Gia đình
Tôi lập gia đình vào năm 1982, một dấu mốc quan trọng
trong cuộc đời mình. Ngày 7 tháng 2 năm ấy, lễ cưới của chúng tôi được tổ chức
trong niềm vui và sự chúc phúc của hai bên gia đình. Khi đó tôi vừa tròn hai
mươi tám tuổi, còn vợ tôi mới hai mươi bốn. Nhìn lại quãng thời gian đã đi qua,
tôi vẫn thấy đám cưới của mình là một sự kiện đặc biệt, không chỉ đối với riêng
hai vợ chồng mà còn đối với cả gia đình. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó
khăn, đám cưới ấy được xem là khá tươm tất, thậm chí có thể nói là “sang” nhất
trong họ hàng lúc bấy giờ.
Sự “sang” ấy không phải vì mâm cao cỗ đầy hay những
nghi lễ xa hoa, mà bởi đám cưới được tổ chức tương đối đầy đủ các thủ tục
truyền thống. Có lễ dạm ngõ, có lễ ăn hỏi, có xe ô tô đón dâu, có tiệc ngọt để
tiếp khách và có cả bữa cơm thân mật dành cho họ hàng, bạn bè thân thiết. Đặc
biệt hơn nữa, chúng tôi còn có ảnh cưới màu và có cả quay phim bằng phim Kodak
toàn bộ lễ cưới – điều mà thời ấy không phải gia đình nào cũng có điều kiện
thực hiện.
Nghi thức đầu tiên là lễ dạm ngõ.
Đó là một buổi tối mùa đông se lạnh. Tôi đưa bố đến nhà bạn gái để chính thức
xin phép cho đôi trẻ được qua lại tìm hiểu theo phong tục truyền thống. Để
tránh sự chú ý của hàng xóm láng giềng, chiếc xe đưa bố tôi dừng ở đầu đường,
cách nhà bạn gái chừng năm mươi mét. Từ đó, hai bố con lặng lẽ đi bộ vào nhà.
Buổi gặp gỡ diễn ra giản dị và chân tình. Hai gia đình
ngồi uống nước, trao đổi đôi điều về hoàn cảnh gia đình, công việc và dự định
tương lai của đôi trẻ. Thực ra mọi người đã biết nhau từ trước, nhưng lễ dạm
ngõ vẫn là một thủ tục không thể thiếu, thể hiện sự tôn trọng giữa hai bên.
Cuộc trò chuyện chỉ kéo dài khoảng mười lăm đến hai mươi phút, vậy mà tôi nhớ mãi.
Có lẽ vì từ giây phút ấy, chuyện hôn nhân của chúng tôi đã chính thức được hai
gia đình thừa nhận.
Chỉ hai tuần sau là lễ ăn hỏi. Trong hoàn cảnh kinh tế
thời bao cấp, mọi thứ đều phải tính toán rất kỹ. Gia đình tôi quyết định tổ
chức vào buổi tối để tránh sự phô trương không cần thiết. Đồ lễ được chuẩn bị
đơn sơ nhưng chứa đựng biết bao công sức. Tất cả được xếp gọn trong một chiếc
bao tải vải vốn dùng để đựng bột mì rồi đặt vào một chiếc làn nhựa thường ngày
vẫn dùng đi chợ.
Đoàn đi ăn hỏi cũng rất gọn nhẹ. Chỉ có mẹ tôi, bác
dâu bên ngoại và tôi. Trong lễ vật có trầu cau, bánh kẹo và thuốc lá – những
thứ không thể thiếu trong các đám hỏi thời đó. Bây giờ nhớ lại thì thấy thật
giản dị, nhưng để có được số lễ vật ấy, mẹ tôi đã phải chuẩn bị từ nhiều tháng
trước.
Những năm đầu thập niên 1980 là giai đoạn đời sống còn
vô cùng khó khăn. Gạo ăn hàng ngày còn phải mua theo tiêu chuẩn tem phiếu. Bánh
kẹo là mặt hàng hiếm, chỉ những cán bộ có tiêu chuẩn đặc biệt mới được mua một
lượng nhỏ mỗi tháng. Bố tôi thuộc diện đó nhưng mỗi tháng cũng chỉ được mua một
hoặc hai kilôgam. Nếu đã mua kẹo thì phải bớt bánh, mọi thứ đều được phân phối
chặt chẽ.
Bởi vậy, để chuẩn bị cho lễ ăn hỏi của con trai, mẹ
tôi đã âm thầm dành dụm từ nhiều tháng trước. Mỗi lần mua được một ít bánh hay
vài gói kẹo, mẹ lại cất riêng vào tủ. Đến ngày cần dùng mới đem ra tập hợp.
Riêng thuốc lá là tiêu chuẩn riêng của bố. Mỗi tháng ông chỉ được mua mười bao
loại hai mươi điếu. Thế nhưng mẹ vẫn khéo léo dành ra năm bao để làm lễ ăn hỏi.
Sau này, mỗi khi nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi thường kể
với nụ cười pha chút hài hước rằng nhà trai mang sang đúng năm bao thuốc lá. Vì
thuốc được bán theo tút mười bao nên việc chia đôi thành năm bao khiến nhiều
người bên nhà gái hơi bất ngờ. Có người còn đùa rằng đó là “điềm báo trước” cho
sự tằn tiện của cuộc sống sau này. Nhưng thực ra không ai trách móc gì cả, bởi
ai cũng hiểu hoàn cảnh chung lúc bấy giờ. Đất nước còn nghèo, gia đình nào cũng
phải chắt chiu từng đồng từng hào.
Thậm chí, bên nhà gái còn phải
mua thêm bánh kẹo và thuốc lá để tiếp đãi họ hàng cho chu đáo hơn. Những câu
chuyện ấy bây giờ nghe có vẻ lạ lẫm với thế hệ trẻ, nhưng với những người đã
sống qua thời bao cấp thì đó là những ký ức rất thật, rất gần gũi.
Sau lễ ăn hỏi khoảng hai tháng, chúng tôi tổ chức đám
cưới. Đám cưới được làm ngay tại nhà. Khi ấy chưa có nhà hàng tiệc cưới hay
dịch vụ tổ chức chuyên nghiệp như ngày nay. Mọi công việc đều do gia đình và họ
hàng cùng chung tay chuẩn bị.
Phòng ngủ của mẹ tôi được dọn dẹp sạch sẽ rồi biến
thành nơi tiếp khách chính. Ba dãy bàn ghế được kê ngay ngắn để đón các bậc cao
niên của hai họ cùng khách của bố mẹ. Ngoài hàng hiên nhà ngang, một dãy bàn
dài được kê thêm dành cho bạn bè của hai vợ chồng. Trên bàn bày bánh kẹo, hạt
dưa, hạt bí, thuốc lá và những ấm trà nóng luôn được rót đầy.
Ngày cưới lại đúng vào một đợt rét đậm. Trời mưa phùn
kéo dài từ sáng sớm. Khi đoàn nhà trai sang đón dâu, trời tạm ngớt mưa được một
lúc ngắn ngủi như chiều lòng đôi trẻ. Thế nhưng ngay sau đó, mưa lại rơi lất
phất rồi kéo dài suốt mấy ngày liền.
Dù thời tiết không thuận lợi, không khí đám cưới vẫn
rất đầm ấm. Những lời chúc mừng chân thành của họ hàng, bạn bè đã làm cho căn
nhà nhỏ trở nên rộn ràng và đầy sức sống. Tôi vẫn nhớ cảm giác vừa hồi hộp vừa
hạnh phúc khi nắm tay cô dâu bước vào nhà giữa tiếng cười nói của mọi người.
Buổi tối hôm ấy có tổ chức bữa cơm mặn để cảm ơn họ
hàng và bạn bè thân thiết. Gọi là tiệc cưới nhưng thực chất chỉ là những mâm
cơm gia đình được chuẩn bị chu đáo hơn ngày thường. Tuy vậy, gia đình cũng sắp
xếp được năm đến sáu mâm cỗ. Với điều kiện kinh tế của thời điểm ấy, đó đã là
một sự cố gắng rất lớn.
Tôi vẫn nhớ bố cho hai vợ chồng năm nghìn đồng để lo
liệu công việc. Số tiền ấy thời đó không phải là nhỏ. Phần còn lại gần như do
mẹ đứng ra thu vén. Còn tôi khi ấy chỉ là một Trung úy trẻ, đồng lương quân đội
chẳng đáng là bao. Sau khi trang trải những chi phí sinh hoạt tối thiểu cho bản
thân, cũng chẳng còn dư dả gì để đóng góp nhiều cho đám cưới.
Mỗi lần nhìn lại những bức ảnh
cưới đã ngả màu theo năm tháng, tôi lại thấy hiện lên hình ảnh của bố mẹ với
tất cả tình yêu thương và sự hy sinh dành cho con cái. Đám cưới của chúng tôi
không sang trọng theo cách người ta hiểu ngày nay, nhưng chứa đựng biết bao
công sức, sự vun vén và tình cảm của gia đình. Đó là món quà quý giá nhất mà bố
mẹ đã dành cho chúng tôi trong những năm tháng đất nước còn nhiều gian khó.
Hơn bốn mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Cuộc sống
đã thay đổi rất nhiều, nhưng mỗi khi nhớ lại lễ cưới năm 1982, tôi vẫn cảm thấy
ấm lòng. Đó không chỉ là ngày bắt đầu cuộc sống vợ chồng, mà còn là một kỷ niệm
đẹp về tình thân, về sự sẻ chia và về những giá trị giản dị mà bền vững của một
thời đã qua.
Nhớ lại tuổi hai mươi của mình, tôi luôn thấy đó là
quãng đời đẹp nhất, lãng mạn nhất và cũng đầy những mộng tưởng nhất. Có lẽ ai
cũng từng có một thời tuổi trẻ như thế, nhưng với tôi, những rung động đầu đời
lại mang màu sắc rất riêng. Tôi yêu nhiều, mơ mộng nhiều, nhưng hầu như tất cả
đều diễn ra trong trí tưởng tượng. Với bản tính vốn nhút nhát, tôi thường yêu
từ xa, yêu đơn phương, yêu bằng những suy nghĩ thầm kín hơn là bằng hành động.
Nói cho đúng, nhiều khi đó chưa hẳn là tình yêu mà chỉ là sự quý mến, cảm tình
hoặc một chút rung động trước một người con gái nào đó. Tôi nghĩ mình yêu,
nhưng thực ra chỉ là “thinh thích” mà thôi. Trong suốt những năm tháng ấy, chưa
bao giờ tôi đủ can đảm để cầm chiếc “cưa” đi “cẩm” một cô gái nào.
Một phần nguyên nhân cũng bởi môi trường sống và học
tập của tôi. Từ những năm học cấp II cho đến gần hết thời gian cấp III, tôi học
trong môi trường quân đội. Cuộc sống quanh tôi hầu như chỉ có bạn bè nam giới,
những buổi học tập, rèn luyện và sinh hoạt tập thể. Chuyện trò với các bạn gái
cùng lứa tuổi gần như là điều rất hiếm hoi. Ngay cả khi lên lớp 10, tình hình
cũng chẳng khá hơn. Tôi vẫn giữ nguyên vẻ rụt rè, ít nói và ngại giao tiếp. Có
lẽ vì thế mà các bạn gái cũng ngại tiếp xúc với tôi. Nhiều người có thể nghĩ
tôi lạnh lùng hoặc làm cao, nhưng thực chất chỉ là vì tôi không biết phải bắt
đầu câu chuyện như thế nào.
Dẫu vậy, nói rằng tuổi trẻ của tôi hoàn toàn không
liên quan đến chuyện tình cảm thì cũng không đúng. Những năm tháng sơ tán khi học đại học đã đem đến cho tôi những trải
nghiệm đầu tiên về sự gần gũi giữa một chàng trai và một cô gái. Khi ấy tôi
khoảng mười tám tuổi. Gia đình tôi ở cạnh một gia đình có cô con gái nhỏ hơn
tôi hai tuổi. Cô gái ấy hiền lành, ít nói và có một ánh mắt rất dễ mến. Chúng
tôi gặp nhau hàng ngày, từ những lần đi qua ngõ cho đến những câu chuyện vu vơ
trước sân nhà.
Người ta vẫn nói “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, còn
với chúng tôi thì có lẽ chỉ là “lửa gần rơm lâu ngày cũng ấm”. Sự thân thuộc
khiến tôi ngày càng chú ý đến cô nhiều hơn. Khi cô bắt đầu đi làm công nhân,
thỉnh thoảng chúng tôi cũng hẹn nhau đi dạo hoặc trò chuyện. Tuy nhiên, mọi
việc chỉ dừng lại ở đó. Chúng tôi không có những lời hẹn ước, không có những
câu thề non hẹn biển như trong tiểu thuyết mà tôi từng đọc. Cô gái ấy vốn rất
hiền, lại giản dị đến mức đôi khi tôi có cảm giác cô chẳng hề quan tâm đến những
chuyện lãng mạn của tuổi trẻ. Mọi thứ cứ nhẹ nhàng, bình lặng trôi qua như một
tình bạn đẹp giữa hai người hàng xóm.
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy đó là một mối quan hệ trong
sáng và chân thành. Có lẽ nếu hoàn cảnh khác đi thì câu chuyện có thể phát
triển theo một hướng khác. Nhưng cuộc đời vốn có những ngã rẽ riêng của nó. Sau
này, khi tôi gặp người sẽ trở thành vợ mình, tôi đã chủ động chấm dứt mối quan
hệ ấy. Đó không phải vì có điều gì không vui xảy ra, mà đơn giản vì tính tôi
vốn thích rõ ràng, dứt khoát. Hơn nữa, khi ấy chúng tôi cũng không còn sống
cạnh nhau nữa. Mỗi người đi theo một con đường riêng và giữ lại cho nhau những
kỷ niệm đẹp của tuổi trẻ.
Trong khi đó, bạn bè cùng trang lứa của tôi phần lớn
đã yên bề gia thất. Những đám cưới diễn ra liên tiếp. Mỗi lần gặp nhau, câu
chuyện thường xoay quanh vợ con, nhà cửa và những dự định tương lai. Tôi trở
thành một trong số ít người vẫn còn độc thân. Vì vậy, bạn bè rất sốt sắng trong
việc tìm đối tượng cho tôi.
Có lần, anh bạn thân Đình Nhân bảo rằng đã tìm được
một cô gái rất phù hợp và nhất quyết kéo tôi đi gặp. Tối hôm đó, chúng tôi đạp
xe lên phố Nguyễn Công Trứ. Đến một ngã tư, Nhân dựng xe rồi đi vào một ngôi
nhà trong phố. Một lát sau, anh đưa một cô gái ra vỉa hè. Tôi vẫn ngồi trên xe
nên chẳng nhìn rõ mặt. Trời tối, đèn đường khi ấy yếu ớt như những con đom đóm
lập lòe trong đêm. Qua ánh sáng mờ mờ, tôi chỉ thấy một cô gái nhỏ nhắn với mái
tóc uốn phi dê rất thịnh hành thời đó.
Đình Nhân giới thiệu đôi bên. Chúng tôi chào hỏi nhau
vài câu xã giao rồi đứng im. Cuộc gặp gỡ diễn ra ngắn ngủi đến mức bây giờ tôi
gần như không còn nhớ cô gái ấy nói gì. Trên đường về, tôi tự thấy kiểu mai mối
như vậy có phần gượng gạo và thiếu tự nhiên. Hai người hoàn toàn xa lạ được đặt
vào một tình huống mà ai cũng hiểu mục đích là để tìm hiểu nhau. Đối với một
người vốn nhút nhát như tôi, đó thực sự là một thử thách quá sức. Sau lần ấy,
tôi khéo léo từ chối mọi cuộc giới thiệu tương tự. Nhiều khi tôi còn đùa rằng
nếu bạn mình đã mất công “cưa” trước rồi lại nhường cho mình thì thật là dở
hơi.
Rồi cuộc sống cứ tiếp diễn bình thường. Tôi đi làm,
gặp gỡ bạn bè, tham gia những công việc tập thể và không hề nghĩ rằng một cuộc
gặp gỡ rất tình cờ sắp làm thay đổi cả cuộc đời mình.
Cuối năm 1979, anh bạn Việt Dũng chuẩn bị tổ chức đám
cưới. Biết tôi có bộ máy nghe nhạc xịn của Nhật Bản, anh nhờ mang đến hội
trường để phục vụ buổi lễ. Đó là chiếc máy băng cối AKAI cùng hai thùng loa gỗ
khá lớn. Sáng ngày 31 tháng 12 năm 1979, tôi hì hục đèo Đình Nhân ôm bộ loa
bằng xe máy từ nhà lên phố Mai Xuân Thưởng. Hai thùng loa nặng đến vài chục
kilôgam, đường lại không gần, vậy mà chúng tôi vẫn vui vẻ vì đang giúp bạn
trong ngày trọng đại.
Đến nơi, tôi sắp đặt, nối dây điện, rồi thử máy trong
khi mọi người sắp xếp bàn ghế, trang trí hội trường. Trong lúc đi đi lại lại
giữa những hàng ghế, tôi bỗng nhìn thấy một cô gái đang ngồi lặng lẽ ở phía
dưới. Cô mặc một chiếc áo bông màu xanh tím than đã bạc màu, dáng người nhỏ
nhắn. Điều gây ấn tượng nhất với tôi là đôi mắt và chiếc mũi rất thanh tú trên
khuôn mặt hiền hậu ấy. Giữa không khí nhộn nhịp của đám cưới, cô ngồi yên lặng
như đang suy nghĩ điều gì đó.
Không hiểu vì sao, ngay từ khoảnh khắc đầu tiên tôi đã
chú ý đến cô. Đó không phải là vẻ đẹp rực rỡ khiến người ta phải ngoái nhìn, mà
là nét dịu dàng, giản dị rất khó diễn tả. Cô làm tôi liên tưởng đến bức chân
dung người phụ nữ Nga của họa sĩ Kramskoi mà tôi từng ngắm đi ngắm lại khi còn
nhỏ. Bức tranh ấy treo gần bàn làm việc của bố tôi. Khuôn mặt người phụ nữ
trong tranh mang vẻ trầm tĩnh, có chút lạnh lùng nhưng đầy tự trọng và kiêu
hãnh. Không hiểu vì sao hình ảnh cô gái trong hội trường hôm ấy lại gợi cho tôi
ký ức xa xôi đó.
Có lẽ từ lâu tôi vốn không có cảm tình với những cô
gái quá cầu kỳ về hình thức. Những người ăn mặc kiểu cách hoặc cố tạo ra vẻ
sành điệu thường không gây được thiện cảm nơi tôi. Trước đó, khi đi làm, đơn vị
tôi từng mở một lớp trung cấp. Nhiều đồng đội của tôi đã nên duyên với các cô
học viên trong lớp ấy. Tôi cũng từng để ý vài người, cũng đứng từ xa ngắm nhìn
và đôi khi tham gia những câu chuyện đùa vui với bạn bè. Nhưng chưa ai khiến
tôi muốn tiến lại gần hơn.
Còn cô gái ngồi dưới hàng ghế hội
trường sáng hôm ấy thì khác. Tôi không biết trước rằng rồi đây cô sẽ trở thành
người bạn đời của mình. Tôi cũng không thể hình dung rằng cuộc gặp gỡ tưởng như
ngẫu nhiên ấy lại mở đầu cho một chặng đường dài của cuộc đời. Nhưng có lẽ,
ngay từ giây phút đầu tiên nhìn thấy cô gái nhỏ bé trong chiếc áo bông giản dị,
số phận đã lặng lẽ bắt đầu viết nên câu chuyện riêng của chúng tôi.
Đám cưới của người bạn thân kết thúc trong không khí
vui vẻ và đầm ấm. Vài ngày sau, theo phong tục “lại mặt”, một số bạn bè đã góp
sức cho đám cưới được mời đến gặp gỡ, chuyện trò. Trong buổi gặp hôm ấy, tôi
lại có dịp gặp cô gái mà trước đó chỉ mới thoáng nhìn qua trong đám cưới. Tuy
chỉ là một cuộc gặp ngắn ngủi nhưng hình ảnh của cô đã để lại trong tôi một ấn
tượng đặc biệt. Khi người bạn hỏi cảm nhận về cô gái ấy, tôi cũng không giấu
giếm mà thành thật thổ lộ rằng tôi thấy cô có nét dịu dàng, chân thành và tạo
cho người đối diện cảm giác gần gũi.
Sau này tôi mới biết cô là bạn thân của Hải Hà, vợ anh
Việt Dũng. Có lẽ vì biết được phần nào suy nghĩ của tôi nên khi buổi gặp kết
thúc, vợ chồng anh Dũng đã rất tự nhiên nhờ tôi đưa cô về nhà. Đó là cơ hội đầu
tiên để chúng tôi có thể nói chuyện với nhau một cách thoải mái hơn.
Tối hôm ấy, hai người cùng đạp xe ra phố. Hà Nội thời
đó chưa đông đúc như bây giờ. Những con đường còn khá vắng, tiếng chuông xe đạp
leng keng thỉnh thoảng vang lên giữa những hàng cây xanh. Chúng tôi vừa đi vừa
trò chuyện. Nội dung câu chuyện cũng rất bình thường: công việc, gia đình, bạn
bè và những điều vụn vặt trong cuộc sống. Tuy vậy, chính sự bình thường ấy lại
khiến cả hai cảm thấy dễ chịu. Tôi nhận ra cô là người nói năng nhẹ nhàng, có
suy nghĩ chín chắn và đặc biệt biết lắng nghe người khác.
Khi về đến nhà, cô không quên mời tôi tới thăm nhà. Có
lẽ đó chỉ là một lời xã giao thông thường, nhưng với tôi, lời mời ấy lại mở ra
một hy vọng mới. Qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi, tôi biết cô đang là giáo viên
dạy tại một trường cấp hai ở xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh. Thời ấy Đông Anh là
huyện ngoại thành Hà Nội tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Phú và nơi cô công tác nằm
không xa xã Phù Lỗ của huyện Sóc Sơn. Những thông tin tưởng chừng đơn giản ấy
sau này tôi vẫn nhớ rất rõ, bởi đó là những điều đầu tiên tôi biết về người con
gái sẽ gắn bó với cuộc đời mình.
Vài tuần sau, thông qua những người bạn chung đóng vai
trò “cầu nối”, tôi quyết định bắt đầu cuộc chinh phục của mình. Nói là chinh
phục nhưng thực ra tôi vốn là người khá nhút nhát trong chuyện tình cảm. Để có
đủ tự tin đến nhà cô lần đầu tiên, tôi phải nhờ người bạn thân là Duy Cường đi
cùng làm “quân sư” và cũng là người hỗ trợ tinh thần.
Tối hôm ấy, trước khi lên đường, tôi chuẩn bị rất kỹ.
Bây giờ nhớ lại vẫn thấy buồn cười. Tôi đã xây dựng sẵn trong đầu cả một kịch
bản chi tiết cho cuộc gặp. Gặp mẹ cô thì sẽ nói gì, gặp anh trai cô sẽ hỏi
chuyện gì, gặp em cô sẽ mở đầu ra sao. Ngay cả thứ tự các câu nói tôi cũng tính
toán trước. Tôi vốn quen với công việc kỹ thuật, làm gì cũng thích có trình tự
hợp lý, nên ngay cả việc đi gặp bạn gái tương lai cũng được chuẩn bị chẳng khác
nào một nhiệm vụ quan trọng.
Cuộc gặp đầu tiên diễn ra thuận lợi hơn tôi tưởng. Gia
đình cô tiếp đón thân mật, còn cô thì vẫn giữ vẻ điềm đạm như lần đầu tôi gặp.
Tôi chỉ ở lại khoảng nửa giờ đồng hồ rồi chủ động xin phép ra về, mặc dù câu
chuyện lúc đó mới bắt đầu trở nên cởi mở. Tôi nghĩ rằng không nên vội vàng. Đôi
khi biết dừng đúng lúc lại khiến người khác có thiện cảm hơn là cố kéo dài cuộc
gặp.
Từ đó, mọi việc diễn ra gần như theo đúng kế hoạch mà
tôi đã hình dung. Những cuộc gặp gỡ ngày càng thường xuyên hơn. Ban đầu hai
tuần mới gặp một lần, sau đó mỗi tuần một lần, rồi dần dần thành hai lần mỗi
tuần, thường vào những ngày cô được nghỉ dạy. Tình cảm của chúng tôi lớn lên
một cách tự nhiên qua từng cuộc trò chuyện, từng quãng đường đạp xe và từng lần
chia tay lưu luyến.
Những ngày đầu, mỗi người đi một chiếc xe đạp. Chúng
tôi gặp nhau rồi cùng đi dạo trên những con đường quen thuộc của Hà Nội. Sau
này, khi đã thân thiết hơn, tôi bắt đầu chở cô trên chiếc xe đạp của mình. Hình
ảnh cô ngồi phía sau, mái tóc khẽ bay trong gió, đã trở thành một trong những
ký ức đẹp nhất của tuổi trẻ. Đó là thời kỳ vật chất còn nhiều thiếu thốn, nhưng
niềm vui lại vô cùng giản dị. Chỉ cần được gặp nhau, được cùng đi trên một đoạn
đường cũng đủ khiến cả hai thấy hạnh phúc.
Khi tình cảm đã trở nên sâu đậm hơn, tôi đưa cô về nhà
giới thiệu với bố mẹ. Gia đình tôi đón nhận cô rất chân tình. Bố mẹ tôi vốn coi
trọng sự nền nếp, lễ phép và hiền lành. Những phẩm chất ấy cô đều có. Tôi cảm
nhận được sự hài lòng trong ánh mắt của bố mẹ và điều đó khiến tôi càng thêm
tin tưởng vào lựa chọn của mình.
Có một kỷ niệm mà đến nay tôi vẫn nhớ như in. Hôm ấy,
sau khi đưa cô từ nhà tôi trở về Hàng Vôi, chúng tôi đi ngang qua quảng trường
trước Ngân hàng Nhà nước trên phố Lý Thái Tổ. Không có hoa, không có quà, cũng
chẳng có khung cảnh lãng mạn như trong phim ảnh. Tôi chỉ nói một câu rất thực
tế, đúng với tính cách của mình:
“Anh tìm hiểu em là để tiến tới hôn nhân.”
Đó có thể xem là lời cầu hôn giản dị nhất trên đời.
Nhưng vào thời điểm ấy, tôi biết rằng cả hai chúng tôi đều đã hiểu tình cảm của
nhau. Chúng tôi không còn ở tuổi mộng mơ để nói những lời hoa mỹ. Điều quan
trọng nhất là sự chân thành và mong muốn được cùng nhau xây dựng tương lai. Cô
không trả lời ngay, chỉ lặng im mỉm cười. Chính sự im lặng ấy lại là câu trả
lời rõ ràng nhất.
Thế nhưng, khi tình yêu vừa chớm nở và đang phát triển
tốt đẹp thì một thử thách bất ngờ xuất hiện. Chỉ hơn hai tháng sau khi chính
thức qua lại, tôi được cơ quan cử sang Liên Xô công tác và học tập. Đối với một
thanh niên thời đó, được đi nước ngoài là một cơ hội lớn. Nhưng đối với những
người đang yêu nhau, đó cũng là một cuộc chia xa đầy lưu luyến.
Những ngày chuẩn bị lên đường, tôi tất bật hoàn thành
các thủ tục cần thiết. Thời ấy điều kiện còn khó khăn nên phần lớn quần áo,
va-li và nhiều vật dụng khác đều được cơ quan cho mượn. Dù không phải trực tiếp
chuẩn bị nhiều, cô vẫn luôn quan tâm và lo lắng cho tôi.
Một hôm, khi tôi đang sắp xếp hành lý vào chiếc va-li
để chuẩn bị cho chuyến đi dài ngày, cô đến thăm. Sau một lúc trò chuyện, cô lấy
từ trong túi ra một chiếc nhẫn nhỏ rồi đưa cho tôi. Đó là chiếc nhẫn vàng có
gắn viên đá đỏ chỉ lớn bằng hạt đậu xanh.
Cô nhẹ nhàng nói:
– Anh mang theo để phòng thân.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ cảm giác xúc động lúc
ấy. Đó không phải giá trị vật chất của chiếc nhẫn mà là tấm lòng của người con
gái dành cho mình. Nhưng bản tính thật thà và có phần cứng nhắc khiến tôi từ
chối. Tôi nói rằng Nhà nước đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ, không cần phải lo
chuyện phòng thân. Rồi tôi nhất quyết không nhận món quà ấy.
Nhiều năm sau nhớ lại, tôi vẫn
thấy mình khi đó quá ngây ngô. Có lẽ điều cô muốn gửi gắm không phải là giá trị
sử dụng của chiếc nhẫn mà là một kỷ vật của tình yêu.
Sang Liên Xô, tôi liên tục di chuyển giữa nhiều địa
điểm học tập và công tác khác nhau. Dù vậy, việc đầu tiên tôi làm mỗi tuần là
viết thư về cho cô. Trong những năm tháng chưa có điện thoại di động hay
internet, thư từ là sợi dây duy nhất nối liền hai người đang ở cách nhau hàng
nghìn kilômét. Mỗi lá thư nhận được đều mang lại niềm vui khó tả.
Trong một lá thư gửi về, tôi đã viết những dòng chân
thành nhất của tuổi trẻ: “Giây phút yên tĩnh này anh muốn dành cho em những
dòng chữ yêu thương nhất. Thật khó nói nhưng chắc em cũng hiểu ra. Anh đã yêu
em từ cái buổi gặp gỡ đầu tiên.”
Nhìn lại quãng đời đã qua, tôi vẫn thường nghĩ rằng
những năm tháng đầu tiên của cuộc sống gia đình là khoảng thời gian vừa vất vả
nhất, vừa đáng nhớ nhất. Khi ấy, mọi thứ đều thiếu thốn, đồng lương cán bộ viên
chức chẳng đáng là bao, phương tiện đi lại chỉ có chiếc xe đạp cũ kỹ, nhà cửa
chật chội, sinh hoạt chung với đại gia đình. Thế nhưng, chính trong những ngày
gian khó ấy, vợ chồng trẻ lại cảm nhận rõ nhất sự gắn bó, sẻ chia và niềm vui
giản dị của cuộc sống.
Sau ngày cưới, chúng tôi bắt đầu cuộc sống riêng nhưng
thực ra cũng chưa hoàn toàn là một gia đình độc lập. Cả nhà vẫn sinh hoạt chung
dưới một mái nhà với Mẹ và các anh em. Khi ấy, gia đình tôi gồm vợ chồng anh
Thắng, vợ chồng Điền và vợ chồng tôi. Người đông, nhà không rộng, mọi sinh hoạt
đều phải sắp xếp sao cho thuận tiện nhất. Dù vậy, không khí gia đình lúc nào
cũng đầm ấm.
Những ngày làm việc của chúng tôi bắt đầu từ rất sớm.
Quãng đường từ nhà sang trường của vợ tôi khá xa nên việc đi lại hàng ngày
không hề đơn giản. Thời ấy chưa có xe máy, càng không có những phương tiện
thuận tiện như bây giờ. Mỗi sáng, khi trời còn tối mờ, khoảng bốn hoặc năm giờ,
tôi đã phải dậy chuẩn bị.
Tiếng gà gáy còn vang đâu đó trong những ngõ nhỏ. Phố
phường vẫn còn yên tĩnh, trên đường thưa thớt người qua lại. Tôi dắt chiếc xe
đạp tòng tọc ra khỏi cổng. Vợ ngồi sau xe, quàng chiếc khăn len mỏng chống
sương lạnh buổi sáng. Hai vợ chồng lặng lẽ đạp xe lên bến Nứa để đón chuyến xe
sang Đông Anh.
Đưa vợ lên xe xong, tôi quay về nhà. Mặt trời khi ấy
mới bắt đầu nhô lên sau những mái nhà thấp. Việc tiếp theo là chuẩn bị ăn sáng
rồi đi làm cho kịp giờ cơ quan. May mắn cho chúng tôi là có Mẹ luôn lo toan
phần lớn công việc nội trợ. Bữa sáng tuy đạm bạc nhưng lúc nào cũng sẵn sàng.
Nhờ vậy mà những đứa con đã trưởng thành như chúng tôi vẫn có thể yên tâm đi
làm.
Buổi chiều, sau một ngày đứng lớp, vợ tôi lại tự bắt
xe buýt từ Đông Anh về nội thành. Xe buýt thời đó thường ít chuyến, nên trên xe
đông đúc, chật chội và xe chạy không đúng giờ như bây giờ. Thế nhưng vừa về đến
nhà, vợ lại tất bật cùng Mẹ chuẩn bị cơm nước cho cả gia đình.
Nhà đông người nên việc bếp núc không hề nhẹ nhàng.
Sau bữa cơm tối, khi mọi người đã ăn xong, vợ tôi lại cùng Mẹ thu dọn bát đũa,
rửa ráy, quét tước. Công việc kéo dài cho đến khi trời tối hẳn. Mẹ tôi là người
chịu khó và luôn chân luôn tay. Nhìn mẹ làm việc không ngơi nghỉ, cô con dâu
mới về nhà chồng cũng chẳng dám ngồi không. Thành ra ngày nào cũng vậy, hết
việc này đến việc khác.
Dẫu bận rộn là thế nhưng cuộc sống vẫn có những khoảng
thời gian thư thả hiếm hoi. Vợ tôi là giáo viên nên phần lớn giáo án đã được
chuẩn bị từ trước, không phải tối nào cũng thức khuya soạn bài. Vì vậy, sau khi
hoàn thành công việc gia đình, khoảng hơn bảy giờ tối là có thể ngồi nghỉ ngơi.
Trong nhà có chiếc ti vi đen trắng được xem như tài
sản quý giá. Cả gia đình thường quây quần xem chương trình thời sự hoặc một bộ
phim truyện phát buổi tối. Thời ấy chương trình truyền hình không nhiều, phát
sóng cũng không kéo dài. Khi màn hình hiện dòng chữ kết thúc chương trình, mọi
người lần lượt đi ngủ. Một ngày cứ thế khép lại trong sự bình yên giản dị.
Cuộc sống đều đặn trôi qua cho đến khi chúng tôi bắt
đầu nghĩ đến chuyện sinh con. Đây là quyết định rất quan trọng đối với bất cứ
gia đình trẻ nào, đặc biệt trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn lúc bấy
giờ.
Ngày ấy, chế độ dành cho phụ nữ làm việc Nhà nước được
nghỉ thai sản ba tháng. Riêng ngành giáo dục lại có kỳ nghỉ hè khoảng ba tháng.
Sau nhiều lần tính toán, chúng tôi nhận ra rằng nếu sinh con vào thời điểm
thích hợp thì có thể kết hợp cả thời gian nghỉ đẻ và nghỉ hè. Như vậy, đứa trẻ
sẽ được mẹ chăm sóc liên tục khoảng sáu tháng trước khi phải gửi người khác
trông nom.
Đó là một phép tính rất thực tế của những người trẻ
đang cố gắng thu vén cho cuộc sống gia đình. Vì thế, chúng tôi dự định sinh con
vào khoảng tháng Ba. Bây giờ nghĩ lại thấy thật buồn cười, nhưng khi ấy chúng
tôi coi đó là một kế hoạch nghiêm túc.
Rồi mọi chuyện diễn ra đúng như dự tính. Con trai đầu
lòng của chúng tôi chào đời ngày 27 tháng 3 năm 1983, tức là mười ba tháng hai
mươi ngày sau ngày cưới. Tối hôm trước, khoảng mười giờ, vợ tôi bắt đầu thấy
đau bụng. Linh cảm cho biết giờ phút mong đợi đã đến, tôi lập tức đưa vợ tới
Bệnh viện C trên phố Tràng Thi. May mắn là bệnh viện chỉ cách nhà chừng tám
trăm mét. Đến nơi, nhân viên y tế tiếp nhận sản phụ vào bên trong. Tôi không
thể làm gì hơn ngoài việc quay về nhà chờ đợi. Đó là một đêm dài và khó ngủ.
Trong lòng vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa háo hức.
Sáng hôm sau, từ rất sớm tôi đã có mặt ở bệnh viện.
Khi ấy vẫn chưa có dấu hiệu gì rõ ràng. Vợ tôi nằm chờ trong phòng sản, còn tôi
ngồi trên chiếc ghế băng ngoài hành lang. Tôi mua một chiếc bánh giò nóng mang
vào. Vợ nói vẫn đau nhưng bác sĩ bảo phải tiếp tục chờ.
Nhìn khuôn mặt mệt mỏi của vợ, tôi không khỏi thương
cảm. Có lúc cô ấy tựa đầu vào vai tôi nghỉ một lát. Rồi đột nhiên nhớ ra phải
báo tin cho mẹ vợ nên vội vàng đứng dậy. Tôi lại tất tả về nhà đón bà ngoại
tương lai tới bệnh viện.
Thật vừa khéo. Khi hai mẹ con chúng tôi tới nơi thì
bác sĩ thông báo sản phụ đã được đưa lên bàn sinh. Chỉ ít lâu sau, tiếng khóc
đầu tiên của đứa trẻ vang lên. Khoảnh khắc ấy, mọi lo lắng đều tan biến. Tôi
chính thức trở thành một người cha.
Từ đó, cuộc sống gia đình bước sang một giai đoạn mới.
Có thêm một đứa con nghĩa là có thêm niềm vui nhưng cũng có thêm vô số trách
nhiệm. Những đêm thức trắng vì con khóc, những lần bế con đi khám bệnh, những
lúc phải cân nhắc từng đồng chi tiêu để mua sữa, mua quần áo cho con trở thành
chuyện thường ngày.
Nhưng đúng như người xưa vẫn nói: “Trời sinh voi, trời
sinh cỏ”. Những khó khăn ban đầu rồi cũng dần trở thành quen thuộc. Vợ chồng
trẻ học cách thích nghi, học cách thu xếp và học cách hy sinh cho con cái. Năm
tháng trôi qua, cuộc sống dần ổn định hơn. Khi điều kiện kinh tế bắt đầu khá
lên thì đôi khi chúng tôi lại nhớ những ngày đầu tất bật ấy. Đó là quãng thời
gian tuy thiếu thốn nhưng chan chứa tình cảm gia đình. Sau này, khi bà ngoại
nghỉ hẳn việc buôn bán ngoài chợ, bà thường động viên vợ chồng tôi sinh thêm
con. Bà nói một câu rất giản dị:
“Cứ đẻ đi, mẹ trông cho.”
Lời hứa ấy không phải nói cho vui. Năm 1994, cậu con
trai thứ hai ra đời. Và đúng như lời đã nói, bà ngoại dành hơn ba năm liền để
chăm sóc cháu, giúp vợ chồng tôi yên tâm công tác.
Nhờ sự giúp đỡ của hai bên gia đình, nhờ tình thương
của ông bà, các con tôi cứ thế lớn lên từng ngày. Từ những đứa trẻ bi bô tập nói,
chúng trưởng thành, đi học, đi làm rồi xây dựng cuộc sống riêng của mình.
Đến hôm nay, nhìn lại chặng đường
đã qua, tôi thấy gia đình mình cũng chẳng có điều gì đặc biệt. Mọi chuyện diễn
ra bình dị như bao gia đình khác. Có niềm vui, có khó khăn, có những ngày thiếu
thốn và những ngày đủ đầy. Nhưng chính những điều bình thường ấy đã làm nên giá
trị của cuộc sống.
Và có lẽ, điều hạnh phúc nhất đối với những người làm
cha mẹ là sau bao năm tháng, vẫn còn những bữa cơm có đủ bốn thành viên cùng
ngồi bên nhau, nhắc lại những câu chuyện cũ và mỉm cười về một thời đã xa.



Nhận xét
Đăng nhận xét