngày đầu nhận nhiệm vụ mới, tôi không tránh khỏi bỡ ngỡ. Nhiều đồng chí làm công tác chính trị lâu năm đã được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, còn tôi gần như bắt đầu từ đầu. Tuy nhiên, tôi xác định rằng đã nhận nhiệm vụ thì phải cố gắng hoàn thành tốt. Tôi mang theo vào công việc mới những phẩm chất đã được rèn luyện trong môi trường kỹ thuật: cẩn thận, khách quan, minh bạch và tôn trọng sự thật.

Có lẽ vì xuất thân từ ngành kỹ thuật nên phong cách làm việc của tôi khác với nhiều cán bộ chính trị chuyên nghiệp. Tôi quen cách làm việc dựa trên số liệu, quy định và chứng cứ cụ thể. Trong quan hệ công tác, tôi luôn thẳng thắn, có sao nói vậy, tránh vòng vo hoặc hứa hẹn những điều mình không chắc thực hiện được. Đối với cán bộ thuộc diện giải quyết chính sách, tôi luôn cố gắng giải thích rõ ràng, minh bạch để mọi người hiểu đúng tình hình, tránh những kỳ vọng không thực tế.

Dần dần, tôi thích nghi với công việc mới. Nhờ sự giúp đỡ của cấp trên, đồng nghiệp và sự nỗ lực của bản thân, tôi từng bước nắm bắt được yêu cầu công việc. Anh em trong đơn vị cũng dần hiểu và tin tưởng cách làm việc của tôi.

Giai đoạn từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 là thời kỳ đơn vị thực hiện giảm biên chế với quy mô lớn. Từ chỗ quân số của Viện có hơn một trăm sĩ quan, sau vài năm quân số chỉ còn lại phần số lẻ hàng chục. Công việc giải quyết chính sách diễn ra liên tục với nhiều đối tượng khác nhau: người nghỉ hưu, người xuất ngũ, người chuyển ngành, người đi lao động ở nước ngoài hoặc chuyển sang các cơ quan dân sự.

Đây là công việc rất nhạy cảm bởi liên quan trực tiếp đến tương lai, cuộc sống và tâm tư của từng con người. Phần lớn cán bộ thuộc diện giải quyết đều có tâm trạng không vui. Sau nhiều năm cống hiến, việc phải rời quân ngũ là điều không dễ chấp nhận. Tuy vậy, cũng có những trường hợp nhìn thấy cơ hội mới trong cuộc sống dân sự. Tôi còn nhớ có cán bộ sau khi hoàn tất thủ tục xuất ngũ đã đến cảm ơn và tặng tôi một món quà nhỏ như một lời tri ân. Những tình cảm như vậy khiến tôi rất trân trọng.

Song song với việc giải quyết chính sách là công tác phân phối nhà ở và sau này là đất ở cho cán bộ. Đây có lẽ là công việc phức tạp nhất mà tôi từng tham gia. Mặc dù thời điểm đó chưa xuất hiện khái niệm “sốt đất” như sau này, nhưng nhu cầu về nhà ở luôn là vấn đề lớn đối với mọi gia đình.

Mỗi trường hợp đều phải xem xét kỹ lưỡng theo quy định. Nào là điều kiện gia đình, thâm niên công tác, hoàn cảnh nhà ở, thành tích đóng góp và nhiều tiêu chí khác. Hồ sơ phải được rà soát nhiều lần, lấy ý kiến tập thể, đối chiếu quy chế rồi mới đưa ra hội đồng xem xét. Với cương vị thư ký hội đồng, tôi chịu trách nhiệm tổng hợp nhu cầu, phân tích hồ sơ, chấm điểm theo quy định và tham mưu cho lãnh đạo đơn vị.

Nhờ làm việc công tâm, minh bạch và tuân thủ đúng quy định, công tác nhà đất của đơn vị trong nhiều năm hầu như không phát sinh khiếu kiện nghiêm trọng. Điều đáng quý hơn cả là phần lớn anh em vẫn giữ được tình cảm tốt đẹp với nhau sau khi mọi việc được giải quyết.

Năm 1991, tôi được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ đơn vị và sau đó giữ cương vị Bí thư Chi bộ trong nhiều năm. Đây là sự ghi nhận của tập thể đối với quá trình công tác và những cố gắng của tôi trong môi trường mới.

Điều khiến tôi cảm thấy thanh thản nhất là trong suốt thời gian tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến nhà đất, mặc dù nhiều lần được gợi ý xem xét cấp nhà hoặc cấp đất, tôi đều từ chối. Khi đó gia đình tôi vẫn ở nhờ nhà cha mẹ nên chưa thật sự bức thiết về chỗ ở. Tôi cho rằng nếu bản thân không nhận quyền lợi thì sẽ có đủ sự khách quan và tư thế để giải quyết quyền lợi cho người khác một cách công bằng hơn. Có lẽ chính điều đó đã giúp tôi giữ được sự vô tư trong công việc và nhận được sự tin cậy của đồng chí, đồng đội.

Nhìn lại chặng đường ấy, tôi thấy việc chuyển từ cán bộ kỹ thuật sang cán bộ chính trị là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời công tác. Nó buộc tôi phải học hỏi những kiến thức hoàn toàn mới, phải thích nghi với một môi trường công việc khác hẳn trước đây. Nhưng cũng chính nhờ sự thay đổi đó mà tôi có cơ hội hiểu con người nhiều hơn, trưởng thành hơn trong nhận thức và tích lũy thêm những trải nghiệm quý giá cho cuộc đời quân ngũ của mình.

Năm 1993, khi Tổng cục Kỹ thuật được tổ chức lại, tôi được điều chuyển lên Phòng Cán bộ và nhận nhiệm vụ trợ lý nhân sự từ tháng 7 năm ấy. Quyết định điều động đến với tôi khá bất ngờ. Trước đó tôi vốn quen với công việc chuyên môn kỹ thuật. Vì vậy, khi được giao sang làm công tác cán bộ, tôi chỉ nghĩ mình sẽ đảm nhận công việc này trong một thời gian ngắn, như một sự hỗ trợ mang tính tạm thời. Không ngờ rằng từ đó tôi thực sự trở thành một cán bộ chính trị.

Thú thật, trong thâm tâm tôi không mấy hào hứng với sự thay đổi ấy. Nhưng là người lính, cấp trên phân công nhiệm vụ nào thì phải chấp hành nhiệm vụ đó. Tôi tự nhủ cứ thử một lần xem sao, coi như thêm một trải nghiệm trong đời công tác. Có những việc nếu chưa từng làm thì khó có thể hiểu hết bản chất của nó.

Những ngày đầu nhận nhiệm vụ mới, tôi khá bỡ ngỡ. Công việc cán bộ khác hẳn công việc chuyên môn mà tôi đã gắn bó nhiều năm. Nếu như ở lĩnh vực kỹ thuật, mọi vấn đề thường được giải quyết bằng các tiêu chuẩn, quy trình và những lập luận tương đối rõ ràng thì công tác cán bộ lại gắn với con người, với tâm lý, với các mối quan hệ và rất nhiều yếu tố tế nhị. Chỉ sau một thời gian ngắn, tôi đã cảm nhận được sự thiếu hụt về kinh nghiệm cũng như khả năng của bản thân trong lĩnh vực này.

Điều khiến tôi trăn trở nhất là cảm giác công việc ấy đòi hỏi ở người cán bộ những phẩm chất không hoàn toàn phù hợp với tính cách của tôi. Về sau, qua những lần trò chuyện với đồng đội và bạn bè, tôi mới hiểu rõ hơn nguyên nhân. Nhiều người nhận xét tôi là người khá “bất cần”, không quá coi trọng lợi ích vật chất, cũng không mấy để tâm đến chuyện hơn thua trong các mối quan hệ. Tính cách ấy có thể phù hợp với công việc kỹ thuật, nơi người ta có thể tranh luận đến cùng để bảo vệ quan điểm chuyên môn. Nhưng trong công tác cán bộ, nhiều khi sự thẳng thắn tuyệt đối lại không phải là lựa chọn tối ưu.

Làm việc với con người luôn phức tạp hơn làm việc với máy móc. Một quyết định liên quan đến nhân sự có thể ảnh hưởng đến cả cuộc đời, sự nghiệp và gia đình của một con người. Vì thế, người làm công tác cán bộ không chỉ cần kiến thức nghiệp vụ mà còn phải có sự tinh tế, cẩn trọng và kinh nghiệm xử lý tình huống. Đó là những điều mà tôi lúc ấy còn thiếu.

Tôi vẫn nhớ một sự việc xảy ra trong thời gian làm việc tại Phòng Cán bộ. Khi lập hồ sơ báo cáo đề bạt cho một số cán bộ, tôi đã nghĩ ra cách làm mà bản thân cho là hợp lý và tiết kiệm thời gian. Trong hồ sơ quản lý cán bộ có bản sơ yếu lý lịch cá nhân, hay còn gọi theo thuật ngữ chuyên môn là “trích yếu 63”. Tôi cho photocopy các bản này rồi phát lại cho từng người để họ tự bổ sung, chỉnh sửa những thông tin mới phát sinh.

Theo suy nghĩ của tôi lúc đó, đây là cách làm đơn giản, nhanh gọn và chính xác vì người khai sẽ trực tiếp cập nhật thông tin về bản thân. Mọi việc sẽ chẳng có gì đáng nói nếu sau đó không xảy ra một vụ việc ngoài ý muốn.

Một hôm, có một cán bộ từ Quân đoàn B đến gặp tôi. Anh đề nghị tôi xác nhận việc hồ sơ cán bộ nói trên được lập từ cơ quan quản lý cán bộ. Nghĩ rằng đây chỉ là thủ tục hành chính thông thường nên tôi xác nhận ngay.

Sau đó, anh ta cho biết người có hồ sơ ấy đang khởi kiện Quân đoàn vì cho rằng đơn vị đã xúc phạm danh dự gia đình mình. Tôi ngạc nhiên và hỏi nguyên nhân. Lúc đó tôi mới biết trong phần khai lý lịch gia đình có ghi một chi tiết về người cha của anh ta ở địa phương từng có thói quen trộm cắp vặt. Chính nội dung này đã trở thành căn nguyên của vụ khiếu kiện.

Nghe xong, tôi mới giật mình nhận ra mức độ nhạy cảm của những thông tin được lưu giữ trong hồ sơ cán bộ. Đối với người làm công tác chuyên môn như tôi trước đây, đó đơn thuần chỉ là một dữ liệu cần quản lý. Nhưng đối với công tác cán bộ, mỗi dòng chữ đều có thể liên quan đến danh dự của một cá nhân hay một gia đình. Một sơ suất nhỏ cũng có thể gây ra hậu quả không mong muốn.

Vụ việc cuối cùng rồi cũng qua đi, không để lại hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, tôi hiểu rằng nó phần nào làm cho cấp trên giảm bớt sự tin tưởng đối với mình. Ít nhất, nó cho thấy tôi chưa thật sự thấu hiểu tính đặc thù của công việc đang đảm nhiệm.

Điều thú vị là nhiều năm sau, khi có dịp gặp lại người cán bộ đã vô tình khiến tôi vướng vào sự việc ấy, anh lại nhìn tôi với vẻ đầy ngưỡng mộ. Anh nói: “Tôi biết chỉ có anh mới dám làm như thế!”. Câu nói ấy vừa như lời khen, vừa như một sự khẳng định về tính cách của tôi. Tôi vốn quen làm việc thẳng thắn, nghĩ sao làm vậy, ít khi cân nhắc những hệ quả xa hơn của các mối quan hệ hành chính và nhân sự.

Ngoài những hạn chế về kinh nghiệm thực tế, tôi còn thiếu nền tảng lý luận về công tác Đảng và công tác chính trị. Vì vậy, sau khi bộ máy mới của Tổng cục Kỹ thuật đã cơ bản ổn định và đi vào hoạt động, cấp trên quyết định cử tôi đi học tại Học viện Chính trị Quân sự.

Từ tháng 9 năm 1995 đến tháng 3 năm 1996, tôi theo học tại Hà Đông. Đây là khoảng thời gian khá đặc biệt đối với tôi. Một mặt, tôi hiểu rằng mình cần được trang bị kiến thức để hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, tôi cũng nhận thấy những môn học ấy thật sự khó tiếp thu đối với bản thân.

Không phải tôi lười học. Trái lại, tôi đã rất cố gắng. Nhưng những nội dung liên quan đến lý luận chính trị, công tác Đảng, công tác cán bộ dường như không dễ đi vào cái đầu vốn quen suy nghĩ theo lối kỹ thuật của tôi. Tôi thường thích những gì cụ thể, rõ ràng và có thể kiểm chứng được. Trong khi đó, nhiều vấn đề về chính trị và công tác tổ chức lại đòi hỏi cách tiếp cận khác.

Kết quả học tập của tôi chỉ ở mức trung bình. Dù không phải quá tệ nhưng cũng chẳng có gì đáng tự hào. Điều quan trọng hơn là sau khóa học, tôi nhận ra mình vẫn chưa thực sự phù hợp với công việc đang làm.

Khi trở về cơ quan, cảm giác ấy càng rõ rệt hơn. Trong thời gian tôi đi học, cơ quan đã điều động người khác về đảm nhiệm phần lớn công việc mà trước đó tôi phụ trách. Điều đó khiến tôi hiểu rằng vị trí của mình thực tế đã không còn như trước nữa.

Anh Châu, người phụ trách Phòng lúc ấy, cũng thẳng thắn nhận xét với tôi: “Quang không làm công tác cán bộ được đâu”.

Nghe câu nói ấy, tôi không hề tự ái. Trái lại, tôi thấy anh nói đúng. Tôi hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Ngay sau đó, tôi đề nghị anh báo cáo cấp trên cho tôi được trở về đơn vị cũ, nơi có công việc phù hợp hơn với khả năng và sở trường của mình.

Cũng vào thời gian đó, một yếu tố khác khiến tôi càng cảm thấy khó tiếp tục gắn bó với công tác cán bộ. Báo chí bắt đầu đăng tải những bài viết phê phán các quan điểm chính trị của bố tôi. Dù những vấn đề ấy không liên quan trực tiếp đến công việc của tôi, nhưng tôi hiểu rằng trong môi trường công tác chính trị, chúng có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho cơ quan.

Tôi không muốn đơn vị phải lúng túng hoặc chịu áp lực vì những vấn đề nằm ngoài phạm vi công tác của mình. Vì vậy, mong muốn được trở lại lĩnh vực chuyên môn ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Nhìn lại quãng thời gian làm công tác cán bộ, tôi không xem đó là một thất bại. Trái lại, đó là một trải nghiệm quý giá giúp tôi hiểu thêm về con người, về tổ chức và về chính bản thân mình. Tôi nhận ra rằng không phải ai cũng phù hợp với mọi công việc. Điều quan trọng là hiểu được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để tìm được vị trí thích hợp nhất.

Có lẽ bài học lớn nhất tôi nhận được từ giai đoạn ấy là sự trung thực với chính mình. Tôi đã cố gắng thích nghi, cố gắng học tập và hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng cuối cùng tôi cũng phải thừa nhận rằng mình phù hợp với công việc kỹ thuật hơn là công tác cán bộ. Sự thừa nhận ấy không làm tôi thấy thất vọng. Ngược lại, nó giúp tôi thanh thản và tự tin hơn trên con đường công tác sau này.

Nhưng cũng phải nói rằng, trong những năm tháng tưởng như khó khăn nhất ấy, cuộc đời lại mở ra cho tôi một cơ hội mới. Đó là thời điểm Quân đội bắt đầu triển khai xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chức danh cán bộ trên phạm vi toàn quân. Đây là một công việc hoàn toàn mới, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tổ chức cán bộ, bởi nó tạo ra những chuẩn mực thống nhất để đánh giá, quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới.

Khi được giao tham gia công việc này, tôi cảm thấy rất hào hứng. Có lẽ lần đầu tiên sau một thời gian dài, tôi được làm một công việc thật sự phù hợp với khả năng và sở trường của mình. Những năm công tác trong lĩnh vực kỹ thuật, rồi chuyển sang công tác chính trị, tuy có không ít điều khiến tôi trăn trở, nhưng cũng giúp tôi tích lũy được vốn kiến thức và kinh nghiệm khá phong phú. Nhờ vậy, khi bắt tay vào xây dựng các tiêu chuẩn chức danh, tôi không thấy bỡ ngỡ mà trái lại còn cảm thấy như được trở về với những công việc đòi hỏi tư duy hệ thống, tính logic và sự cẩn trọng vốn là thế mạnh của mình.

Nhiệm vụ của tôi là xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cho các chức danh cán bộ chính trị. Công việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế lại rất phức tạp. Mỗi chức danh đều phải xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, yêu cầu về trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo, phẩm chất chính trị và kinh nghiệm thực tiễn. Các nội dung phải được trình bày chặt chẽ, chính xác và thống nhất về hình thức văn bản. Tôi dành rất nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu, tham khảo các quy định hiện hành, đối chiếu với thực tiễn công tác ở các đơn vị để bảo đảm từng tiêu chuẩn được xây dựng đều có tính khả thi.

Sau nhiều tháng làm việc miệt mài, bộ tài liệu hoàn chỉnh đã được trình lên cấp trên xem xét. Kết quả vượt ngoài mong đợi của tôi. Trưởng phòng rất hài lòng khi mang tài liệu đi báo cáo và xin ý kiến tại Tổng cục. Tôi còn nhớ rất rõ một buổi chiều, vừa từ cuộc họp trở về, anh tìm gặp tôi ngay. Gương mặt anh ánh lên niềm vui hiếm thấy. Anh nói:

– Anh Hai Châu (Trung tướng Trương Khánh Châu, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục) nhận xét rằng cơ quan chính trị từ trước đến nay chưa có bộ văn bản nào được soạn thảo chuẩn mực như thế, cả về nội dung lẫn hình thức.

Nghe những lời đó, tôi cảm thấy bao nhiêu công sức bỏ ra đều được đền đáp xứng đáng. Điều làm tôi vui không chỉ là lời khen, mà còn là cảm giác mình đã chứng minh được năng lực của bản thân sau những va vấp và trắc trở trong công việc trước đó. Đôi khi chỉ một sự ghi nhận đúng lúc cũng đủ để giúp con người lấy lại niềm tin và động lực.

Trong khi công việc xây dựng tiêu chuẩn chức danh đang được triển khai, ngành cán bộ Quân đội lại bắt đầu một nhiệm vụ hoàn toàn mới: xây dựng chương trình quản lý cán bộ trên máy tính. Những năm cuối thập niên 1990 là giai đoạn công nghệ thông tin bắt đầu được ứng dụng mạnh mẽ hơn trong công tác quản lý. Đối với nhiều người, máy tính vẫn còn là một thiết bị xa lạ, nhưng đối với tôi thì khác. Chính vì vậy, tôi tiếp tục được giao tham gia công việc này.

Đây là một nhiệm vụ lớn và phức tạp hơn nhiều so với những gì tôi từng làm. Trước hết là tổ chức tập huấn cho cán bộ các đơn vị về cách khai thác và sử dụng hệ thống. Sau đó là thiết kế các mẫu phiếu điều tra, in ấn, phát hành xuống cơ sở và hướng dẫn cách ghi chép thông tin sao cho thống nhất. Khi các phiếu được gửi về, lại phải tiến hành kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ gốc để bảo đảm độ chính xác. Nhiều trường hợp thông tin không khớp, phải liên hệ với đơn vị để xác minh lại. Bên cạnh đó còn có việc chụp ảnh, quét ảnh và chuẩn hóa dữ liệu cá nhân.

Tuy nhiên, khối lượng công việc lớn nhất vẫn là nhập dữ liệu vào máy tính. Hàng ngàn hồ sơ cán bộ phải được xử lý thủ công. Mỗi hồ sơ đều có rất nhiều thông tin cần nhập và kiểm tra. Chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến nhầm lẫn trong quản lý sau này. Khi ấy, điều kiện kỹ thuật còn hạn chế, máy tính chậm, phần mềm chưa hoàn thiện, nên công việc càng vất vả hơn.

Nhiều ngày liền, tôi đến cơ quan từ rất sớm và chỉ rời khỏi bàn làm việc khi trời đã tối. Có những hôm mọi người đã về hết, tôi vẫn còn ngồi trước màn hình máy tính để hoàn thành những phần việc dang dở. Một mình âm thầm làm việc, tôi vừa thấy áp lực, vừa thấy thanh thản. Có lẽ tôi đã lao vào công việc không chỉ vì trách nhiệm được giao mà còn vì muốn quên đi những điều không vui trong cuộc sống và công tác. Công việc trở thành nơi để tôi gửi gắm tâm trí, giúp tôi không còn thời gian suy nghĩ về những điều khiến mình trăn trở.

Sở dĩ tôi có thể thích nghi khá nhanh với những công nghệ mới là vì niềm đam mê máy móc đã có từ rất lâu. Điều này cũng có phần liên quan đến chú Trần Điền. Năm 1991, chú quyết định rời biên chế Nhà nước để mở cửa hàng kinh doanh riêng. Ban đầu chú buôn bán các loại máy văn phòng như máy chữ, máy photocopy, máy in, sau đó chuyển dần sang máy tính. Mỗi lần có dịp ghé cửa hàng, tôi đều tò mò tìm hiểu cách hoạt động của những thiết bị mới. Những chiếc máy hiện đại ấy có sức hấp dẫn đặc biệt đối với tôi. Tôi tự học cách sử dụng, mày mò khám phá từng chức năng mà không cảm thấy chán.

Thực ra, niềm say mê ấy đã xuất hiện từ trước đó khá lâu. Ngày mới chuyển sang làm công tác chính trị tại Viện, tôi từng đề nghị cơ quan cấp cho mình một chiếc máy chữ cũ kỹ bị bỏ quên trên nóc tủ hồ sơ của Phòng Kế hoạch. Nhiều người thấy tôi mang chiếc máy đầy bụi bặm ấy về còn ngạc nhiên. Thế nhưng đối với tôi, đó lại là một công cụ quý giá. Hàng ngày, tôi ngồi cọc cạch gõ từng văn bản, từng công văn, từng quyết định. Những tiếng lách cách của bàn phím máy chữ đã trở thành âm thanh quen thuộc trong công việc của tôi suốt nhiều năm.

Nhờ quãng thời gian ấy, tôi dần hình thành thói quen làm việc với các loại máy móc văn phòng. Vì vậy, khi máy tính xuất hiện, tôi không cảm thấy sợ hãi hay lúng túng như nhiều người khác. Ngược lại, tôi xem đó là một công cụ mới giúp công việc trở nên hiệu quả hơn. Có lẽ chính điều này đã tạo nên lợi thế cho tôi trong giai đoạn chuyển đổi sang công nghệ thông tin của ngành cán bộ.

Thế nhưng, công việc nhập hồ sơ cán bộ vẫn chưa hoàn thành thì tôi lại nhận quyết định điều động. Mới nhập được hơn một nửa số hồ sơ, tôi được chuyển về Phòng Quản lý Khoa học Công nghệ. Việc điều động này không khiến tôi bất ngờ, bởi trước đó tôi đã linh cảm rằng sớm muộn gì mình cũng sẽ trở lại với lĩnh vực gần với chuyên môn ban đầu hơn.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước chuyển tiếp. Đến tháng 11 năm 1999, tôi tiếp tục được điều về Viện Kỹ thuật Cơ giới Quân sự giữ chức Phó trưởng Phòng Kế hoạch Tổng hợp. Nhìn lại chặng đường ấy, tôi luôn cảm thấy biết ơn người bạn học cùng khóa mang tên Trần Tiến Tập.

Khi tôi theo học tại Học viện Chính trị Quân sự, Tập cũng là học viên của khóa đó. Trước khi đi học, anh là Phó Hiệu trưởng về chính trị của Trường Lái xe thuộc Cục Quản lý Xe máy. Anh có tính cách cởi mở, nhiệt tình và rất năng động. Những phẩm chất của một cán bộ chính trị dường như đã trở thành bản năng của anh. Sau khi tốt nghiệp, anh nhanh chóng trưởng thành và trở thành một cán bộ được Tổng cục đánh giá cao.

Khi tôi tập trung vào công việc xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ, Tập được điều về Phòng Cán bộ để tiếp nhận phần công việc mà trước đây tôi phụ trách. Sau đó anh lần lượt giữ các cương vị Phó trưởng phòng rồi Trưởng phòng. Với vị trí của mình, rất có thể anh đã tham mưu hoặc đề xuất để tôi được bố trí về công tác tại Viện Kỹ thuật Cơ giới Quân sự.

Dù sự thật thế nào đi nữa, tôi vẫn luôn trân trọng tình cảm và sự giúp đỡ của các anh em, đồng đội ở Tổng Cục những tháng năm ấy. Trong cuộc đời công tác, có những người chỉ gặp thoáng qua rồi quên lãng, nhưng cũng có những người xuất hiện đúng lúc, góp phần làm thay đổi hướng đi của cuộc đời mình. Và quyết định điều động cuối năm 1999 đã mở ra một chặng đường công tác mới, ổn định và phù hợp hơn, để từ đó tôi tiếp tục cống hiến những năm tháng còn lại của đời quân ngũ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Có một thời như thế đấy

Những kỷ niệm về ngôi nhà 97