Lên đỉnh mái nhà Việt Nam
Đang tất bật chuẩn bị cho chuyến đi xuyên Việt lần thứ
nhất, tôi bất ngờ nhận được cuộc điện thoại của một người bạn thân. Qua giọng
nói hồ hởi của anh, tôi đoán chắc hẳn có chuyện gì thú vị. Quả thật, anh báo
tin sẽ đưa vợ từ miền Nam ra Hà Nội sớm hơn dự kiến vài ngày. Ban đầu tôi nghĩ
anh cẩn thận, muốn có thêm thời gian nghỉ ngơi và chuẩn bị trước khi bắt đầu
hành trình dài xuyên dải đất hình chữ S. Nhưng hóa ra tôi đã đoán sai. Điều anh
mong muốn là tranh thủ khoảng thời gian trống ấy để thực hiện một chuyến du
lịch ngắn ngày, vừa thay đổi không khí vừa khám phá thêm một vùng đất mới trước
khi chính thức lên đường.
Là người lúc nào cũng mang trong mình niềm háo hức với
những chuyến đi, nhất là những chuyến đi đến các miền đất xa xôi của Tổ quốc,
tôi lập tức nghĩ đến hàng loạt địa danh. Nào là Mộc Châu với những đồi chè xanh
ngút mắt, nào là Sa Pa mờ sương giữa núi rừng Tây Bắc, rồi Cao Bằng với thác
Bản Giốc hùng vĩ. Tôi lần lượt đưa ra từng phương án để cả nhóm cùng cân nhắc.
Sau một hồi bàn bạc, cái tên Lũng Cú – Hà Giang nhanh chóng nhận được sự đồng
thuận. Có lẽ sức hấp dẫn của điểm cực Bắc thiêng liêng của Tổ quốc, cùng những
cung đường núi nổi tiếng và khung cảnh thiên nhiên kỳ vĩ đã khiến mọi người bị
thuyết phục. Tôi cũng không phủ nhận rằng phần nào đó sự nhiệt tình giới thiệu
của mình đã góp phần giúp Hà Giang vượt lên trên những lựa chọn khác.
Một khi đã quyết định điểm đến, công việc chuẩn bị
được triển khai rất nhanh chóng. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ,
chúng tôi đã hoàn thành gần như toàn bộ kế hoạch. Bản đồ hành trình được in ra
và đánh dấu cẩn thận. Các điểm dừng chân, địa điểm tham quan, quán ăn, khách
sạn nghỉ đêm đều được ghi chú rõ ràng. Những đoạn đường cần chú ý, những nơi
thường có lực lượng cảnh sát giao thông kiểm tra tốc độ cũng được cập nhật từ
bạn bè và các diễn đàn du lịch. Mọi thứ được chuẩn bị khá kỹ, bởi với những
chuyến đi đường dài bằng ô tô, việc chủ động thông tin luôn giúp hành trình trở
nên thuận lợi và an toàn hơn.
Sáng ngày khởi hành, Hà Nội đang vào những ngày thời
tiết đẹp. Trời không quá nóng, nắng vàng nhẹ trải trên những con phố còn khá
vắng người. Đúng 7 giờ 30 phút, chúng tôi ghé qua bác sĩ Thìn phố Lò Đúc để giải
quyết bữa sáng. Từ đây, tiếp tục ghé cây xăng trên đường Trần Hưng Đạo để đổ
đầy bình nhiên liệu. Sau khi kiểm tra lại lốp xe, nước làm mát và các vật dụng
cần thiết, chúng tôi chính thức xuất phát. Từ trung tâm Hà Nội, xe chạy theo
hướng cầu Thăng Long rồi thẳng tiến về phía sân bay Nội Bài. Con đường quen
thuộc dần mở ra trước mắt với những hàng cây xanh và những dòng xe nối đuôi
nhau trong buổi sáng đầu ngày.
Qua Nội Bài, chúng tôi rẽ vào Quốc lộ 2, tuyến đường
dẫn lên các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Không khí trên xe rất vui vẻ.
Mọi người thay nhau kể chuyện, nghe nhạc và bàn luận về những địa danh sẽ đi
qua. Tuy nhiên, niềm hứng khởi ban đầu nhanh chóng bị gián đoạn bởi một sự cố
không ai mong muốn.
Khi đang chạy trên đoạn đường tránh thành phố Vĩnh
Yên, xe bất ngờ được lực lượng cảnh sát giao thông ra hiệu dừng lại. Sau khi
kiểm tra, chúng tôi được thông báo đã vi phạm quy định về tốc độ. Thực ra, đoạn
đường trước đó cho phép xe chạy với tốc độ khá cao, nhưng gần khu vực giao cắt
với đường ngang lại có biển hạn chế xuống còn 40 km/giờ. Sự thay đổi đột ngột
này khiến nhiều tài xế không kịp giảm tốc độ và dễ mắc lỗi. Chúng tôi cũng
không phải ngoại lệ. Sau khi làm việc với lực lượng chức năng, hoàn tất các thủ
tục cần thiết và nộp phạt theo quy định, cả đoàn tiếp tục lên đường. Dù mất
thêm một ít thời gian và chi phí, đây cũng là bài học nhắc nhở mọi người phải
chú ý quan sát biển báo hơn trên những cung đường xa lạ.
Đến địa phận Tuyên Quang thì đã gần trưa. Sau nhiều
giờ ngồi xe, ai cũng cảm thấy đói bụng. Chúng tôi quyết định ghé vào một quán
ăn ven đường nổi tiếng với các món thịt dê. Bữa trưa giản dị nhưng ngon miệng.
Những câu chuyện về các chuyến đi trước đây lại rôm rả bên bàn ăn. Sau khi nghỉ
ngơi khoảng một giờ đồng hồ, cả đoàn tiếp tục hành trình hướng về Hà Giang.
Càng đi xa, cảnh sắc hai bên đường càng thay đổi.
Những dãy đồi thấp dần xuất hiện nhiều hơn. Các vườn cam, vườn quýt trải rộng
trên các sườn đồi, báo hiệu chúng tôi đang tiến gần vùng đất nổi tiếng với đặc
sản cam Hàm Yên. Không khí trong lành và dễ chịu hơn hẳn so với thành phố.
Thế nhưng, vận may dường như vẫn chưa mỉm cười với
đoàn xe. Khi đi qua khu vực thị trấn Tân Yên thuộc huyện Hàm Yên, chúng tôi lại
bị kiểm tra tốc độ một lần nữa. Lần này quá trình làm việc kéo dài hơn. Ngoài
việc giải thích các quy định giao thông, còn có những trao đổi khá chi tiết về
mức xử phạt. Điều khiến cả đoàn nhớ mãi là câu chuyện nhận lại tiền vì nộp quá
số tiền quy định. Dù tình huống ấy có phần dở khóc dở cười, nó vẫn trở thành đề
tài đùa vui suốt quãng đường còn lại.
Rời Tân Yên, khung cảnh miền núi hiện ra ngày một rõ
nét. Ven đường xuất hiện nhiều quầy hàng nhỏ bày bán cam, bưởi, chuối, mật ong
và các loại nông sản địa phương. Những chiếc mẹt tre đầy ắp hoa quả tạo nên vẻ
bình dị rất đặc trưng của vùng trung du Bắc Bộ. Chúng tôi cũng dừng lại mua một
ít trái cây để ăn dọc đường. Tuy nhiên, cảm xúc lúc ấy vẫn chưa thật sự đặc
biệt, bởi điểm đến hấp dẫn nhất còn ở phía trước. Trong suy nghĩ của mỗi người,
hình ảnh cột cờ Lũng Cú và cao nguyên đá Đồng Văn vẫn đang hiện lên đầy thôi
thúc.
Con đường phía trước còn dài, nhưng niềm háo hức ngày
một lớn hơn. Chúng tôi biết rằng hành trình thực sự chỉ mới bắt đầu. Những khúc
cua tay áo, những dãy núi đá tai mèo hùng vĩ, những bản làng người Mông nép
mình bên sườn núi và lá cờ Tổ quốc tung bay nơi địa đầu đất nước đang chờ đón.
Tất cả hứa hẹn sẽ tạo nên một chuyến đi đáng nhớ, một cuộc hành trình không chỉ
để ngắm cảnh mà còn để cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của non sông Việt Nam.
Đúng 17 giờ, sau chặng đường gần 300 km đầy bụi gió và
những khúc cua liên tiếp của vùng trung du, chúng tôi đặt chân đến Thành phố Hà
Giang. Cảm giác đầu tiên là sự nhẹ nhõm khi kết thúc một ngày dài ngồi trên xe,
tiếp đến là niềm thích thú trước vẻ đẹp thanh bình của thành phố miền biên viễn.
Trong ánh nắng cuối ngày của mùa đông, cả thành phố như được phủ một lớp mật
ong vàng óng. Bốn phía là núi non bao bọc, tạo nên một không gian vừa hùng vĩ
vừa ấm áp, khác hẳn với sự náo nhiệt của những đô thị lớn dưới xuôi.
Chạy dọc giữa thành phố là dòng sông Lô. Vào mùa này,
nước sông trong xanh và hiền hòa. Dòng sông len lỏi giữa những bãi đá và những
triền cỏ ven bờ, trông chẳng khác nào một con suối lớn đang lững lờ trôi giữa
núi rừng. Thỉnh thoảng, mặt nước phản chiếu ánh nắng chiều tạo thành những dải
sáng lấp lánh. Chúng tôi dừng xe ít phút bên cầu để ngắm cảnh. Không khí trong
lành, mát lạnh của vùng cao khiến mọi mệt nhọc dường như tan biến.
Chỉ một lát sau, những dãy núi bao quanh thành phố bắt
đầu chìm dần trong màn sương bảng lảng. Từ các thung lũng và sườn núi, từng làn
khói mỏng nhẹ nhàng bay lên rồi hòa vào nền trời tím nhạt của buổi hoàng hôn.
Những ngọn đèn đường lần lượt sáng lên, phản chiếu xuống mặt sông, báo hiệu một
đêm yên bình đang đến gần.
Sau khi đổ đầy bình xăng để chuẩn bị cho hành trình
ngày hôm sau, chúng tôi tìm đến Khách sạn Cao Nguyên trên đường Nguyễn Thái Học
để nhận phòng nghỉ. Việc tìm khách sạn khá thuận lợi. Sau khi cất hành lý và
nghỉ ngơi ít phút, câu hỏi tiếp theo là ăn tối ở đâu. Nhân viên khách sạn giới
thiệu rằng thành phố có một khu vực thường được gọi là “phố ẩm thực”, nơi tập
trung nhiều hàng quán phục vụ khách du lịch và người dân địa phương.
Nghe vậy, cả nhóm quyết định đi bộ để vừa vận động sau
nhiều giờ ngồi xe vừa có dịp ngắm thành phố về đêm. Chúng tôi băng qua cầu Yên
Biên 1 rồi men theo những con phố rộng rãi, sạch sẽ. Hai bên đường, các công
trình hành chính mới xây dựng khang trang nổi bật dưới ánh đèn. Không khí khá
yên tĩnh, thỉnh thoảng mới có vài chiếc xe máy hoặc ô tô chạy ngang.
Khu phố ẩm thực hiện ra trước mắt với những dãy quán
ăn được bố trí gọn gàng. Nhiều nhà hàng trang trí đẹp mắt bằng đèn lồng đủ màu
sắc, tạo cảm giác ấm cúng và hấp dẫn. Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi ngạc
nhiên là khung cảnh khá vắng vẻ. Ngoài một vài nhà hàng đang có tiệc cưới hoặc
liên hoan cơ quan, phần lớn các quán đều không quá đông khách.
Theo kinh nghiệm truyền miệng của những người từng đi
trước, chúng tôi chọn một nhà hàng có vẻ đông người nhất với suy nghĩ rằng nơi
nào đông khách thì hẳn món ăn phải ngon. Nhưng thực tế lại không đơn giản như
vậy. Khi chúng tôi đề nghị được dùng bữa, các nhân viên tỏ ra lúng túng. Họ dẫn
chúng tôi lên tầng trên, rồi lại xuống tầng dưới, sau đó đi sâu vào phía trong
rồi quay trở ra ngoài. Chỉ để tìm một chiếc bàn cho bốn người mà mất khá nhiều
thời gian.
Cuối cùng rồi cũng có chỗ ngồi, chúng tôi hồ hởi gọi
món thì được thông báo rằng nhà hàng chỉ phục vụ những món đã chuẩn bị sẵn cho
các đoàn khách đang tổ chức tiệc. Điều đó có nghĩa là chúng tôi gần như không
có lựa chọn nào khác ngoài việc ăn theo thực đơn của họ.
Chúng tôi chọn một quán ăn nhỏ hơn nằm ở phía cuối
phố. Quán không đông nhưng sạch sẽ, thoáng mát và đặc biệt yên tĩnh. Không gian
giản dị với những bộ bàn ghế gỗ và ánh đèn vàng dịu nhẹ tạo cảm giác rất dễ
chịu. Sau khi gọi món, mọi người gần như lập tức hướng sự chú ý vào đĩa xôi
trắng nóng hổi vừa được mang ra.
Có lẽ do đã quá bữa và cũng vì khí trời se lạnh nên
món xôi bình dị ấy trở nên ngon lạ thường. Hạt xôi dẻo mềm, thơm mùi nếp mới,
ăn kèm với thịt gà nướng vàng ruộm khiến ai cũng tấm tắc khen ngon. Chỉ trong
chốc lát, hai đĩa xôi lớn đã sạch trơn. Chúng tôi còn định gọi thêm nhưng rồi
phải giữ bụng để thưởng thức những món khác. Bữa ăn hôm ấy không có cao lương
mỹ vị, song lại để lại nhiều ấn tượng. Giá cả hợp lý, món ăn vừa miệng và sự
chân chất của người phục vụ khiến cả nhóm cảm thấy hài lòng. Khi trở về khách
sạn, mọi người đều nhận thấy những mệt nhọc của một ngày dài dường như đã được
xua tan.
Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy từ rất sớm. Không khí
vùng cao lạnh nhưng dễ chịu. Trời còn chưa sáng hẳn, từng làn sương mỏng vẫn
còn lơ lửng trên mặt sông Lô. Chúng tôi chạy xe đến đầu cầu Yên Biên 1, nơi
chiều hôm trước đã để ý thấy một quán bánh cuốn khá đông khách.
Những đĩa bánh cuốn nóng hổi được tráng ngay tại chỗ,
ăn kèm chả nướng thơm lừng. Hương vị có nét gần gũi với bánh cuốn Thanh Trì của
Hà Nội nhưng vẫn mang dấu ấn riêng của vùng cao. Vừa ăn sáng, chúng tôi vừa
tranh thủ hỏi thăm đường đi Đồng Văn. Người chủ quán bánh mì bên cạnh, tay vẫn
thoăn thoắt nướng bánh, nhiệt tình chỉ dẫn. Thật may, lộ trình ông chỉ trùng
khớp với tuyến đường mà chúng tôi đã đánh dấu trên bản đồ từ trước.
Ăn sáng xong, cả nhóm lên đường với tâm trạng đầy hứng
khởi. Những tưởng từ đây mọi việc sẽ thuận lợi, nhưng hành trình vùng núi luôn
chứa đựng những bất ngờ thú vị. Ra khỏi thành phố khoảng 10 km, mặt đường còn
khá tốt. Tuy nhiên, càng đi sâu vào vùng núi, con đường càng hẹp lại với vô số
khúc cua tay áo liên tiếp. Hai bên đường là những bản làng nhỏ, những rặng cây
xanh rậm rạp và những sườn núi đá dựng đứng.
Sau khoảng 25 km, chúng tôi dừng chân tại bản Nà Sài
thuộc xã Minh Ngọc. Bên đường có một khu chợ nhỏ với vài sạp hàng bán nông sản,
rau quả và gia cầm. Khung cảnh giản dị và bình yên. Chúng tôi tranh thủ nghỉ
ngơi, uống nước và hỏi thăm đường. Phần lớn người dân chỉ cười rồi lắc đầu, có
lẽ vì không quen với khách du lịch tự lái xe. Cuối cùng, một thanh niên bảo cứ
đi thẳng.
Tuy nhiên, điều đó lại khiến chúng tôi băn khoăn vì
theo hiểu biết của mình, đi thẳng sẽ dẫn về hướng Bắc Mê chứ không phải Đồng
Văn. Sau khi đối chiếu với bản đồ, chúng tôi tiếp tục hành trình. Đi thêm
khoảng hai kilômét, một ngã ba xuất hiện. Theo bản đồ, rẽ trái vào Tỉnh lộ 176
sẽ đến Đồng Văn sau khoảng 90 km.
Tin tưởng vào sự chuẩn bị kỹ lưỡng của mình, tôi mạnh
dạn dẫn đoàn rẽ theo hướng đó. Nhưng chỉ đi được hơn một kilômét, trước mắt đã
hiện ra một đại công trường. Đá hộc chất thành đống, xe tải và xe lu hoạt động
liên tục. Con đường đang trong quá trình sửa chữa. Khi hỏi thăm một nhóm công
nhân đang nghỉ bên vệ đường, một người có vẻ là cán bộ công trường giải thích
rằng tuyến đường này đúng là đi Đồng Văn, nhưng hiện chỉ phù hợp với xe tải
hoặc xe chuyên dụng vì mặt đường quá xấu. Anh ngạc nhiên hỏi tại sao chúng tôi
không đi theo đường Quyết Tiến.
Tên con đường ấy hoàn toàn xa lạ với cả nhóm. Sau một
hồi trao đổi, chúng tôi mới hiểu rằng muốn đến Đồng Văn thuận lợi phải quay trở
lại Thành phố Hà Giang rồi theo Quốc lộ 4C. Không còn lựa chọn nào khác, cả
đoàn đành quay đầu xe. Hơn 30 km đường núi vừa đi qua lại hiện ra trước mắt. Dù
mất gần hai tiếng đồng hồ và không khỏi tiếc nuối, nhưng chúng tôi cũng tự an
ủi rằng đó là một phần tất yếu của những chuyến du lịch tự túc. Chính những lần
đi nhầm đường, những cuộc hỏi đường ngơ ngác hay những quyết định bất đắc dĩ
mới tạo nên những kỷ niệm đáng nhớ. Và cũng từ những trải nghiệm ấy, hành trình
khám phá cao nguyên đá Đồng Văn của chúng tôi mới thực sự bắt đầu.
Trở lại Hà Giang, chúng tôi tìm
đến một hàng cà phê nhỏ vừa bày bàn ghế ra vỉa hè. Vừa ngồi nhâm nhi ly cà phê
nóng vừa trò chuyện với bà chủ quán. Nghe chúng tôi nói đang tìm đường đi Lũng
Cú, chị chủ quán tỏ ra rất nhiệt tình. Chị bảo rằng gia đình mình cũng sắp có
việc đi Yên Minh, nếu chờ được thì sẽ dẫn chúng tôi đi cùng. Chúng tôi còn đang
phân vân thì một chiếc xe con bốn chỗ mới tinh dừng lại trước quán. Từ trên xe
bước xuống một người đàn ông có dáng vẻ phong độ, lịch thiệp. Sau vài câu giới
thiệu ngắn gọn của bà chủ quán, chúng tôi nhanh chóng làm quen với nhau. Những
cái bắt tay thân thiện giữa những người vừa gặp mặt khiến khoảng cách dường như
biến mất.
Đúng 10 giờ sáng, đoàn chúng tôi bắt đầu lên đường. Chúng
tôi bám ngay sau chiếc xe mang biển số Hà Giang. Từ trung tâm thành phố theo
Quốc lộ 4C, đoạn đường hơn hai mươi cây số đầu tiên tương đối dễ đi. Con đường
men theo dòng sông, uốn lượn giữa những dãy núi xanh ngắt. Không khí trong
lành, mát mẻ của vùng cao khiến ai cũng cảm thấy phấn chấn.
Tuy nhiên, khi chuẩn bị vượt đèo
Pắc Sum, cảnh quan bắt đầu thay đổi rõ rệt. Trước mắt chúng tôi hiện ra một tấm
biển lớn mang dòng chữ “Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn”. Phía sau
tấm biển là những dãy núi đá tai mèo dựng đứng, xám bạc và hùng vĩ. Đó chính là
cánh cửa đầu tiên mở vào vùng đất đặc biệt nhất của Hà Giang.
Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn
trải rộng trên địa bàn bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Đây là
khu vực nổi tiếng bởi địa hình đá vôi cổ có tuổi hàng trăm triệu năm cùng cảnh
quan núi non hiểm trở bậc nhất Việt Nam. Từ đây trở đi, những khúc cua tay áo
liên tiếp xuất hiện. Con đường quanh co như một dải lụa vắt ngang sườn núi.
Nhiều đoạn chỉ cần nhìn xuống phía dưới đã thấy vực sâu hun hút khiến người cầm
lái phải tập trung cao độ.
Đoạn đường khó đi và ấn tượng nhất là khu vực cổng
trời Quản Bạ. Khi xe vừa lên đến đỉnh đèo, ông bà chủ quán cà phê chủ động ra
hiệu dừng lại để mọi người nghỉ ngơi và ngắm cảnh. Từ vị trí này có thể phóng
tầm mắt bao quát cả một thung lũng rộng lớn nằm giữa những dãy núi trùng điệp.
Mây trắng lững lờ trôi qua các đỉnh núi, tạo nên một khung cảnh vừa hùng vĩ vừa
thơ mộng.
Không chỉ giới thiệu phong cảnh, người bạn đồng hành
bất ngờ còn trở thành một hướng dẫn viên du lịch thực thụ. Anh kể cho chúng tôi
nghe về lịch sử của cổng trời Quản Bạ, về những câu chuyện gắn liền với vùng
đất địa đầu Tổ quốc này. Sau này, khi tìm hiểu thêm qua nhiều tài liệu và ký sự
về Hà Giang, tôi mới hiểu rõ hơn những điều anh kể hôm ấy.
Cổng trời Quản Bạ được xây dựng từ năm 1939. Ngày
trước nơi đây có những bức tường dày cùng hệ thống lỗ châu mai phục vụ mục đích
quân sự. Hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày hàng chục centimet từng là ranh
giới giữa vùng đất do các thủ lĩnh người H’Mông cai quản với thế giới bên
ngoài. Địa hình hiểm trở đến mức ngay cả thực dân Pháp muốn tiến vào Đồng Văn
cũng phải tổ chức nhiều mũi tấn công từ các hướng khác nhau.
Nhắc đến Hà Giang không thể không nói tới con đường
Hạnh Phúc. Năm 1959, Chính phủ quyết định mở tuyến đường nối Hà Giang với Quản
Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Hàng nghìn thanh niên xung phong thuộc nhiều
dân tộc và nhiều tỉnh thành phía Bắc đã tham gia xây dựng con đường này. Trong
điều kiện vô cùng gian khổ, họ dùng cuốc, xẻng, búa và thuốc nổ để mở đường
xuyên qua những vách núi đá dựng đứng. Sau sáu năm lao động bền bỉ, tuyến đường
dài hơn 160 km đã hoàn thành. Ngày nay, mỗi khi đi trên con đường ấy, du khách
đều không khỏi cảm phục trước ý chí và sự hy sinh của thế hệ đi trước.
Từ cổng trời nhìn xuống thung lũng Quản Bạ, nổi bật
giữa màu xanh của đồng ruộng là hai quả đồi có hình dáng giống bầu ngực người
phụ nữ. Người dân địa phương gọi đó là núi Đôi hay núi Cô Tiên. Theo truyền
thuyết, đây là dấu tích để lại của một nàng tiên đã ở lại trần gian nuôi con.
Dù thực hư thế nào, câu chuyện ấy vẫn làm cho cảnh sắc nơi đây thêm phần huyền
ảo.
Rời cổng trời, chúng tôi tiếp tục hành trình về phía
thị trấn Tam Sơn. Trên đường đi, cả đoàn dừng lại mua một ít mật ong rừng, rượu
ngô và vài đặc sản địa phương. Những sản vật giản dị nhưng mang đậm hương vị
của vùng cao nguyên đá khiến ai cũng thích thú.
Từ Tam Sơn đến Yên Minh, cảnh sắc vẫn giữ nguyên vẻ
hùng vĩ đặc trưng của Hà Giang. Núi nối tiếp núi, những rừng thông xanh thẳm
xen giữa các thung lũng nhỏ. Con đường uốn lượn qua các bản làng người Mông,
người Dao nằm nép mình bên sườn núi. Đôi khi bắt gặp những em bé trong trang
phục dân tộc rực rỡ tung tăng bên đường, chúng tôi lại cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp
bình dị của cuộc sống nơi đây.
Khoảng 12 giờ 30 phút, đoàn đến thị trấn Yên Minh. Một
lần nữa, ông bà chủ quán cà phê lại nhiệt tình mời chúng tôi cùng dùng bữa trưa
tại một nhà hàng lớn ven đường. Sự chân thành và hiếu khách của những người mới
quen khiến chúng tôi vô cùng cảm động. Tuy nhiên, vì muốn tranh thủ thời gian
để tiếp tục hành trình nên chúng tôi đành khéo léo từ chối và hẹn ngày trở lại
Hà Giang sẽ có dịp gặp nhau. Đi thêm một đoạn đường nữa, ở độ cao hơn một nghìn
mét so với mực nước biển, chúng tôi ghé vào một quán ăn nhỏ nằm bên sườn núi.
Chủ quán là một cô gái chừng ngoài hai mươi tuổi, nhanh nhẹn và hoạt bát. Cách
nói chuyện duyên dáng cùng nụ cười thân thiện của cô khiến bữa cơm trở nên ngon
miệng hơn hẳn. Món ăn không có gì cầu kỳ, chỉ là những món quen thuộc của miền
núi, nhưng sự chân thành của người phục vụ đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng
chúng tôi.
Rời quán ăn, nhìn con đường vẫn tiếp tục uốn lượn về
phía Đồng Văn và Lũng Cú, tôi hiểu rằng vẻ đẹp của Hà Giang không chỉ nằm ở
những dãy núi đá hùng vĩ hay những cung đường ngoạn mục. Điều làm du khách nhớ
mãi còn là tấm lòng mộc mạc, chân tình và hiếu khách của những con người nơi
miền cực Bắc. Chính những cuộc gặp gỡ bất ngờ trên đường đi đã khiến chuyến du
hành đến cao nguyên đá Đồng Văn trở thành một kỷ niệm đẹp, khó có thể phai mờ
theo năm tháng.
14 giờ chiều, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình hướng
về Đồng Văn – vùng đất mà từ lâu đã được xem là trái tim của Cao nguyên đá.
Chặng đường chỉ hơn một trăm cây số nhưng đối với những người lần đầu đặt chân
đến đây, đó thực sự là một thử thách đáng nhớ.
Ngay từ khi xe bắt đầu rời khỏi những đoạn đường tương
đối bằng phẳng, chúng tôi đã cảm nhận rõ sự thay đổi của địa hình. Con đường
trước mặt không còn uốn lượn nhẹ nhàng mà dựng đứng như muốn leo thẳng lên bầu
trời. Chiếc xe chậm chạp bò lên từng con dốc cao ngất, tiếng động cơ gằn lên
liên tục như đang dồn hết sức lực để chinh phục những vách núi đá tai mèo sừng
sững.
Ngồi trong xe, chúng tôi đều bám chặt vào thành ghế.
Thế nhưng những cú nghiêng người đột ngột vẫn khiến ai nấy không khỏi giật
mình. Hết đổ sang trái lại nghiêng sang phải. Không chỉ vì mặt đường gồ ghề mà
còn bởi những khúc cua tay áo nối tiếp nhau bất tận. Có những đoạn nhìn qua cửa
kính chỉ thấy vách đá dựng đứng sát bên, còn phía đối diện là vực sâu hun hút.
Mỗi lần xe vào cua, cảm giác như chỉ cần sơ suất một chút là có thể lao thẳng
xuống khoảng không mờ mịt phía dưới.
Nhưng chính trong sự hiểm trở ấy lại ẩn chứa vẻ đẹp kỳ
vĩ của núi rừng Hà Giang. Những dãy núi đá xếp chồng lên nhau như những bức
tường thành khổng lồ do thiên nhiên tạo dựng qua hàng triệu năm. Màu xám của đá
hòa cùng màu xanh thẫm của cây rừng tạo nên một khung cảnh vừa hùng vĩ vừa
hoang sơ.
Đang mải ngắm cảnh, bất chợt phía trước chỉ còn là một
màn trắng xóa. Mây từ đâu kéo đến phủ kín con đường. Lái xe lập tức bật toàn bộ
hệ thống đèn nhưng vẫn không nhìn rõ được quá vài mét. Chiếc xe phải dừng lại
giữa đường. Trong khoang xe bỗng trở nên im lặng. Người lái xe căng mắt nhìn về
phía trước, mồ hôi túa ra dù thời tiết khá lạnh.
Lúc ấy, tiến lên cũng không được mà lùi lại cũng chẳng
xong. Chỉ cần lệch tay lái một chút là có thể va vào vách đá hoặc trượt xuống
vực sâu. Chúng tôi ngồi yên, hồi hộp chờ đợi. May mắn thay, chỉ vài phút sau,
làn mây dần tan loãng. Con đường quen thuộc lại hiện ra mờ mờ trước mắt.
Khi xe vượt qua đám mây, một cảnh
tượng tuyệt đẹp mở ra khiến tất cả chúng tôi gần như quên hẳn cảm giác lo sợ
vừa rồi. Từ trên cao nhìn xuống, con đường vừa đi qua hiện lên như một dải lụa
mềm mại quấn quanh sườn núi. Biển mây bồng bềnh phủ kín các thung lũng, còn
những ngọn núi đá tai mèo nhô lên như những hòn đảo giữa đại dương trắng bạc.
Khung cảnh ấy đẹp đến mức không một bức ảnh nào có thể ghi lại trọn vẹn.
Khoảng 16 giờ, chúng tôi đến thung lũng Sà Phìn để
tham quan Khu di tích nhà họ Vương, thường được du khách gọi là dinh Vua Mèo.
Công trình nổi tiếng này nằm giữa một thung lũng rộng, được bao bọc bởi những
dãy núi đá hùng vĩ.
Theo tài liệu giới thiệu tại khu di tích, dinh thự
được ông Vương Chính Đức cho xây dựng trong suốt tám năm mới hoàn thành. Người
ta kể rằng vị trí xây nhà do một thầy địa lý người Trung Quốc lựa chọn rất kỹ
lưỡng. Giữa thung lũng có một gò đất nổi lên giống hình mai rùa. Phía trước là
ngọn núi mang dáng dấp mâm xôi, phía sau là những dãy núi cao tạo thành bức
bình phong tự nhiên. Theo quan niệm phong thủy phương Đông, đó là thế đất quý
hiếm.
Ngôi nhà được xây dựng chủ yếu bằng đá và gỗ quý.
Những người thợ lành nghề từ Quảng Châu và Tứ Xuyên được mời sang thi công.
Kiến trúc mang đậm phong cách Trung Hoa cổ nhưng vẫn hòa quyện với nét văn hóa
của người H’Mông trên cao nguyên đá. Toàn bộ công trình được bố trí theo hình
chữ Mục với ba lớp nhà cao dần vào phía trong. Sáu mươi bốn gian phòng được
phân chia thành nơi ở, nơi làm việc, kho chứa, khu canh gác và các công trình
phụ trợ khác.
Dạo bước trong những sân đá phủ màu thời gian, chúng
tôi không khỏi hình dung về một thời kỳ vàng son của dòng họ từng có ảnh hưởng
lớn nhất vùng cực Bắc. Thế nhưng mùa này khách du lịch khá thưa thớt. Khu chợ
Sà Phìn bên ngoài cũng vắng vẻ đến lạ thường. Những khoảng sân rộng im lìm dưới
nắng chiều khiến ngôi dinh thự cổ càng thêm phần trầm mặc.
Rời khu di tích, chúng tôi gặp vài người được giới
thiệu là con cháu của dòng họ Vương. Họ sống bình dị như bao người dân khác
trong vùng. Nhìn những gương mặt chất phác ấy, tôi bỗng nhớ tới câu nói của
người xưa: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Thời gian quả thực có
thể làm thay đổi tất cả.
Khoảng 17 giờ 30 phút, sau quãng đường gần 120 km từ
thành phố Hà Giang, chúng tôi đặt chân tới thị trấn Đồng Văn. Đúng lúc đó phiên
chợ chiều vẫn còn khá nhộn nhịp. Tiếng người mua bán, tiếng gọi nhau í ới vang
lên khắp khu vực chợ. Những gian hàng bày bán đủ loại sản vật vùng cao từ rau
củ, thổ cẩm cho đến đồ gia dụng.
Trong khi một số người trong đoàn mải mê mặc cả và mua
sắm, tôi tranh thủ đi dạo quanh những con phố nhỏ để chụp ảnh. Đồng Văn hiện ra
bình dị nhưng rất cuốn hút. Những mái nhà cổ nhuốm màu thời gian nằm nép mình
bên sườn núi, tạo nên vẻ đẹp riêng không nơi nào có được.
Sau khi nhận phòng tại khách sạn, chúng tôi nghỉ ngơi
đôi chút rồi ra khu phố cổ dùng bữa tối. Trời vùng cao tối rất nhanh. Chỉ trong
chốc lát, màn đêm đã phủ xuống toàn bộ thị trấn. Cái lạnh cũng theo đó tràn về,
len lỏi qua từng lớp áo.
Bữa cơm tối diễn ra trong một quán nhỏ ấm cúng. Sau
khi ăn xong, chẳng ai muốn đứng dậy ngay. Chúng tôi ngồi nhâm nhi chén trà
nóng, trò chuyện và tận hưởng bầu không khí yên bình của phố núi. Những ngôi
nhà cổ, ánh đèn vàng hắt ra từ khung cửa gỗ cùng nhịp sống chậm rãi khiến người
ta có cảm giác như đang sống trong một thời gian khác.
Hơn 20 giờ, cả đoàn mới trở về khách sạn. Bên ngoài,
phố xá đã vắng lặng. Nhiều cửa hàng đóng cửa từ sớm, chỉ còn vài ánh đèn leo
lét trong màn sương lạnh.
Về đến phòng nghỉ, tôi lập tức áp dụng những kinh
nghiệm chống rét đã tích lũy từ những năm tháng sơ tán thời chiến. Sau khi ngâm
chân bằng nước nóng, tôi quấn kín bàn chân, mặc thêm nhiều lớp quần áo và đắp
tất cả những gì có thể lên người. Nhờ vậy, đêm ấy tôi ngủ một giấc thật sâu và
ngon lành. Trong khi đó, ông bạn đồng hành có phần chủ quan hơn. Đến nửa đêm,
cái lạnh cao nguyên mới bắt đầu thấm dần vào người khiến ông phải trở dậy tìm
thêm chăn. Đó cũng là một kỷ niệm khó quên trong đêm đầu tiên của chúng tôi ở
Đồng Văn – miền đá xám hùng vĩ nơi cực Bắc Tổ quốc.
Sáng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên còn chưa đủ
sức xua tan lớp sương mỏng đang phủ lên thị trấn Đồng Văn, chúng tôi đã thức
dậy. Đêm vùng cao tháng đông lạnh buốt, hơi lạnh như ngấm vào từng lớp áo,
khiến ai nấy chỉ muốn cuộn mình trong chăn thêm một lúc. Thế nhưng hành trình
đến Lũng Cú – điểm cực Bắc thiêng liêng của Tổ quốc – đang chờ phía trước nên
cả đoàn nhanh chóng sửa soạn rồi rủ nhau ra phố tìm bữa sáng.
Quán ăn quen thuộc từ tối hôm trước đã mở cửa. Bữa
sáng vẫn là những bát phở gà nóng hổi bốc khói nghi ngút. Sau một đêm giá rét,
được húp từng thìa nước dùng ngọt thanh giữa tiết trời vùng cao quả thật là một
cảm giác dễ chịu khó quên. Chưa yên tâm với cái lạnh đang bao trùm cao nguyên
đá, chúng tôi gọi thêm nửa con gà luộc chân đen – đặc sản nổi tiếng của vùng
Đồng Văn – và một cút rượu ngô. Chút men cay nồng lan tỏa trong người khiến ai
nấy cảm thấy ấm áp hơn, tinh thần cũng phấn chấn hẳn lên để chuẩn bị cho một
ngày di chuyển dài.
Tuy nhiên, mọi việc không diễn ra suôn sẻ ngay từ đầu.
Khi kiểm tra xe trước lúc xuất phát, chúng tôi phát hiện một chiếc lốp sau bị
xuống hơi. Thế là cả nhóm lại xúm vào thay lốp. Những công việc tưởng đơn giản
như vậy nhưng trong chuyến đi dài thường dễ trở thành kỷ niệm đáng nhớ. Người
giữ kích, người tháo ốc, người loay hoay tìm dụng cụ, vừa làm vừa đùa vui khiến
không khí buổi sáng thêm rộn ràng. Sau khi thay lốp xong, chúng tôi lái xe ra
đầu thị trấn tìm cây xăng để đổ đầy bình. Đến nơi mới biết cây xăng chưa mở
cửa. Cả đoàn đành ngồi chờ thêm khoảng mười phút. Khi nhân viên bán xăng xuất
hiện, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Đổ đầy bình xăng xong, chúng tôi tranh thủ
hỏi thăm một cơ sở sửa chữa lốp xe để kiểm tra lại chiếc lốp vừa thay. Người
dân địa phương chỉ cho một ga-ra nằm ngay đầu con dốc dẫn ra khỏi thị trấn.
Điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là ga-ra ở Đồng Văn
lại được đầu tư khá bài bản. Trong xưởng có pa lăng nâng xe, máy bơm hơi, máy
tháo lắp lốp và nhiều thiết bị mà ngay cả ở các thị trấn đồng bằng cũng không
phải nơi nào cũng có. Tuy nhiên, trang thiết bị hiện đại không đồng nghĩa với
tốc độ làm việc nhanh. Những người thợ ở đây có vẻ chưa thật thành thạo trong
việc sử dụng máy móc. Chỉ một chiếc lốp xe mà họ loay hoay gần một giờ đồng hồ
mới hoàn thành.
Nhưng cái chậm ấy lại mang đến
cho tôi một khoảng thời gian quý giá. Tranh thủ lúc chờ đợi, tôi đi ra phía sau
ga-ra. Từ đây có thể nhìn bao quát gần như toàn bộ thị trấn Đồng Văn. Những dãy
núi đá tai mèo nối tiếp nhau đến tận chân trời, lớp nọ chồng lên lớp kia như
những con sóng hóa đá khổng lồ. Khắp nơi chỉ thấy đá và đá, đúng với hình ảnh
đặc trưng của Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Trong nắng
sớm, những mảng núi xám hiện lên vừa hùng vĩ vừa khắc nghiệt. Tôi tranh thủ
chụp vài tấm ảnh lưu niệm, cố ghi lại vẻ đẹp đặc biệt của vùng đất nơi địa đầu
cực Bắc.
Hơn tám giờ sáng, chúng tôi chính thức lên đường đi
Lũng Cú. Quãng đường chỉ hơn ba mươi cây số nhưng uốn lượn liên tục theo sườn
núi. May mắn là đường khá tốt và đặc biệt rất ít xe cộ. Thứ xuất hiện nhiều
nhất trên đường không phải ô tô hay xe máy mà là những đoàn người đi bộ. Họ
lặng lẽ bước đi trên những con đường quanh co, trên lưng gùi đủ loại hàng hóa:
khi là thân cây ngô, khi là những bó đót lớn hay những vật dụng sinh hoạt
thường ngày. Cuộc sống nơi đây dường như vẫn giữ nguyên nhịp điệu giản dị và
cần mẫn từ bao đời.
Khi đi qua xã Ma Lé, chúng tôi bắt gặp cảnh tượng đông
vui hiếm thấy. Người dân từ các bản làng xa gần đổ về họp chợ phiên. Những bộ
trang phục dân tộc rực rỡ sắc màu nổi bật giữa nền đá xám của cao nguyên. Từ xa
đã nghe thấy tiếng nói cười, tiếng trao đổi mua bán và cả tiếng trẻ con nô đùa.
Chợ phiên vùng cao luôn mang đến cảm giác rất đặc biệt, không chỉ là nơi giao
thương mà còn là dịp gặp gỡ, giao lưu của cộng đồng các dân tộc.
Sau gần một giờ đồng hồ len lỏi qua những cung đường
quanh co, cột cờ Lũng Cú cuối cùng cũng hiện ra trước mắt. Công trình nằm trong
một thung lũng tương đối kín đáo, được bao bọc bởi những dãy núi đá. Khoảnh
khắc nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh núi Rồng, ai trong đoàn
cũng cảm thấy xúc động. Dù đã xem nhiều hình ảnh trên báo chí hay truyền hình,
cảm giác được tận mắt chứng kiến vẫn hoàn toàn khác biệt.
Lập tức, mọi người dừng xe để chụp ảnh. Một ông bạn
trong đoàn còn cẩn thận đưa cả chiếc xe vào khuôn hình, sao cho biển số hiện
rõ. Anh bảo rằng sau này nhìn lại sẽ nhớ chính chiếc xe đã cùng chúng tôi vượt
hàng nghìn cây số để đến nơi cực Bắc của đất nước.
Xe chạy đến gần chân núi Rồng thì gặp một thanh chắn.
Tôi xuống xe, đi bộ vào phía trong hỏi đường. Hóa ra đây là khu vực kiểm soát
của đồn biên phòng. Người lính trẻ trực gác rất niềm nở, hướng dẫn chúng tôi
sang khu bán vé tham quan. Sau khi hoàn tất thủ tục, thanh chắn được mở và xe
tiếp tục chạy lên khu vực đỗ xe trên sườn núi.
Từ bãi đỗ xe, chúng tôi đi bộ theo những bậc đá dẫn
lên cột cờ. Dù số bậc thang không quá nhiều nhưng với những người đã trải qua
một chặng đường dài thì cũng đủ để thở dốc. Nhìn dáng vẻ mệt mỏi của các bạn
đồng hành, tôi không quên trêu: “Lúc nào cũng nhận mình khỏe, giờ leo lên đây
mới biết sức khỏe thực sự thế nào!”
Đến chân cột cờ, mọi người thay nhau chụp ảnh kỷ niệm.
Lá cờ rộng lớn tung bay trong gió như nhắc nhở về chủ quyền thiêng liêng của
đất nước. Đứng ở nơi địa đầu Tổ quốc, nhìn xuống những bản làng nhỏ bé giữa núi
đá trùng điệp, ai cũng cảm thấy tự hào và xúc động.
Trên đường xuống núi, chúng tôi
gặp rất nhiều trẻ em địa phương. Các em hồn nhiên đứng bên đường, tươi cười vẫy
tay chào khách qua lại. Ban đầu tôi nghĩ có lẽ các em được người lớn dạy bảo
nên mới lễ phép như vậy. Nhưng sau này tôi mới hiểu rằng còn một lý do khác.
Những đoàn khách đến Lũng Cú thường mang theo bánh kẹo, sách vở hoặc những món
quà nhỏ dành tặng trẻ em vùng cao. Tình cảm chân thành ấy đã tạo nên sự gắn bó
đặc biệt giữa du khách và những đứa trẻ nơi địa đầu đất nước.
Chúng tôi hôm ấy không chuẩn bị món quà nào. Nghĩ lại
vẫn thấy áy náy đôi chút. Bởi vậy tôi tự nhủ rằng nếu có dịp trở lại Lũng Cú
trong tương lai, nhất định sẽ mang theo vài món quà nhỏ cho các em. Giá trị vật
chất có thể không lớn, nhưng đó là cách để chia sẻ sự quan tâm và tình cảm với
những đứa trẻ đang lớn lên giữa núi đá và gió lạnh của vùng cực Bắc thân yêu.
Dọc đường trở về từ Lũng Cú, khi những cảm xúc về cực
Bắc Tổ quốc vẫn còn đọng lại trong lòng, chúng tôi quyết định ghé vào chợ Ma Lé
để tham quan và tìm hiểu thêm về đời sống của người dân vùng cao Hà Giang. Chợ
không lớn nhưng mang đậm sắc màu văn hóa miền núi. Ngay từ đầu chợ đã thấy một
quán ăn nhỏ bày bán món thắng cố – món ăn truyền thống nổi tiếng của đồng bào
các dân tộc vùng cao. Vài người đàn ông ngồi quanh những chiếc bàn thấp, vừa
nhâm nhi chén rượu ngô thơm nồng vừa trò chuyện rôm rả. Khung cảnh ấy tạo nên
một nét riêng rất đặc trưng mà khó có thể bắt gặp ở những khu chợ vùng đồng
bằng.
Bên trong chợ, hàng hóa được bày bán khá phong phú. Từ
quần áo, khăn đội đầu, váy áo thổ cẩm đến những vật dụng sinh hoạt hằng ngày,
tất cả đều phản ánh cuộc sống bình dị của người dân nơi đây. Những người phụ nữ
dân tộc trong bộ trang phục nhiều màu sắc đi lại giữa các dãy hàng tạo nên một
bức tranh sinh động. Giữa chợ, một cậu thanh niên bày bán điện thoại di động và
các thiết bị điện tử. Chiếc loa nhỏ mở nhạc với âm lượng khá lớn khiến không
khí vốn yên bình của vùng núi trở nên sôi động hơn. Hình ảnh ấy cho thấy sự
giao thoa giữa đời sống truyền thống và nhịp sống hiện đại đang dần hiện diện ở
những vùng đất xa xôi.
Phía ngoài khu chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán
gia súc. Vài con trâu, bò, lợn được người dân dắt đến để trao đổi, mua bán.
Những cuộc mặc cả diễn ra tự nhiên, chân chất và mang đậm phong cách của các
phiên chợ vùng cao. Chúng tôi thong thả đi một vòng quanh chợ, ngắm nhìn những
khuôn mặt mộc mạc, những nụ cười hiền hậu của người dân địa phương rồi tiếp tục
hành trình trở về.
Đến thị trấn Yên Minh, đúng như dự định từ trước,
chúng tôi ghé vào một quán ăn nhỏ ven đường để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi. Sau
nhiều ngày rong ruổi trên những cung đường núi đá, một bữa cơm nóng cùng ít
phút thư giãn cũng đủ giúp mọi người lấy lại sức lực. Khoảng 13 giờ 30 phút, cả
đoàn tiếp tục lên đường xuôi về thành phố Hà Giang.
Trên đường đi, chúng tôi ghé thăm một cơ sở nuôi ong.
Những dãy thùng ong được đặt ngay ngắn dưới tán cây, xung quanh là không gian
trong lành của núi rừng. Mật ong ở đây được giới thiệu là hoàn toàn tự nhiên,
chất lượng rất tốt. Ban đầu chúng tôi dự định mua một ít làm quà, nhưng do
không có vật dụng thích hợp để đựng nên đành tiếc nuối ra về.
Khoảng 17 giờ, chúng tôi trở lại thành phố Hà Giang.
Sau khi ghé cây xăng đổ đầy bình nhiên liệu cho chặng đường dài phía trước, cả
nhóm bàn bạc và đi đến quyết định sẽ chạy thẳng về Hà Nội để kịp đón đêm Noel.
Tuy nhiên, ngay lúc ấy một người bạn trong đoàn bắt đầu cảm thấy mệt mỏi. Có lẽ
cái lạnh vùng cao đã ngấm vào người sau đêm lưu trú ở Đồng Văn.
Xe tiếp tục lăn bánh trong ánh chiều muộn. Khi đến địa
phận Tuyên Quang thì trời đã tối hẳn. Chúng tôi dừng lại tại một quán ăn ven
đường để dùng bữa tối, đồng thời theo dõi tình trạng sức khỏe của người bạn
đồng hành. Sau khi nghe chúng tôi kể về hành trình những ngày qua, chủ quán
đoán rằng anh bị cảm lạnh. Bà lấy ra vài quả thảo quả khô và bảo ăn thử để làm
ấm cơ thể. Đó chỉ là một cử chỉ nhỏ nhưng khiến chúng tôi cảm nhận rõ sự chân
tình của những người dân nơi đây.
Thế nhưng sau khi lên xe tiếp tục hành trình, người
bạn ấy vẫn tỏ ra khá khó chịu và đề nghị nghỉ lại Tuyên Quang qua đêm. Trước
tình hình đó, hai người em trong đoàn liền nhớ đến chiếc chăn len mới mua ở
Đồng Văn. Chiếc chăn vẫn còn nguyên nếp gấp, chưa từng sử dụng. Thế là họ quyết
định “bóc tem” ngay trên xe, quấn kín người ông anh từ đầu đến chân để giữ ấm.
Không khí trong xe lúc ấy vừa lo lắng vừa buồn cười.
Mọi người liên tục hỏi han tình hình sức khỏe của anh. Thế nhưng chỉ khoảng
mười lăm phút sau, những tiếng than phiền dần biến mất. Thay vào đó là tiếng
ngáy đều đều vang lên giữa khoang xe. Ai nấy nhìn nhau rồi bật cười. Có lẽ hơi
ấm từ chiếc chăn cùng sự mệt mỏi sau nhiều ngày di chuyển đã giúp anh ngủ ngon.
Thấy tình hình ổn định, cả đoàn quyết định tiếp tục hành trình về Hà Nội ngay
trong đêm.
Đường về càng lúc càng quen
thuộc. Sau nhiều giờ liên tục di chuyển, đến khoảng 23 giờ 30 phút, chúng tôi
đã vượt qua quãng đường hơn 450 km từ Lũng Cú để trở về Hà Nội an toàn. Thành
phố lúc này đang rộn ràng trong không khí Giáng sinh. Phố phường sáng rực ánh
đèn, từng dòng người trẻ tuổi nô nức đổ ra đường vui chơi. Những tiếng cười
nói, những hàng xe nối dài và sắc màu lung linh của đêm Noel tạo nên một khung
cảnh hoàn toàn khác với vẻ tĩnh lặng của núi đá Đồng Văn mà chúng tôi vừa rời
xa.
Khi chiếc xe dừng bánh, tất cả đều cảm thấy nhẹ nhõm.
Chuyến đi đã khép lại tốt đẹp. Chúng tôi không chỉ được đặt chân đến cực Bắc
thiêng liêng của Tổ quốc mà còn có dịp trải nghiệm cảnh sắc hùng vĩ của Hà
Giang, khám phá văn hóa vùng cao và ghi lại nhiều kỷ niệm đáng nhớ cùng bạn bè.
Tổng cộng cả hành trình dài 915,3 km, trong đó có 63 km đi Bắc Mê rồi quay trở
lại Hà Giang. Chi phí trung bình chỉ khoảng 1,8 triệu đồng mỗi người – một con
số khá khiêm tốn cho một chuyến đi đầy ắp trải nghiệm. Điều còn đọng lại sau
chuyến đi không phải là số ki-lô-mét đã vượt qua hay số tiền đã chi tiêu, mà
chính là những ký ức đẹp, những tình huống bất ngờ và tình bạn bền chặt được
vun đắp trên từng cung đường của miền cực Bắc.
Nhận xét
Đăng nhận xét