Đi Tây lần đầu

 

Tháng Ba năm 1980, tôi có một cơ hội mà thời ấy được xem là niềm mơ ước của rất nhiều người: được tham gia một đoàn cán bộ kỹ thuật sang Liên Xô thực tập về sửa chữa ô tô. Nhiệm vụ chính của đoàn là học tập và tiếp cận kỹ thuật đối với hai dòng xe nổi tiếng của Liên Xô lúc bấy giờ là GAZ và ZIL. Thế nhưng, khi nhớ lại chuyến đi sau nhiều chục năm, những bài học chuyên môn không phải là điều đọng lại sâu sắc nhất trong ký ức tôi. Điều còn lưu giữ rõ nét hơn cả lại là những câu chuyện về cuộc sống, sinh hoạt và những cảm nhận đầu tiên khi đặt chân đến một vùng đất mà chúng tôi từng coi như một thế giới trong mơ.


Những năm ấy, Liên Xô có một vị trí đặc biệt trong tâm thức của người dân miền Bắc. Đối với nhiều người, đó là đất nước của những người anh em, là biểu tượng của khoa học, kỹ thuật và cuộc sống văn minh. Trên đường phố Hà Nội khi ấy, nếu bắt gặp một người nước ngoài, gần như chắc chắn đó là người Liên Xô. Chúng tôi hầu như không biết nhiều về các quốc gia khác. Vì vậy, được cử đi Liên Xô chẳng khác nào được bước vào một chân trời hoàn toàn mới. Trong suy nghĩ của không ít người, đó giống như được lên thiên đường sớm hơn người khác một bước.

Công tác chuẩn bị cho chuyến đi cũng để lại nhiều kỷ niệm thú vị. Trước ngày lên đường, chúng tôi được cơ quan cấp phát, hay đúng hơn là “cho mượn”, đủ loại vật dụng cần thiết: quần áo, giày dép, áo khoác mùa đông, mũ len, va-li và nhiều thứ khác. Tất cả đều là tài sản của Nhà nước, dùng xong phải hoàn trả nguyên vẹn để chuyển cho các đoàn đi sau. Nếu làm hỏng hoặc thất lạc thì phải bồi thường. Vì là đồ dùng chung nên mẫu mã rất đơn giản và gần như chỉ có một màu duy nhất: màu đen. Từ bộ com-lê, áo khoác, đôi giày cho đến chiếc va-li đều đen tuyền. Nhìn cả đoàn đứng cạnh nhau ở sân bay, ai nấy đều giống hệt nhau như một đàn quạ đen đang chuẩn bị di cư.

Trong khi cơ quan lo trang bị hành lý chính thức, gia đình và người thân lại quan tâm đến một vấn đề khác. Ai cũng căn dặn phải mang theo những mặt hàng đang được ưa chuộng như đồng hồ Nhật Bản, quần bò, áo phông, đồ lót phụ nữ hay một số vật dụng nhỏ gọn nhưng có giá trị. Người ta tính toán rất kỹ: mang thứ gì sang bán được giá, rồi dùng số tiền ấy mua hàng hóa bên Liên Xô đem về nước để có lợi nhất. Đó là cách nhiều người cải thiện cuộc sống trong thời kỳ còn nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi ngại nhất lại là chuyện họ hàng và bạn bè biết tin. Chỉ cần lộ ra việc sắp sang Liên Xô là y như rằng sẽ có người tìm đến nhờ mang hộ món hàng này, gửi giúp món quà kia cho người thân đang học tập hoặc làm việc bên đó. Vì thế, trước ngày lên đường, nhiều người trong đoàn cố gắng giữ kín thông tin như một bí mật quân sự. Chuyến “đi Tây” đầu tiên của tôi bắt đầu trong tâm trạng vừa háo hức, vừa hồi hộp như thế.

Tôi may mắn không vướng vào ba cái chuyện “lặt vặt” mà nhiều người đi trước vẫn thường nhắc nhở. Thậm chí, trước ngày lên đường, người yêu còn lặng lẽ trao cho tôi một chiếc nhẫn nhỏ xinh và dặn mang theo để phòng khi cần đến. Đó là món quà quý giá nhất mà cô ấy có thể dành cho tôi lúc bấy giờ. Nhưng tuổi trẻ vốn nhiều suy nghĩ đơn giản, tôi sợ mang theo rồi lỡ mất thì có lỗi với người tặng, nên nhất quyết không nhận. Đến giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy đó là một kỷ niệm vừa ngây ngô vừa đáng nhớ của những năm tháng xa nhà nhưng là một quyết định đúng đắn.

Ngày chuẩn bị lên đường sang Liên Xô học tập, hành trang của tôi chẳng có gì đáng giá. Chiếc va li cũ kỹ chứa đầy những thứ đi mượn của bạn bè, người thân. Người cho chiếc áo bông, người cho đôi giày, người cho cái khăn len. Những món đồ ấy tuy đơn sơ nhưng chứa đựng biết bao tình cảm. Bây giờ nhìn lại, tôi mới hiểu rằng mình đã lên đường bằng sự đùm bọc của rất nhiều người.

Thời đó, bất cứ ai được cử đi công tác, học tập hay thực tập ở nước ngoài đều phải tính toán rất kỹ về hiệu quả kinh tế của chuyến đi. Đồng lương trong nước còn eo hẹp, hàng hóa khan hiếm, nên chuyện mang được món đồ gì về bán lấy lời hay để sử dụng lâu dài là mối quan tâm hàng đầu. Trước khi lên đường, tôi đã được nghe đủ loại kinh nghiệm truyền lại từ những người đi trước. Có người còn cẩn thận ghi chép thành cả một cuốn sổ tay, liệt kê từng mặt hàng cần mua, từ nhãn hiệu, giá cả cho đến khả năng tiêu thụ khi mang về Việt Nam.

Tôi vốn không phải người có máu buôn bán, nhưng nghe mọi người phân tích mãi cũng thấy xuôi tai. Ai cũng bảo đã đi Tây thì nhất định phải cố mang về thứ gì đó có giá trị. Không dùng thì bán, bán được thì có thêm ít tiền cải thiện cuộc sống. Ngay cả Bố tôi, một người rất ít khi quan tâm đến chuyện mua bán, cũng dặn dò trước lúc đi:

– Nếu có điều kiện thì mua lấy một cái quạt tai voi mang về mà dùng.

Lời dặn của Bố khiến tôi ghi nhớ mãi. Nó vừa thể hiện sự quan tâm của Người dành cho tôi, vừa phản ánh hoàn cảnh thiếu thốn của thời ấy. Một chiếc quạt điện cũng là tài sản đáng giá đối với nhiều gia đình.

Hôm ra sân bay Nội Bài, thời tiết khá dễ chịu. Trời còn mát nên tôi tranh thủ mặc thêm vài lớp quần áo lên người để giảm bớt trọng lượng hành lý. Chuyện cân nặng hành lý thời ấy là một vấn đề lớn đối với những người đi học tập, công tác ở nước ngoài. Ai cũng cố gắng tận dụng từng ki-lô-gam được phép mang theo. Thế nhưng, chỉ riêng việc từ nhà ra đến sân bay đã đủ khiến tôi mệt nhoài. Đường sá chưa thuận tiện như bây giờ, phương tiện đi lại còn hạn chế. Mọi người đưa tiễn đông vui, nhưng trong lòng tôi vừa háo hức vừa lo lắng. Đó là lần đầu tiên tôi đi xa đến như vậy, lại sang một đất nước cách quê hương hàng nghìn cây số.

Đến sân bay, cả đoàn được tập trung trong một nhà chứa máy bay quân sự rộng lớn. Chúng tôi ngồi chờ hết giờ này sang giờ khác. Ban đầu ai cũng chuyện trò rôm rả, nhưng càng về sau càng sốt ruột. Cuối cùng, sau nửa ngày chờ đợi, thông báo được đưa ra: chuyến bay bị hoãn vì máy bay chưa sang kịp. Cả đoàn lại lục tục kéo nhau ra về.

Cảm giác lúc ấy thật khó tả. Khi lên đường có biết bao người thân, bạn bè đưa tiễn, ai cũng nghĩ rằng chúng tôi đã chính thức xuất ngoại. Thế mà chỉ vài giờ sau lại lặng lẽ quay về nhà. Con đường trở về bỗng dài hơn lúc đi rất nhiều. Tôi nhớ mình đã cảm thấy hụt hẫng và chán nản vô cùng. Bao nhiêu háo hức bỗng dưng bị dội một gáo nước lạnh.

May mắn là sáng hôm sau chuyến đi được thực hiện đúng kế hoạch. Lần này tôi lặng lẽ ra sân bay, không còn cảnh đông người đưa tiễn như hôm trước nữa. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại khiến tôi cảm nhận rõ hơn rằng mình sắp bước sang một chặng đường hoàn toàn mới của cuộc đời.

Khi chiếc máy bay IL-62M của Liên Xô cất cánh, tôi không khỏi hồi hộp. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay phản lực đường dài. Đối với một chàng thanh niên Việt Nam thời ấy, được ngồi trên một chiếc máy bay hiện đại đã là điều vô cùng sang trọng. Các nữ tiếp viên người nước ngoài với nụ cười thân thiện và hương nước hoa dịu nhẹ khiến chúng tôi không khỏi tò mò. Bữa ăn trên máy bay cũng toàn những món ăn phương Tây mà trước đó tôi chưa từng được thưởng thức. Mọi thứ đều mới mẻ và hấp dẫn.

Điểm dừng chân đầu tiên là sân bay Bombay của Ấn Độ, nay là Mumbai. Máy bay hạ cánh vào lúc đêm khuya. Hành khách được đưa vào khu vực quá cảnh để nghỉ ngơi trong khi máy bay tiếp nhiên liệu. Từ cửa kính nhìn ra ngoài sân đỗ, tôi mới nhận thấy chiếc IL-62M mà mình đang đi hóa ra không hề lớn như tưởng tượng. Bên cạnh những chiếc Airbus và Boeing khổng lồ của các hãng hàng không quốc tế, nó trông nhỏ bé như một chú chó con đứng cạnh những con voi khổng lồ.

Khoảng hai giờ sau, trời bắt đầu hửng sáng. Chúng tôi tiếp tục lên máy bay để thực hiện chặng bay tiếp theo. Khi máy bay lăn bánh trên đường băng, tôi nhìn thấy thấp thoáng bên ngoài những cánh đồng lúa và những nhóm người đang ngồi xổm trên bờ ruộng. Hình ảnh ấy bất chợt làm tôi nhớ đến những cánh đồng quê hương Việt Nam. Dù đang ở một đất nước xa lạ, tôi vẫn thấy có điều gì đó rất gần gũi.

Thời điểm đó, chiến sự ở Afghanistan vẫn còn diễn biến phức tạp. Vì lý do an toàn, máy bay phải thay đổi lộ trình và bay vòng tránh khu vực chiến sự. Chuyến hành trình vì thế kéo dài hơn dự kiến. Sau hơn mười giờ bay liên tục, chúng tôi mới tới sân bay Sheremetyevo ở Moskva vào lúc nửa đêm.

Khi cửa máy bay mở ra, luồng không khí lạnh giá tràn vào. Bảng điện tử thông báo nhiệt độ ngoài trời là âm mười hai độ C. Nghe con số ấy ai cũng thấy ghê gớm, nhưng thực tế lại không đáng sợ như tưởng tượng. Có lẽ vì lần đầu trải nghiệm mùa đông xứ lạnh nên tôi chỉ cảm thấy như có luồng hơi mát từ ngăn đá tủ lạnh phả vào mặt. Cái lạnh ấy khác hẳn với những đợt rét buốt ở miền Bắc Việt Nam.

Xe của Đại sứ quán đón đoàn về nhà khách nghỉ tạm trước khi tiếp tục hành trình. Chúng tôi sẽ phải chờ đến tối mới có tàu hỏa đi Voronezh. Gần một ngày ở Moskva trôi qua khá chậm chạp. Không ai dám đi xa vì sợ lạc đường. Hơn nữa, lúc đó chúng tôi hầu như chưa có đồng rúp nào trong túi.

Thế nhưng chính trong hoàn cảnh ấy lại xảy ra một chuyện khá thú vị. Một người bạn thân nhờ mua hộ một cái bàn là nên tôi luôn để ý khi có điều kiện. Không hiểu bằng cách nào, tôi mua được ngay một chiếc bàn là ấy với giá sáu rúp rưỡi. Hình như có một cán bộ sứ quán muốn bán lại, còn một người trong đoàn cho tôi mượn tiền. Đó có lẽ là món đồ đầu tiên tôi mua bằng đồng tiền rúp.

Chiều tối, xe lại đưa chúng tôi ra ga Kazansky. Đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy một nhà ga lớn đến như vậy. Những đoàn tàu dài nối tiếp nhau nằm trên nhiều đường ray, người đi lại đông đúc nhưng trật tự. Chúng tôi lên tàu đi Voronezh trong tâm trạng vừa mệt mỏi vừa háo hức.

Sáng hôm sau, thành phố Voronezh hiện ra trước mắt. Sau hành trình dài từ Hà Nội qua Bombay, Moskva rồi tiếp tục bằng tàu hỏa, cuối cùng tôi cũng đặt chân đến nơi sẽ gắn bó với mình trong nhiều tuần lễ học tập. Chúng tôi được bố trí ở khách sạn Rossiya trên phố Teatralnaya, một khách sạn khá khang trang nằm ngay trung tâm thành phố. Từ cửa sổ phòng nhìn xuống những con phố phủ đầy tuyết trắng, tôi hiểu rằng cuộc xa quê ở nơi đất nước Liên Xô đã thực sự bắt đầu.

Những ngày học tập tại Voronezh bắt đầu ngay sau khi chúng tôi ổn định nơi ăn ở. Khoảng thời gian ấy trùng với thời điểm mùa xuân bắt đầu gõ cửa nước Nga. Sau nhiều tháng chìm trong giá lạnh, tuyết trên đường phố dần tan chảy, tạo thành những mảng nước lẫn bùn nhão nhoét. Đi lại không còn dễ dàng như lúc mặt đất đóng băng cứng, bởi mỗi bước chân đều phải lội qua lớp tuyết tan lép nhép dưới chân. Thế nhưng, chính thời điểm đó lại là lúc thiên nhiên đẹp nhất trong năm.

Mỗi sáng thức dậy nhìn ra cửa sổ, tôi đều cảm nhận được sự thay đổi kỳ diệu của cây cối. Những hàng cây vốn khẳng khiu, trơ trụi suốt mùa đông bỗng bắt đầu phủ lên mình một màu xanh non mơn mởn. Sự thay đổi diễn ra nhanh đến mức có thể nhận thấy chỉ sau một đêm. Hôm trước, trên cành mới chỉ lác đác vài chiếc lá bé xíu nhú ra từ những mắt cây khô cằn. Vậy mà hôm sau, cả hàng cây đã như được khoác lên một lớp áo mới. Chim chóc từ đâu kéo về ríu rít trên các cành cây, báo hiệu mùa đông dài giá rét đã thực sự lùi xa.

Voronezh là một thành phố công nghiệp lớn với dân số gần hai triệu người. Dù mang dáng dấp của một trung tâm công nghiệp hiện đại, thành phố vẫn giữ được vẻ thanh bình rất riêng. Con sông Voronezh chảy giữa lòng thành phố như một dải lụa mềm mại. Khi tiết trời ấm lên, băng trên mặt sông bắt đầu tan. Những dòng nước đầu tiên róc rách chảy tạo nên âm thanh dễ chịu, như tiếng thiên nhiên thức giấc sau giấc ngủ dài. Tuy nhiên, nhiều đoạn sông vẫn còn những mảng băng trắng xóa. Thỉnh thoảng nhìn ra xa, tôi vẫn thấy vài người đàn ông Nga khoác áo dày, tay cầm cần câu, chậm rãi đi trên những phần mặt sông còn đóng băng để câu cá. Hình ảnh ấy khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, bởi ở Việt Nam khi đó làm gì có cảnh người ta đi lại trên mặt sông như đi trên mặt đất.

Xung quanh nơi chúng tôi ở có khá nhiều công viên, khu vui chơi và các câu lạc bộ văn hóa. Những ngày nghỉ cuối tuần, sau khi hoàn thành việc học tập, tôi thường đi dạo quanh thành phố để quan sát cuộc sống của người dân địa phương. Từ khách sạn đến Tsum Voronezh – Bách hóa Tổng hợp Trung tâm – chỉ khoảng sáu trăm mét nên đây là nơi tôi lui tới nhiều nhất. Đối với những người từ Việt Nam sang như chúng tôi, cửa hàng bách hóa ấy giống như một thế giới khác. Hàng hóa được bày bán phong phú, từ quần áo, giày dép, đồng hồ cho đến các thiết bị điện tử và đồ gia dụng.

Tuy nhiên, ngắm thì nhiều mà mua được lại chẳng bao nhiêu. Có những món đồ rất đẹp nhưng giá quá cao so với số tiền sinh hoạt ít ỏi chúng tôi được cấp. Cũng có những thứ rất muốn mua để mang về làm quà nhưng lại không có sẵn hàng. Vì thế, phần lớn thời gian tôi chỉ đi dạo, ngắm nghía rồi ra về tay không.

Trong những lần lang thang như vậy, có một kỷ niệm khiến tôi nhớ mãi. Hôm đó là ngày nghỉ, tôi đi bộ khá xa, hết dạo phố lại ghé vào các cửa hàng. Mải mê ngắm nghía nên không để ý thời gian. Đến khi chuẩn bị quay về khách sạn mới chợt nhận ra mình đang rất buồn tiểu. Cố nhớ lại khu vực này có chỗ nào giải quyết nhu cầu cá nhân không, tôi chợt nhớ ra trên phố 25 tháng Mười có một nhà vệ sinh công cộng.

Mừng như bắt được vàng, tôi vội vàng rảo bước đến nơi. Nhà vệ sinh nằm dưới tầng hầm của một tòa nhà lớn, muốn vào phải đi xuống một cầu thang khá dài. Khi tới nơi, tôi thấy cánh cửa đóng kín. Ban đầu nghĩ rằng có người đang sử dụng bên trong nên kiên nhẫn chờ một lúc. Sau đó nhìn kỹ mới thấy tấm biển treo trên cửa thông báo ngày Chủ nhật không phục vụ. Bao nhiêu hy vọng bỗng tan biến.

Không còn cách nào khác, tôi đành quay đầu leo ngược lên cầu thang rồi gần như chạy bộ về khách sạn. Quãng đường hôm ấy bỗng trở nên dài hơn thường lệ rất nhiều. Vừa đi vừa cố gắng nhịn, tôi chỉ sợ không giữ nổi thì sẽ có một kỷ niệm đáng xấu hổ nơi đất khách. May mắn là cuối cùng tôi cũng về tới khách sạn an toàn. Đến tận bây giờ nhớ lại, tôi vẫn còn thấy buồn cười vì sự cố dở khóc dở cười ấy.

Người dân Voronezh khi gặp chúng tôi ngoài đường thường rất thân thiện. Họ biết chúng tôi đến từ Việt Nam nên hay chủ động bắt chuyện. Điều khiến tôi ngạc nhiên là nhiều người tỏ ra quan tâm đặc biệt đến cuộc sống ở Việt Nam. Họ hỏi đủ thứ, từ chuyện điện sinh hoạt, phương tiện đi lại cho đến tình hình chiến sự lúc bấy giờ. Có người chân thành hỏi: “Các anh có điện dùng thường xuyên không?”, “Ở Việt Nam có nhiều ô tô không?”, hay “Trung Quốc lại gây khó khăn cho các anh à?”. Những câu hỏi mộc mạc ấy cho thấy họ thực sự quan tâm đến đất nước nhỏ bé ở phương Đông mà họ chỉ biết qua báo chí và truyền hình.

Không ít lần, sau vài câu chuyện thân mật, những người dân địa phương còn vui vẻ rủ chúng tôi vào hiệu ảnh gần đó để chụp chung một tấm hình kỷ niệm. Những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy không chỉ giúp chúng tôi hiểu thêm về con người nước Nga mà còn để lại trong lòng cảm giác ấm áp về tình hữu nghị giữa những con người đến từ hai đất nước cách xa nhau hàng nghìn cây số. Sau nhiều năm, những ký ức về mùa xuân Voronezh vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí tôi như một khoảng thời gian đẹp đẽ của tuổi trẻ.

Nhân dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4, phía bạn tổ chức một buổi gặp mặt và nói chuyện truyền thống tại Câu lạc bộ Sĩ quan của thành phố. Đây là một hoạt động được chuẩn bị khá chu đáo nhằm giới thiệu với các sĩ quan địa phương về cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới của Việt Nam. Ngay từ sớm, hội trường đã chật kín người. Hàng ghế nào cũng có người ngồi, nhiều sĩ quan còn phải đứng ở phía cuối phòng. Không khí vừa trang trọng vừa háo hức.

Sau lời phát biểu khai mạc của Ban Tổ chức, Trưởng đoàn của chúng tôi được mời lên sân khấu để nói chuyện. Anh vốn là người thẳng thắn, ít khi màu mè trong cách diễn đạt. Đứng trước hội trường đông người, anh kể lại những câu chuyện mà mình từng trải qua bằng giọng mộc mạc, đúng phong cách của một người lính kỹ thuật. Anh nói tiếng Việt, còn bên cạnh là một phiên dịch viên đảm nhận việc chuyển ngữ.

Ngay từ những phút đầu, chúng tôi đã cảm thấy có điều gì đó không bình thường. Trưởng đoàn nói khá dài, nhưng người phiên dịch chỉ dịch lại bằng vài câu ngắn gọn. Nhiều đoạn anh chỉ gật đầu rồi nói lướt qua. Chúng tôi ngồi dưới nghe mà không hiểu anh ta đã chuyển tải nội dung như thế nào.

Đến một đoạn, Trưởng đoàn kể về thời gian công tác ở biên giới. Anh nói đại ý rằng mình là đội trưởng đội sửa chữa kỹ thuật, được điều động lên tuyến đầu làm nhiệm vụ. Trong một lần hiếm hoi, anh được những người lính trực chốt cho phép lên quan sát phía bên kia biên giới. Câu chuyện thực ra rất đơn giản, chỉ là một kỷ niệm nghề nghiệp bình thường.

Thế nhưng lần này, người phiên dịch lại thao thao bất tuyệt. Anh nói liên tục trong nhiều phút liền. Mỗi khi anh vừa dứt một ý, phía dưới hội trường lại vang lên những tiếng xuýt xoa, những tiếng ồ đầy thán phục. Có lúc cả khán phòng còn vỗ tay rào rào. Chúng tôi nhìn nhau đầy ngạc nhiên. Không ai hiểu vì sao một câu chuyện giản dị như vậy lại tạo được hiệu ứng mạnh đến thế.

Khi bài nói chuyện kết thúc, khán giả đồng loạt đứng dậy. Những tràng pháo tay kéo dài không dứt. Nhiều sĩ quan tiến lên phía trước bắt tay Trưởng đoàn với vẻ vô cùng kính phục. Quang cảnh lúc ấy chẳng khác nào sau một buổi hòa nhạc lớn. Chủ và khách lưu luyến trò chuyện khá lâu mới chịu chia tay.

Trên đường trở về khách sạn, cả đoàn râm ran bàn tán. Mọi người đều có chung nhận xét rằng người phiên dịch đã không dịch đúng những gì Trưởng đoàn nói. Có lẽ anh ta đã tự bổ sung thêm rất nhiều chi tiết về các trận đánh biên giới, lấy từ báo chí, đài phát thanh hoặc từ trí tưởng tượng phong phú của mình để câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn. Càng nghĩ, mọi người càng tin rằng đó chính là nguyên nhân khiến hội trường phản ứng nồng nhiệt đến vậy.

Nghe anh em bàn tán mãi, Trưởng đoàn bắt đầu khó chịu. Hôm sau anh tìm gặp người phiên dịch để chất vấn. Sau khi nghe hết lời phàn nàn, anh phiên dịch chỉ cười rồi thản nhiên đáp:

– Chuyện của ông chán lắm! Nếu tôi dịch nguyên văn như thế thì hôm qua chẳng ai vỗ tay đâu.

Câu trả lời thẳng thừng ấy khiến Trưởng đoàn sững người. Anh muốn phản bác nhưng rồi không tìm được lý lẽ nào thích hợp. Cuối cùng chỉ biết im lặng.

Đầu tháng Năm, hành trình của chúng tôi tiếp tục. Cả đoàn lên tàu vào buổi tối, hướng về phía Tây. Con tàu lặng lẽ băng qua những cánh đồng và khu rừng rộng lớn. Trưa hôm sau, tàu đến thủ đô Kiev để chuyển sang tuyến khác. Chúng tôi có vài giờ tự do nên tranh thủ đi dạo phố, ngắm nhìn những đại lộ rộng rãi và nhịp sống yên bình của thành phố. Đến gần nửa đêm, cả đoàn lại lên tàu. Sau một đêm dài lắc lư theo nhịp bánh sắt, khoảng sáu giờ sáng hôm sau chúng tôi tới thành phố Rovno. Tại đây, đoàn được bố trí nghỉ tại khách sạn Mir – Hòa Bình, một trong những khách sạn đẹp và sang trọng nhất thành phố lúc bấy giờ.

Những ngày học tập ở thành phố Rovno (nay là Rivne, Ukraina) để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Đó không chỉ là những giờ học trên lớp hay trong các phân xưởng, mà còn là những trải nghiệm đời thường, những cuộc gặp gỡ bất ngờ và cả những câu chuyện khiến tôi nhớ mãi về sau.

Rovno khi ấy là một thành phố không lớn. So với Voronezh thì nơi đây khá yên bình và thưa vắng. Những dãy phố không quá đông đúc, xe cộ đi lại cũng ít hơn nhiều. Điều gây ấn tượng nhất với chúng tôi là hệ thống công viên và vườn cây xanh trải rộng khắp thành phố. Cây cối được chăm sóc cẩn thận, những thảm cỏ xanh mướt và những hàng hoa đủ màu sắc tạo nên một không gian trong lành, dễ chịu. Vào những ngày nghỉ cuối tuần hoặc sau giờ học, chúng tôi thường rủ nhau đi bộ dạo quanh thành phố. Vừa đi ngắm cảnh, vừa trò chuyện về quê hương, gia đình và chuyện học hành, những cuộc dạo chơi ấy giúp vơi đi phần nào nỗi nhớ nhà của những ngày xa Tổ quốc.

Trong những lần lang thang đó, chúng tôi không ít lần gặp những tình huống bất ngờ. Có lần, khi đang đi qua một công viên vào buổi chiều, chúng tôi được một nhóm thanh niên địa phương gọi lại làm quen. Họ tỏ ra rất thân thiện và nhiệt tình mời chúng tôi cùng uống rượu. Điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là rượu được họ giấu trong người. Mỗi khi rót xong một vòng, chai rượu lại nhanh chóng được cất đi như thể đó là một vật rất quý giá.

Địa điểm nhậu cũng hết sức đặc biệt: ngay giữa một vườn hoa công cộng. Chẳng có bàn ghế hay thức ăn thịnh soạn gì. Món nhắm duy nhất là một tảng mỡ lợn hun khói đã được treo gác bếp từ rất lâu. Sau mỗi chén rượu, họ cắt một lát mỡ mỏng để ăn kèm. Đối với những chàng trai Việt Nam vốn quen với các món ăn nóng sốt và nhiều gia vị, thứ mồi ấy thực sự khó thưởng thức. Rượu thì mạnh đến mức uống vào cảm thấy nóng rát từ cổ họng xuống tận dạ dày. Dù vậy, vì phép lịch sự, chúng tôi vẫn cố nâng vài chén cùng họ. May mắn là sau một lúc trò chuyện, chúng tôi tìm được lý do thích hợp để xin phép ra về. Khi đi xa khỏi đám thanh niên ấy, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Một kỷ niệm khác đến nay nhớ lại vẫn thấy vừa buồn cười vừa tiếc nuối. Hôm đó, tôi và một người bạn cùng lớp đang đi dạo thì gặp mấy chàng trai trẻ có dáng dấp sinh viên. Sau vài câu chuyện xã giao, họ nhiệt tình mời chúng tôi đến chỗ ở gần đó. Vì thấy họ có vẻ chân thành nên chúng tôi đồng ý.

Căn hộ nằm trong một khu nhà tập thể không xa trung tâm thành phố. Khi bước vào phòng, chúng tôi bất ngờ thấy có hai nữ sinh viên trẻ tuổi đang ngồi đợi sẵn. Cả hai đều rất xinh đẹp và tươi tắn. Rào cản ngôn ngữ khiến cuộc trò chuyện diễn ra khá khó khăn. Chúng tôi phải dùng đủ mọi cách: nói chậm, ra dấu bằng tay, thậm chí vẽ vời minh họa mới hiểu được nhau đôi chút. Dẫu vậy, không khí vẫn rất vui vẻ và thân thiện.

Khoảng nửa giờ sau, khi định xin phép ra về, chúng tôi thấy mấy chàng trai chủ nhà ra hiệu ngồi lại. Họ liên tục nói bằng tiếng Nga đại ý rằng: “Ở lại ăn đã, ở lại ăn đã”. Rồi cả nhóm con trai lần lượt bước ra ngoài và đóng cửa lại. Chỉ còn hai chúng tôi và hai cô gái trong phòng.

Một lúc sau, các cô mang ra một món ăn truyền thống của Ukraina. Đó là khoai tây nghiền trộn với phô mai, bên trên phủ một lớp váng sữa thơm ngậy. Các cô vừa cười vừa khuyến khích chúng tôi thưởng thức. Vì phép lịch sự, chúng tôi cố gắng ăn dù thú thực món ăn ấy không thật sự hợp khẩu vị. Trong khi đó, các cô gái liên tục rót thêm đồ uống và tìm cách duy trì câu chuyện.

Lúc ấy, vì còn trẻ, lại thiếu tự tin trong giao tiếp với người nước ngoài, chúng tôi chỉ cảm thấy lúng túng và muốn tìm cách rút lui. Sau một hồi ngồi cho phải phép, cả hai nhìn nhau rồi viện cớ có việc phải về. Chúng tôi cảm ơn mọi người và nhanh chóng ra về. Trên đường đi, chẳng ai nói gì. Nhưng nhiều năm sau nhớ lại, chúng tôi thường trêu nhau rằng hôm ấy đã bỏ lỡ một cơ hội hiếm có. Đúng là tuổi trẻ nhiều khi ngây ngô đến mức đáng tiếc.

Một sự kiện khác khiến chúng tôi nhớ mãi là lễ bế giảng năm học của một trường phổ thông địa phương. Hôm đó, đoàn cán bộ Việt Nam được mời đến dự lễ tốt nghiệp của học sinh cuối cấp tại Trường Trung học số 22 của thành phố.

Buổi lễ diễn ra trang trọng và ấm áp. Sau phần nghi thức chính thức, chương trình chuyển sang phần hội với các tiết mục văn nghệ và giao lưu. Bất ngờ nhất là khi gần hai chục nữ sinh lớp cuối cấp trong những bộ trang phục đẹp nhất bước lên sân khấu. Qua lời phiên dịch, chúng tôi được biết các em được nhà trường cử ra để mời những vị khách quốc tế cùng tham gia khiêu vũ.

Thế nhưng phản ứng của các chàng trai Việt Nam lại hoàn toàn trái ngược với mong đợi. Vốn quen với sự e dè và ít tiếp xúc trong môi trường văn hóa thời bấy giờ, nhiều người bỗng trở nên lúng túng. Thay vì mạnh dạn bước ra sàn nhảy, các “quý ông” tương lai của chúng ta lại tìm đường rút lui. Người thì lẩn ra phía sau hội trường, người lặng lẽ ra hành lang, người tranh thủ đi tìm bạn. Chỉ trong chốc lát, đội hình gần như tan tác.

Sau này nhắc lại câu chuyện, ai cũng cười nghiêng ngả. Nhiều người vừa tiếc vừa tự trách mình quá nhút nhát. Những cô gái Ukraina xinh đẹp, những điệu nhạc vui tươi của tuổi học trò và bầu không khí hồn nhiên của ngày tốt nghiệp đã trở thành một kỷ niệm đẹp, một lát cắt đáng nhớ trong cuộc đời. Đó là những câu chuyện nhỏ bé nhưng chân thực, góp phần làm nên những năm tháng thanh xuân không thể nào quên nơi xứ sở xa xôi.

Nội dung chính của chuyến đi này được chúng tôi coi trọng nên cũng kể ra đây tuy chẳng có gì đặc biệt. Ngay từ đầu, chúng tôi xác định phải tận dụng tối đa cơ hội này. Ban ngày, chúng tôi vào nhà máy để nghe giới thiệu, quan sát dây chuyền sửa chữa, tham gia các buổi học lý thuyết. Tôi ghi chép gần như mọi thứ có thể. Tất cả ghi chép đều được tập trung vào những cuốn vở mà bạn cung cấp, cả chuyến đi có lẽ cũng đến gần chục cuốn vở dày 100 trang.

Buổi tối trở về khách sạn, trong khi nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi hoặc đi dạo phố, tôi lại ngồi cặm cụi bổ sung những điều trong ngày chưa kịp ghi chép. Nhiều sơ đồ dây chuyền sửa chữa, các loại máy móc chuyên dụng, quy trình công nghệ hay ý tưởng nâng cấp cải tiến được tôi cẩn thận lưu lại.

Tuy vậy, càng học hỏi tôi càng nhận ra khoảng cách khá lớn giữa điều kiện công nghiệp của Liên Xô và thực tế ở Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều công nghệ hiện đại mà chúng tôi được giới thiệu rất khó áp dụng ngay do hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực kỹ thuật trong nước. Điều đó khiến tôi vừa khâm phục, vừa băn khoăn về con đường phát triển của ngành cơ khí nước nhà.   

Một điều đáng tiếc là toàn bộ số sách vở, tài liệu và ghi chép mà đoàn gửi về nước bằng đường tàu biển cuối cùng đã không đến được tay chúng tôi. Không ai biết chính xác chúng bị thất lạc ở đâu và vì lý do gì. Đó là một tổn thất lớn, bởi trong đó chứa đựng biết bao công sức và tâm huyết của cả đoàn trong suốt nửa năm học tập ở nước ngoài.

Nhưng rồi theo thời gian, tôi nhận ra rằng những điều còn đọng lại sâu sắc nhất trong ký ức không hẳn là những bản vẽ hay bài giảng chuyên môn. Đó lại là những câu chuyện đời thường, những cuộc gặp gỡ, những tình huống bất ngờ và những trải nghiệm khó quên trong những tháng ngày sống xa Tổ quốc. Chính những kỷ niệm ấy đã làm nên màu sắc riêng cho chuyến đi và trở thành những trang hồi ký mà mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy nguyên vẹn cảm xúc như ngày nào.

Lại kể tiếp về chuyện mua sắm trong chuyến đi: Ngay ngày đầu tiên đặt chân tới Liên Xô, trong lúc tạm trú tại nhà khách của Đại sứ quán Việt Nam, tôi đã kịp mua một chiếc bàn là từ người quen như kể ở trên. Đó có thể xem là món hàng đầu tiên của chuyến đi. Cuộc sống dần ổn định, chúng tôi bắt đầu quen với việc đi lại, mua sắm. Tôi lần lượt mua được khăn voan đỏ, quạt máy, dây may so và một số vật dụng khác. Về cơ bản, những mục tiêu ban đầu đã hoàn thành khá thuận lợi.

Nhưng con người vốn khó bằng lòng với những gì mình đã có. Trong đầu tôi lúc ấy lại xuất hiện một ý nghĩ mới: phải mua được một chiếc xe đạp thật đẹp mang về Việt Nam. Thời đó, xe đạp là tài sản lớn. Sở hữu một chiếc xe đạp ngoại quốc chẳng khác nào có trong tay một vật quý giá mà nhiều người ao ước.

Thế là tôi bắt đầu bước vào những tháng ngày tính toán chi ly. Mỗi khoản chi tiêu đều được cân nhắc kỹ càng. Tôi nhẩm đi nhẩm lại xem phải tiết kiệm đến mức nào mới có thể dành dụm được hơn một trăm rúp để mua xe. Những phép tính ấy theo tôi từ ngày ở Voronezh cho đến khi đoàn chuyển tới thành phố Rovno thuộc nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina.

Đến Rovno, tình hình trở nên sáng sủa hơn. Chúng tôi được biết ở đây việc mua xe đạp dễ dàng hơn ở Nga, còn hàng hóa thì có thể gửi xuống cảng Kharkov rồi vận chuyển về Việt Nam. Tin tức ấy khiến cả đoàn phấn khởi hẳn lên.

Người thì bán chiếc đồng hồ đang đeo trên tay, người thì bán nhẫn vàng mang từ nhà sang để gom thêm tiền mua hàng. Không khí chuẩn bị gửi hàng diễn ra rất nhộn nhịp. Hầu như ai cũng đặt mua xe đạp. Có người còn mua tới hai chiếc với hy vọng sau này bán lại kiếm lời.

Bản thân tôi cũng rất muốn có một chiếc xe mới. Trong đầu hiện lên hình ảnh chiếc xe Sterling cũ kỹ đã phục vụ gia đình suốt gần bốn mươi năm, từ Bố tôi rồi đến anh cả. Nếu có chiếc xe mới mang về thay thế thì thật tuyệt biết bao.

Nhưng càng tính toán tôi càng thấy khó. Nếu dành toàn bộ số tiền để mua xe đạp thì gần như không còn khả năng mua quà cáp cho gia đình hay những vật dụng cần thiết cho bản thân. Đúng lúc ấy, một cơ hội khác bất ngờ xuất hiện.

Thời gian đó ở Hà Nội đang rộ lên phong trào hút thuốc lá cuốn. Muốn cuốn thuốc lá thì phải dùng loại giấy rất mỏng gọi là giấy pơ luya. Một “chuyên gia” trong lĩnh vực mua bán hàng xách tay đã mách cho tôi rằng mặt hàng này có khả năng sinh lời cực cao. Giá mua bên Liên Xô không đáng bao nhiêu nhưng khi mang về Việt Nam có thể bán được gấp ba, thậm chí gấp năm lần.

Nghe vậy, tôi lập tức lấy giấy bút ra tính toán. Nếu bỏ khoảng ba mươi rúp mua chừng mười ki-lô-gam giấy pơ luya, chỉ cần bán được với mức lãi gấp ba thôi thì số tiền thu về cũng đủ để mua một chiếc xe đạp ở trong nước. Quan trọng hơn, tôi không phải đau đầu chuyện đóng thùng hàng cồng kềnh, không phải lo gửi xe qua nhiều chặng đường và cũng không phải thấp thỏm chờ đợi hàng cập bến an toàn.

Tôi tự tin tuyên bố với bạn bè:

– Các cậu cứ mua xe rồi gửi về. Tôi chỉ cần bán xong đống giấy pơ luya này là có thể mua lại xe của các cậu ngon lành.

Mọi người nghe xong thì cười. Có người bảo tôi tính toán khôn ngoan, có người lại cho rằng tôi quá liều. Nhưng cuối cùng tôi vẫn quyết định đi theo lựa chọn của mình.

Khi đã không còn áp lực phải dành tiền mua xe đạp, việc chi tiêu trở nên dễ chịu hơn rất nhiều. Tôi mua thêm pantocrin – loại người Việt vẫn quen gọi là sâm nước, rồi mua vải hoa, áo bay, áo ấm và nhiều món quà nhỏ khác cho người thân. Nói chung, lần đầu tiên trong chuyến đi tôi cảm thấy mình thực sự được tận hưởng cuộc sống.

Khi về nước, tôi mới hiểu rằng chuyện buôn bán không hề đơn giản như mình từng nghĩ. Trong đầu tôi lúc ấy chỉ có một suy nghĩ rất ngây thơ: hàng mình mang về là hàng tốt, lại là hàng ngoại nhập có giá trị, chắc chắn sẽ bán được nhanh và có lãi. Thế nhưng thực tế hoàn toàn khác. Số giấy pơ luya mua được ở nước ngoài mang về chất đống trong nhà mà chẳng có ai hỏi mua. Lúc đó tôi mới thấm thía câu nói của người xưa: mua có bạn, bán có phường. Trong kinh doanh, ngoài chất lượng hàng hóa còn cần có mối quan hệ, đầu ra và người quen giới thiệu. Chỉ có hàng tốt thôi chưa đủ.

Sau một thời gian dài chờ đợi, cuối cùng cũng có người tìm đến mua, nhưng họ chỉ lấy một phần nhỏ trong số mười kilôgam giấy mang về. Tính toán đi tính toán lại, số tiền thu được chỉ vừa đủ bù chi phí, coi như hòa vốn. Bao công sức vận chuyển, mang vác từ nước ngoài về nước xem như chẳng được lợi lộc gì. Tôi tự trào rằng mình chỉ đóng vai một anh khuân vác không công mà thôi. Và tất nhiên, lão xe đạp Sterling thân thiết vẫn phải tiếp tục “gia hạn phục vụ tại ngũ” thêm nhiều năm nữa. Về sau, khi có con nhỏ, kinh tế gia đình eo hẹp, tôi còn phải bán dần vài chiếc áo bay và áo ấm để mua sữa cho con. Nghĩ lại, đó cũng là một niềm mãn nguyện giản dị của đời mình.

Ngày cuối cùng ở Rovno đến nhanh hơn chúng tôi tưởng. Sau nhiều tháng thực tập xa nhà, ai cũng vừa háo hức được trở về quê hương, vừa lưu luyến nơi đã gắn bó với biết bao kỷ niệm. Sáng hôm ấy, Ban Giám đốc Nhà máy tổ chức một buổi gặp mặt thân mật để chia tay đoàn sinh viên Việt Nam. Không có diễn văn dài dòng hay những nghi thức cầu kỳ, chỉ là những lời chúc chân thành cùng vài món quà nhỏ nhưng chứa đựng nhiều tình cảm.

Giám đốc Nhà máy thông báo mỗi người được chọn một món quà lưu niệm trị giá khoảng năm đồng rúp. Ngay lập tức, gần như cả đoàn đồng thanh đề nghị nhận đồng hồ để bàn lên dây cót. Đó là loại đồng hồ khá đẹp, mặt số rõ ràng, vỏ kim loại sáng bóng, giá bán ở cửa hàng khoảng bốn đồng rưỡi. Đối với chúng tôi thì thời ấy có một chiếc đồng hồ như vậy là món quà vừa thiết thực vừa có giá trị.

Chỉ riêng tôi chọn khác mọi người. Từ lâu tôi đã mê những bài hát, bản nhạc của Liên Xô, đặc biệt là những ca khúc do nữ ca sĩ nổi tiếng Alla Pugachova thể hiện. Vì vậy, thay vì đồng hồ, tôi mạnh dạn đề nghị được nhận đĩa hát loại đĩa than 33⅓ vòng một phút. Có lẽ thấy yêu cầu ấy khá đặc biệt nên các bạn phụ trách mua quà cũng chiều ý. Đến lúc trao quà, trong khi ai nấy chỉ nhận một gói nhỏ gọn chứa chiếc đồng hồ để bàn thì tôi lại được trao một hộp khá to. Mở ra mới biết bên trong có tới hai đĩa hát của nữ ca sĩ Alla Pugachova, giá mỗi chiếc giá ba đồng sáu. Tính ra giá trị còn cao hơn món quà của mọi người. Nhìn ánh mắt vừa ngạc nhiên vừa ghen tị của mấy ông bạn cùng đoàn, tôi chỉ biết cười thầm khoái chí.

Năm đó, Liên Xô chuẩn bị đăng cai Thế vận hội Olympic Moskva 1980. Không khí ở khắp nơi đều rất sôi động. Thành phố nào cũng treo băng-rôn, khẩu hiệu, cờ hoa chào đón sự kiện thể thao lớn nhất thế giới. Đầu tháng Sáu, khóa thực tập của chúng tôi kết thúc đúng vào thời điểm công tác chuẩn bị Olympic bước vào giai đoạn nước rút.

Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của Nhà máy, phần lớn đồ đạc của đoàn được đóng kiện và gửi lên tàu hỏa chở về trước. Theo quy định, thực tập sinh nước ngoài không được gửi hàng chậm theo cách đó, nhưng các cán bộ Nhà máy vẫn tìm cách hỗ trợ. Dù vậy, mỗi người vẫn còn lại một khối lượng hành lý không hề nhỏ phải tự mang theo. Những món quà lưu niệm, quần áo, sách báo, đồ điện tử, thuốc men và đủ thứ hàng hóa mà anh em gom góp được trong thời gian sống ở Liên Xô khiến chiếc vali nào cũng căng phồng.

Từ Rovno, chúng tôi lên tàu về Moskva. Khi tới nơi, Đại sứ quán Việt Nam yêu cầu đoàn cử một người viết tờ khai xuất cảnh cho tất cả mọi người. Không hiểu vì lý do gì, có lẽ do chữ viết còn dễ đọc hoặc vì trước đó từng làm vài việc giấy tờ cho đoàn, tôi được chọn.

Một chiếc xe của Đại sứ quán đón tôi rời ga trước. Người cán bộ phụ trách đưa tôi về nhà khách, dẫn vào phòng làm việc của anh rồi chỉ cho cách ghi các mục trong mẫu khai. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng, anh khóa cửa phòng và nói phải đi giải quyết công việc một lúc.

Thế là tôi ngồi một mình, cặm cụi viết tờ khai cho cả đoàn. Hết mẫu này đến mẫu khác, tên tuổi, số hộ chiếu, địa chỉ, hành trình bay... Tất cả đều phải ghi chính xác. Công việc tưởng đơn giản nhưng kéo dài hơn một tiếng đồng hồ.

Khi người cán bộ quay lại, anh chỉ nói ngắn gọn:

– Xong rồi à? Đi thôi, tôi đưa ra sân bay.

Lúc ấy tôi mới hiểu ra một điều. Trong khi tôi ngồi hì hục hoàn thành giấy tờ thì mọi người trong đoàn đã có thêm hơn một giờ quý giá để sắp xếp, phân chia và tìm cách “gia cố” số hành lý vượt tiêu chuẩn mà ai cũng đang mang theo. Có lẽ thấy tôi là người duy nhất còn tương đối gọn gàng, chỉ xách một chiếc vali khoảng hai mươi ký nên mọi người mới thống nhất cử tôi đi làm nhiệm vụ chung.

Tuy nhiên, nhờ chuyện đó mà tôi lại có được một trải nghiệm đặc biệt. Trên đường ra sân bay, chiếc xe của Đại sứ quán vòng qua khu vực gần điện Kremlin. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhìn qua cửa kính, tôi thấy quảng trường Đỏ hiện ra trước mắt với những công trình nổi tiếng mà trước đó mới chỉ được ngắm qua ảnh. Chuyến tham quan bất ngờ ấy tuy ngắn ngủi nhưng trở thành một kỷ niệm đáng nhớ trong suốt hành trình.

Đến sân bay, tôi lập tức nhận ra bầu không khí khác thường. Khuôn mặt ai cũng căng thẳng. Những bước chân nặng nề, dáng đi cứng nhắc khiến mọi người trông chẳng khác gì những người máy đang tập đi. Nguyên nhân thì ai cũng hiểu.

Bên trong áo khoác, dưới lớp quần áo dày cộp, trong các túi áo, túi quần, thậm chí buộc quanh bụng, quanh đùi là đủ loại hàng hóa mang về nước. Thuốc bổ, thuốc kháng sinh, vitamin, sâm, đồng hồ, dây may so... thứ gì cũng được tận dụng tối đa để giảm trọng lượng hành lý ký gửi.

Có người buộc không chắc nên vừa đi vừa đánh rơi đồ. Những chai lọ lăn lóc trên sàn khiến cảnh tượng trở nên vô cùng hỗn độn. Vào khu vệ sinh, tôi bắt gặp nhiều chàng trai đang thực hiện những công đoạn cuối cùng. Người thì tháo dây, người thì buộc lại, người thì cố nhét thêm vài món vào trong áo khoác.

Nền nhà loang lổ những vệt chất lỏng màu nâu từ các chai thuốc bổ bị vỡ. Nhìn từ xa cứ như những vệt máu kéo dài trên nền gạch. Mùi thuốc trộn lẫn với mùi mồ hôi và sự hồi hộp khiến cả khu vực mang một bầu không khí khó tả.

Khoảnh khắc căng thẳng nhất là lúc đoàn phải đi qua cổng kiểm tra an ninh.

Ngày nay, với các quy định nghiêm ngặt, chắc chắn không ai có thể mang theo số lượng đồ đạc như thế. Nhưng thời ấy, nhân viên sân bay Liên Xô vẫn còn khá linh hoạt và phần nào thông cảm với hoàn cảnh của chúng tôi.

Phần lớn mọi người đều vượt qua được cổng kiểm tra. Tuy nhiên, có một ông vừa bước qua thì máy báo động lập tức réo vang.

Ông bình tĩnh quay lại, nở nụ cười rất tươi rồi tháo chiếc thắt lưng đang đeo. Trên thắt lưng ấy lủng lẳng đủ loại chai lọ nhỏ. Ông cho rằng nguyên nhân chắc nằm ở đó. Nhưng khi đi qua lần thứ hai, máy vẫn tiếp tục kêu inh ỏi. Nhân viên an ninh yêu cầu cởi áo khoác. Ông miễn cưỡng làm theo. Ngay khi lớp áo ngoài được mở ra, mọi người đều chết lặng.

Trước ngực ông hiện ra một dải băng vải đeo chéo từ vai xuống hông, bên trong nhét kín các lọ thuốc thủy tinh. Từ xa nhìn lại, nó chẳng khác nào dây đeo thuốc nổ của các phần tử khủng bố trong phim ảnh.

Mấy nhân viên an ninh giật mình lùi lại theo phản xạ. Một người cẩn thận dùng dùi cui gõ nhẹ vào dải băng để kiểm tra. Cảnh tượng ấy vừa căng thẳng vừa buồn cười đến mức nhiều người phải cố nhịn cười.

Sau một hồi giải thích, phiên dịch của đoàn mới giúp họ hiểu rằng đây chỉ là một sáng kiến tự chế nhằm mang thêm thuốc về nước. Những lọ thuốc được khâu vào các túi nhỏ trên dải băng vải rồi đeo dưới áo để tránh quá cân hành lý.

Cuối cùng, sau rất nhiều lời trình bày và van nài, nhân viên sân bay cũng đồng ý cho đoàn tiếp tục hành trình.

Chuyến bay cất cánh, mang theo chúng tôi rời khỏi Liên Xô, khép lại một giai đoạn tuổi trẻ đầy kỷ niệm.

Vậy mà đã gần năm mươi năm trôi qua. Trong khoảng thời gian ấy, mỗi người đều trải qua biết bao biến động của cuộc sống: lập nghiệp, xây dựng gia đình, chứng kiến những đổi thay của đất nước và của chính bản thân mình. Nhiều người bạn năm xưa nay đã nghỉ hưu, có người không còn nữa. Tôi cũng có dịp quay lại nước Nga trong một lần du lịch, đến Moskva, đến Saikt Perterburg, nhớ lại tình cảm của những người Nga, người Ukraina một thời…

Bây giờ, mỗi khi giai điệu hào hùng của khúc quân hành Ngày Chiến thắng vang lên trên đài phát thanh hay truyền hình, trong tâm trí tôi lại hiện về những ngày tháng ở nước Nga xa xôi. Tôi nhớ thành phố Voronezh xinh đẹp, thành phố Rovno bình yên, nhớ những người bạn Liên Xô chân thành, nhớ hộp quà đựng hai chiếc đĩa hát của Alla Pugachova, nhớ chuyến xe chạy ngang điện Kremlin, và nhớ nhất là hình ảnh những thân hình lặc lè thuốc men, hàng hóa, cố gắng mang từng chút một về quê hương.

Đó là những ký ức vừa nghẹn ngào, vừa hài hước, vừa phản ánh một thời kỳ khó khăn nhưng giàu tình người. Mỗi lần nhớ lại, tôi lại mỉm cười như thể tất cả chỉ mới diễn ra ngày hôm qua.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Có một thời như thế đấy

Những kỷ niệm về ngôi nhà 97