Những kỷ niệm về ngôi nhà 97
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn!
(Chế Lan Viên – Tiếng hát con tàu)
Mỗi con người trong cuộc đời đều có những nơi chốn mà
chỉ cần nhắc đến tên thôi cũng đủ làm sống dậy cả một miền ký ức. Với tôi, ngôi
nhà số 97 là một nơi như thế. Đó không chỉ là một địa chỉ cư trú đơn thuần, mà
còn là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của tuổi thơ, của gia đình và của những năm
tháng đất nước còn chìm trong nghèo nàn gian khó. Mỗi lần nhớ lại, hình ảnh
ngôi nhà ấy hiện lên rõ ràng như mới hôm qua, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua.
Câu chuyện bắt đầu từ cuối mùa xuân năm 1974, khi bố
tôi từ chiến trường miền Nam trở về miền Bắc sau mười năm liên tục chiến đấu.
Mười năm ấy là quãng thời gian dài đằng đẵng, đủ để một đứa trẻ như tôi trở
thành thanh niên, đủ để biết bao đổi thay diễn ra trong gia đình và ngoài xã
hội. Với riêng gia đình tôi, sự trở về của bố là niềm vui lớn lao không gì sánh
được.
Gia đình đoàn tụ trong niềm vui khó tả. Đối với chúng
tôi, sự hiện diện của bố trong ngôi nhà nhỏ là điều thiêng liêng hơn bất cứ
phần thưởng vật chất nào. Những bữa cơm gia đình vốn vắng bóng người cha nay trở
nên ấm cúng. Những câu chuyện chiến trường, những kỷ niệm đồng đội, những tâm
sự sau bao năm xa cách được kể lại trong không khí đầm ấm của mái nhà.
Tháng 4 năm 1974, ghi nhận những đóng góp to lớn trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bố tôi được phong quân hàm Trung tướng và
đảm nhiệm cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đầu năm 1975, sau Tết Nguyên đán không lâu, Bố tôi được Tổng cục thu xếp chuyển
về ở tại số 97 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Sau nhiều năm sống trong hoàn cảnh
chiến tranh, phải chia cắt và di chuyển qua nhiều nơi, lúc này cả gia đình mới
thực sự được đoàn tụ dưới một mái nhà giữa lòng Thủ đô là niềm vui lớn đối với
tất cả mọi người.
Thời điểm ấy, Bố tôi đang công tác. Công việc của ông
rất bận rộn, nhưng việc chuyển nhà vẫn được tiến hành khá khẩn trương. Đồ đạc
của gia đình chuyển từ Hà Đông ra không nhiều. Mọi việc chỉ diễn ra trong một
buổi sáng. Phần lớn là những vật dụng do cơ quan trang bị như ti-vi, tủ lạnh,
bàn ghế và vài chiếc tủ quần áo bằng gỗ. So với nhiều gia đình khác, số tài sản
ấy có thể được coi là đáng kể, nhưng thực ra cũng chỉ là những vật dụng thiết
yếu phục vụ sinh hoạt.
Toàn bộ khu nhà số 97 nằm trên một mảnh đất khá rộng,
diện tích hơn bốn trăm mét vuông. Mặt tiền rộng trên mười mét, chiều sâu kéo
dài hơn bốn mươi mét, tạo thành một khuôn viên dài và thoáng. Kiến trúc của
ngôi nhà mang đậm phong cách biệt thự Pháp. Từ cổng vào là tòa nhà hai tầng với
mái ngói đỏ nổi bật giữa khu đất hình chữ nhật khá vuông vắn. Bao quanh là
khoảng sân rộng với nhiều cây xanh tạo cảm giác yên tĩnh, tách biệt khỏi sự ồn
ào của phố xá bên ngoài. Tách biệt với tòa biệt thự là dãy nhà một tầng phía
sau. Đó là một dãy nhà ngang một tầng lợp ngói cũ có mái vẩy rộng, tạo một hàng
hiên dài giúp cho việc đi lại từ nhà trên xuống nhà dưới thuận tiện. Dãy nhà
được ngăn thành 3 phòng nhỏ, mỗi phòng có diện tích hơn chục mét vuông. Sau
cùng là khu nhà bếp, nhà để xe ô tô và khu vệ sinh dùng chung cho cả gia đình.
Ngôi nhà số 97 Trần Hưng Đạo cũng để lại trong tôi
nhiều ấn tượng sâu sắc. Đây là một biệt thự được xây dựng từ thời Pháp thuộc.
Qua những tài liệu và hình ảnh mà tôi có dịp xem sau này, có thể thấy khu vực
này đã được quy hoạch từ rất sớm. Một số bức ảnh chụp toàn cảnh Hà Nội từ đầu
thế kỷ XX cho thấy khu đất nơi ngôi nhà tọa lạc khi đó còn khá thưa thớt. Đến
năm 1938, trong những bức ảnh chụp từ trên cao khu Đấu xảo Hà Nội, có thể nhận
ra rõ ràng hai căn biệt thự mang số 95 và 97 đã được xây dựng hoàn chỉnh. Riêng
ngôi nhà số 99 bên cạnh dường như vẫn đang trong quá trình xây dựng. Trong khi
đó, những bức ảnh có niên đại khoảng năm 1923 lại chưa ghi nhận sự xuất hiện
của các công trình này. Điều đó cho thấy khu biệt thự được hình thành vào
khoảng giữa hai mốc thời gian nói trên.
Thời gian đầu, gia đình chỉ có Bố, Mẹ và tôi ở nên tập
trung hết vào tòa nhà hai tầng. Tầng một của tòa nhà là nơi được bố trí chỗ làm
việc và sinh hoạt của Bố tôi. Phía trước là phòng khách rộng, được chia thành
hai không gian liên thông với nhau. Cửa chính mở ra mặt phố Trần Hưng Đạo. Đây
là nơi bố tôi sử dụng làm nơi làm việc và cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ
của Bố tôi với đồng chí, đồng đội và bạn bè. Căn phòng phía sau là nơi sinh
hoạt chung của gia đình và cũng là phòng ăn của bố tôi. Thời điểm đó, trong
hoàn cảnh khó khăn, gia đình để bố tôi ăn riêng, cũng một phần do tính chất
công việc của ông. Gọi là phòng ăn nhưng cũng khá rộng rãi nên tôi có một cái
giường để ngủ ở đây. Căn phòng có cửa thông xuống khu vực phía sau tòa nhà.
Phần giữa tòa nhà là chiếc cầu thang dẫn lên tầng hai bằng
gỗ lim. Màu gỗ đã sẫm lại theo thời gian, tạo nên vẻ cổ kính đặc trưng. Những
bậc cầu thang chắc chắn, nhẵn bóng bởi dấu chân của nhiều thế hệ người từng
sinh sống trong ngôi nhà. Xuống hết cầu thang có một lối đi riêng dẫn ra cửa phía
bên cạnh của tòa nhà.
Tầng hai là nơi sắp xếp các phòng ngủ của bố và mẹ. Đằng
trước có hai phòng ngủ. Phòng ngoài cùng sở hữu một ban công nhìn thẳng ra phố Trần
Hưng Đạo với hàng cây cổ thụ xanh mát. Từ đây có thể quan sát nhịp sống của
thành phố và cảm nhận rõ sự thay đổi của Hà Nội trong những ngày cuối chiến
tranh. Phòng này, bố tôi dành cho mẹ tôi. Phòng phía trong nằm gần lối cầu
thang hơn, thuận tiện cho việc đi lại. Phòng này là phòng ngủ của bố tôi.
Phía sau của tầng hai là một khoảng sân thượng nhỏ.
Tuy diện tích không lớn nhưng đây là nơi đón gió và ánh sáng rất tốt. Một phần
sân bị che khuất bởi dãy công trình phụ phía cuối nhà gồm bếp, phòng tắm và khu
vệ sinh được cải tạo và xây thêm sau này nhưng không sử dụng vì không có nước
dẫn lên.
Giữa tòa nhà hai tầng ở trước và khu vực nhà dưới có
một khoảng sân nhỏ nhưng lại là nơi diễn ra phần lớn sinh hoạt thường nhật của
cả gia đình. Khoảng sân ấy không rộng, nhưng là nơi chứa nước dùng sinh hoạt.
Một bể nước xây bằng xi măng cao chừng mét rưỡi với chỗ rửa ráy, giặt giũ. Đối với chúng tôi khi ấy, bể nước là một công
trình quan trọng chẳng khác gì trái tim của cả khu nhà.
Những năm đầu mới chuyển đến, nguồn nước còn dồi dào.
Nước máy chảy khá mạnh, nhiều hôm vào ban đêm nước đầy đến mức tràn cả ra ngoài
thành bể. Bọn trẻ chúng tôi vì thế tha hồ sử dụng. Tắm giặt, rửa chân tay hay
nghịch nước đều không phải đắn đo. Nhưng rồi theo thời gian, áp lực nước yếu
dần. Chiếc bể lớn ngày nào lúc nào cũng chỉ còn một lớp nước lưng chừng dưới
đáy. Muốn có nước dùng phải căn giờ, phải tiết kiệm hơn trước.
Lúc mới chuyển đến nhà 97, phần nhà ngang phía sau
được dành hoàn toàn cho những người đi theo phục vụ Bố tôi từ chiến trường trở
về. Đó là một nhóm bảo vệ gồm ba hoặc bốn chiến sĩ, lúc nào cũng mang theo súng
đạn và quân trang đầy đủ. Cùng sinh hoạt với họ còn có anh Lê Văn Nu, người dân
tộc quê ở Thanh Hóa, đảm nhiệm công việc cần vụ. Anh Thụy, người Thái Bình, là lái
xe riêng của Bố tôi. Ngoài ra còn có một số khác là cấp dưỡng, bảo vệ và chăm
sóc sức khỏe. Những người này phần lớn được điều động từ cơ quan Tổng cục ra
tăng cường phục vụ.
Tuy số lượng người không ít nhưng tất cả đều được bố
trí gọn gàng trong ba gian nhà ngang phía sau. Điều khiến tôi nhớ nhất là tinh
thần kỷ luật và nếp sống quân đội vẫn được duy trì ngay cả khi họ đã rời chiến
trường. Mọi sinh hoạt đều diễn ra nền nếp, ngăn nắp. Sáng sớm, mọi người thức
dậy đúng giờ, tập thể dục, quét dọn sân vườn rồi mới bắt đầu công việc trong
ngày. Không khí ấy khiến ngôi nhà luôn mang dáng dấp của một đơn vị quân đội
thu nhỏ.
May mắn là không lâu sau ngày 30 tháng Tư lịch sử,
tình hình đất nước hoàn toàn thay đổi. Đội ngũ bảo vệ đông đảo không còn cần
thiết như trước nên dần được thuyên chuyển. Nhiều người trở về đơn vị hoặc nhận
nhiệm vụ mới. Trong nhà chỉ còn lại một số người phục vụ trực tiếp gồm lái xe,
bảo vệ, cấp dưỡng và cần vụ. Nhờ vậy không gian sinh hoạt trở nên rộng rãi hơn.
Sau đó Bố tôi lại điều anh Nghiêm Hà từ tỉnh đội Hà Đông ra làm thư ký riêng.
Vì thế các gian nhà phía sau vẫn được sử dụng hết công năng, luôn có người ở và
làm việc.
Trước khi gia đình tôi chuyển tới sinh sống, khu nhà
đã trải qua nhiều lần thay đổi chủ sử dụng. Mỗi đời chủ lại xây thêm hoặc sửa
chữa một vài hạng mục theo nhu cầu riêng. Chính vì vậy, trong khuôn viên xuất
hiện khá nhiều công trình chắp vá, tạm bợ. Có chỗ tường xây bằng gạch cũ, có
nơi mái lợp bằng fibro xi măng, lại có góc được tận dụng từ những vật liệu còn
sót lại. Dấu vết của thời gian hiện rõ trên từng bức tường loang lổ, từng cánh
cửa gỗ đã bạc màu.
Khi gia đình tôi đến ở, căn nhà vừa được sửa sang lại.
Tường được quét vôi mới, một số hạng mục xuống cấp đã được gia cố. Dù vậy, mọi
thứ cũng chỉ ở mức có thể sử dụng được chứ chưa thể gọi là khang trang. Nhưng
với lũ trẻ chúng tôi khi ấy, giữa thành phố Hà Nội, được sống trong một ngôi
nhà như thế đã là niềm hạnh phúc lớn lao. Mỗi góc sân, mỗi hành lang đều mang
đến cảm giác mới mẻ và hấp dẫn.
Trong toàn bộ khu nhà, công trình kiên cố nhất có lẽ
là căn hầm trú ẩn được xây dựng từ thời chiến tranh. Căn hầm nằm ở khoảng sân
phía trước, được đúc bằng bê tông rất chắc chắn. Những năm chiến tranh chống
Mỹ, đây là nơi trú ẩn khi còi báo động vang lên. Sau ngày đất nước thống nhất,
khi cuộc sống dần trở lại bình thường, căn hầm không còn cần thiết nữa. Khoảng
năm 1975, bố tôi quyết định cho phá bỏ.
Thế nhưng việc phá hầm không hề đơn giản. Tường bao
quanh được xây quá chắc, những nhát búa đầu tiên hầu như không làm suy chuyển
được bao nhiêu. Sau nhiều ngày đục phá vất vả, bố tôi quyết định giữ lại phần
khung tường còn lại, biến nơi đó thành một bồn cây lớn cao chừng nửa mét. Đất
được đổ đầy vào bên trong để làm vườn. Khi ấy bố tôi còn có một chiếc xe Jeep.
Ông cho lái xe xuống Hà Đông chở từng chuyến đất màu về đổ vào khu vườn mới.
Nhờ vậy mà nơi từng là hầm trú ẩn chiến tranh đã biến thành một khoảng xanh đầy
sức sống.
Ngay góc tường cạnh khu vườn ấy có một cây sấu cổ thụ
rất lớn. Cây sấu có lẽ đã tồn tại từ trước khi gia đình tôi chuyển đến nhiều
năm. Tán lá rộng che mát cả một khoảng sân lớn. Những ngày hè oi bức, bóng cây
trở thành nơi lý tưởng để ngồi nghỉ ngơi hoặc hóng gió. Đối với chúng tôi, cây
sấu giống như một người bạn già âm thầm chứng kiến mọi đổi thay của ngôi nhà.
Sát bức tường bên cạnh còn có một cây khế rất to. Tán
khế vươn sang cả sân nhà số 99 ở kế bên. Điều thú vị là gốc cây nằm bên này
nhưng nhiều cành mang quả lại chìa hẳn sang phía hàng xóm. Mỗi mùa khế chín,
những chùm quả vàng óng lủng lẳng bên kia tường khiến chúng tôi vừa thích thú vừa
buồn cười. Cây của nhà mình mà quả ngon lại nằm trong sân nhà người khác.
Giữa sân, ở đầu dãy nhà ngang, có một khoảng đất nhỏ.
Tại đó, bố tôi trồng một cây kim giao mang từ rừng Cúc Phương về vào năm 1974.
Khi mới đem về, cây chỉ cao hơn một mét. Bố tôi nâng niu chăm sóc như một báu
vật. Qua năm tháng, cây lớn dần, thân thẳng và tán lá xanh tốt. Đến năm 2006,
khi ngôi nhà được xây dựng lại, cây kim giao đã cao gần ba mét. Không còn chỗ
thích hợp để giữ lại nên gia đình đành đem tặng cho người khác. Đó là một trong
những điều khiến chúng tôi có chút tiếc nuối.
Bên cạnh cây kim giao còn có một giàn nho. Những năm
phát triển mạnh, dây nho phủ kín cả giàn, lá xanh um tạo nên một góc sân rất
đẹp tạo không gian xanh tươi, mát mẻ. Giàn nho ra quả, nhưng chua loét. Bố tôi
vẫn để lại, chủ yếu là lấy bóng mát cho ngôi nhà. Những năm tháng sau này, mẹ
tôi tận dụng cái giàn này để trồng rau và cây thực phẩm. Nào thiên lý, mướp,
gấc,.. thứ gì trồng được là mẹ đều thử. Khu vườn vì thế lúc nào cũng xanh tốt
và đầy sức sống. Còn bố tôi lại đặc biệt yêu hoa và cây cảnh. Ven các bức tường
quanh nhà, ông cho xây những bồn đất hẹp rồi trồng đủ loại hoa như hồng, thược
dược, đồng tiền và nhiều giống hoa khác. Đặc biệt nhất là những chậu loa kèn đỏ
rực nở vào mùa hè, khiến cả khu nhà bừng sáng.
Có một thời gian dài, phía sau căn nhà hai tầng còn
được trồng rất nhiều chuối pháo. Những bụi chuối mọc thành từng khóm lớn, lá
xanh mướt quanh năm. Mỗi khi nhìn lại ký ức ấy, tôi luôn cảm thấy ngôi nhà số
97 không chỉ là nơi ở, mà còn là một thế giới riêng của tuổi thơ, nơi từng gốc
cây, từng viên gạch và từng khoảng sân đều lưu giữ những kỷ niệm không thể nào
quên.
Khu nhà số 97 được tận dụng gần như toàn bộ diện tích
có thể sử dụng. Trong hoàn cảnh đất chật người đông của Hà Nội những năm sau
chiến tranh, không một khoảng không gian nào bị bỏ phí. Lối đi cạnh bên căn nhà
hai tầng cùng khoảng hẹp giữa nhà và bức tường ngăn với số nhà 99 được che chắn
bằng giấy dầu, biến thành nơi chứa than củi phục vụ việc đun nấu hằng ngày.
Sau những ngày ổn định dần, bộ phận phục vụ của Bố tôi
chỉ xếp gọn vào dãy nhà ngang. Dãy nhà cuối cùng, ngoài gian vẫn là nơi để xe
của Bố tôi. Gian bên được Mẹ tôi cải tạo thành nhà bếp và phòng ăn của gia
đình. Những bữa cơm hằng ngày tuy đơn sơ nhưng luôn đầm ấm. Kế bên là khu vệ
sinh, tạo thành một khu sinh hoạt khép kín, thuận tiện cho cuộc sống của cả
nhà. Phía sau cùng là cái kho nhỏ, nơi Mẹ tôi chứa củi gỗ và những đồ linh tinh
không dùng đến.
Vào thời điểm đó, như đã kể ở trên, gia đình thường
xuyên sinh sống tại số 97 chỉ có Bố, Mẹ và tôi. Anh Trần Thắng vẫn ở trong miền
Nam. Anh Trần Điền được cử sang Bungari học nghề. Trần Hải đang thực hiện nghĩa
vụ quân sự, sau đó lên Lạng Sơn học văn hóa rồi mới thi vào Đại học Xây dựng.
Vì vậy ngôi nhà tuy khá rộng nhưng nhiều lúc vẫn mang cảm giác vắng vẻ.
Lúc đó tôi vẫn đang tiếp tục hoàn thành chương trình
học Đại học những năm cuối. Có một chiếc giường đơn được kê sát tường trong phòng
ăn của Bố tôi. Cạnh đó là chiếc tivi Ba Lan khá hiện đại vào thời bấy giờ. Chiếc
tivi ấy nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt của cả gia đình. Mỗi tối, sau
khi công việc đã xong xuôi, mọi người lại quây quần trước màn hình để xem phim,
nghe ca nhạc hoặc theo dõi thời sự. Tuy vậy, cũng thật bất tiện cho tôi, vì thế,
khi chuyển công tác về Hà Nội năm 1978, tôi quyết định chuyển chiếc giường đơn
của mình lên tầng hai. Ở đó có một gian nhà tắm cũ nằm cạnh khoảng sân thượng
rộng và thoáng. Tôi kê giường vào góc phòng rồi biến nơi ấy thành không gian
riêng của mình. Những đêm hè nằm trên đó, qua khoảnh sân nhỏ tôi có thể nhìn
thấy bầu trời đầy sao, cảm nhận những làn gió mát thổi qua và tận hưởng cảm
giác yên tĩnh hiếm có giữa lòng Hà Nội. Sau bao năm tháng chiến tranh và những
lần sơ tán liên miên, đó là lần đầu tiên tôi thực sự cảm nhận được thế nào là
một cuộc sống bình yên. Khoảng sân thượng ấy, cùng chiếc giường đơn giản dị, đã
trở thành một phần ký ức đẹp đẽ của tuổi trẻ mà tôi luôn trân trọng mỗi khi nhớ
về ngôi nhà số 97 năm nào.
Năm 1977, anh Trần Thắng từ miền Nam ra Hà Nội và về
sống cùng gia đình. Bố tôi đã nhường lại căn phòng ngủ trên gác hai cho anh
Thắng sử dụng, còn bản thân ông chuyển xuống tầng một. Để có thêm không gian
sinh hoạt, bố dồn chỗ làm việc ra gian ngoài, dành gian trong làm nơi nghỉ ngơi
và tiếp khách. Đó là một sự sắp xếp giản dị nhưng thể hiện rõ tình cảm và trách
nhiệm của người cha đối với các con.
Cuối năm 1977, anh Trần Thắng lập gia đình. Sau khi
cưới, anh chị tiếp tục sinh sống tại căn phòng trên gác hai. Năm 1978, cháu
Phước Trung chào đời, mang thêm niềm vui và tiếng cười cho ngôi nhà vốn đã đông
người. Trong suốt những năm đầu của cuộc sống gia đình, anh chị cùng con nhỏ
gắn bó với căn phòng ấy. Tuy diện tích không lớn nhưng đó là nơi chứng kiến
những ngày tháng hạnh phúc đầu tiên của một gia đình trẻ. Đến cuối năm 1981,
khi điều kiện đã thuận lợi hơn, anh Thắng đưa vợ con chuyển về Khu tập thể Kim
Liên, nơi gia đình bên vợ có một căn hộ riêng.
Sau khi anh Thắng chuyển đi, căn phòng trên gác hai
được giao lại cho vợ chồng tôi. Đầu năm 1982, tôi lập gia đình và bắt đầu cuộc
sống riêng trong chính căn phòng đã từng gắn bó với anh trai mình. Một năm sau,
vào năm 1983, con trai tôi là Trần Tuấn ra đời. Căn phòng nhỏ ấy lại tiếp tục
đón nhận một thế hệ mới của gia đình. Đối với tôi, nơi đó không chỉ là chỗ ở mà
còn là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của những năm tháng tuổi trẻ, những niềm
vui, nỗi lo và cả những cố gắng vun đắp cho cuộc sống gia đình. Chúng tôi sinh
hoạt tại đây liên tục cho đến năm 2006.
Cũng trong khoảng thời gian ấy, năm 1979, Trần Điền từ
nước ngoài trở về nước. Mẹ tôi đã nhường cho anh căn phòng phía trước trên tầng
hai mà trước đó bà vẫn sử dụng. Bản thân mẹ chuyển xuống sống ở tầng một để các
con có điều kiện sinh hoạt thuận tiện hơn. Năm 1981, Trần Điền lập gia đình và
tiếp tục ở căn phòng đó cùng vợ con trong suốt nhiều năm. Từ khi trở về nước
cho đến năm 2006, gia đình Điền vẫn gắn bó với căn phòng này, biến nơi đó thành
mái ấm của riêng mình.
Trong khi các con lần lượt có gia đình và được bố mẹ
nhường chỗ ở, căn phòng dưới tầng một vốn là phòng ăn của Bố tôi, trở thành
không gian sinh hoạt chủ yếu của mẹ tôi. Đây vừa là nơi bà nghỉ ngơi, vừa là
nơi bố tôi dùng bữa hằng ngày. Mỗi buổi chiều, khi mọi người đi học, đi làm trở
về, cả gia đình lại quây quần bên mâm cơm tại căn phòng ấy. Ăn xong, việc dọn
dẹp cũng khá thuận tiện vì khu vực bể nước ở ngay gần đó. Mâm bát được chuyển
ra rửa nhanh chóng, mọi sinh hoạt diễn ra gọn gàng và ngăn nắp.
Căn phòng tầng một có nền lát đá hoa luôn được mẹ tôi
lau chùi sạch sẽ. Vào mùa hè, dù ngoài trời nắng nóng gay gắt, bên trong căn
phòng vẫn giữ được sự mát mẻ dễ chịu. Tuy nhiên, do tuổi đời ngôi nhà đã cao,
phần trần phía trên bị ngấm nước trong nhiều năm. Một lần, một góc trần bất ngờ
sụp xuống. Sự cố ấy khiến cả nhà phát hiện nhiều dầm gỗ đã bị mục nát nghiêm
trọng, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho toàn bộ khu vực sân thượng phía trên.
Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, gia
đình quyết định sửa chữa lớn. Những dầm gỗ cũ được thay thế bằng các thanh sắt
chữ I tận dụng từ đường tàu điện đã tháo dỡ. Phần trần vôi rơm truyền thống
cũng được thay bằng trần ván nhựa chắc chắn hơn. Để ngăn nước mưa tiếp tục thấm
xuống và bảo vệ kết cấu ngôi nhà, năm 1992 tiến hành cho lợp thêm một mái tôn
che kín toàn bộ sân thượng. Nhờ vậy, căn nhà trở nên an toàn và bền vững hơn.
Mẹ tôi tiếp tục sống trong căn
phòng tầng một ấy cho đến năm 2006. Trong gần ba thập kỷ, căn phòng không chỉ
là nơi ở mà còn là trung tâm sinh hoạt của cả gia đình, chứng kiến sự trưởng
thành của các con, sự ra đời của các cháu và biết bao đổi thay của cuộc sống.
Đối với mỗi thành viên trong gia đình, đó là một phần ký ức không thể nào quên.
Như đã kể trước, dãy nhà ngang của gia đình được xây
dựng đơn giản nhưng lại gắn liền với nhiều giai đoạn sinh hoạt khác nhau của cả
nhà. Công trình này được ngăn thành ba gian riêng biệt. Ban đầu, đây là nơi ở
và làm việc của đội ngũ giúp việc cho Bố tôi trong thời gian ông còn công tác.
Những căn phòng tuy không rộng nhưng luôn có người ra vào, tạo nên một không
khí sinh hoạt khá riêng biệt. Năm 1976, sau khi Bố tôi chuyển ra ngoài Quân đội
để nhận nhiệm vụ mới, bộ máy phục vụ cũng được thu gọn lại. Chỉ còn một số
người tiếp tục gắn bó với gia đình. Anh Nghiêm Hà làm thư ký, phụ trách các
công việc giấy tờ và liên hệ công tác. Cô Thủy làm cấp dưỡng, sau này được thay
bằng anh Phạm Hồng Quyền. Anh Lê Văn Nu làm cần vụ, còn công việc lái xe do anh
Thụy đảm nhiệm rồi sau đó chuyển cho anh Phạm Xuân Lũy.
Việc sử dụng các gian nhà ngang cũng được phân chia
tương đối ổn định. Gian đầu, nằm gần bể nước, được dành cho anh Nghiêm Hà nghỉ
ngơi và làm việc. Đây cũng là nơi anh tiếp khách hoặc xử lý những công việc
liên quan đến cơ quan của Bố tôi. Gian giữa là nơi ở của lái xe và cần vụ. Gian
cuối cùng được sử dụng làm nơi sinh hoạt của cấp dưỡng. Cuộc sống cứ thế diễn
ra đều đặn trong nhiều năm, mỗi người một công việc nhưng đều góp phần duy trì
nề nếp sinh hoạt của gia đình.
Đến năm 1982, khi anh Quyền tiếp
nhận công việc cấp dưỡng, cách bố trí lại có thêm thay đổi. Gian cuối của dãy
nhà được gia đình anh Trần Thắng sử dụng làm nơi ở tạm đồng thời làm bếp. Trong
điều kiện nhà cửa lúc đó còn hạn chế, việc tận dụng từng khoảng không gian là
điều hết sức bình thường. Mỗi lần có thêm người ở hay có người chuyển đi, các
căn phòng lại được điều chỉnh công năng để phù hợp với nhu cầu thực tế.
Sau này, khi Bố tôi chuyển sang công tác tại Quốc hội,
anh Nghiêm Hà được cơ quan phân một căn hộ ở khu Vân Hồ nên chuyển ra ngoài
sinh sống. Căn phòng anh để lại được Trần Hải sửa sang lại để chuẩn bị lập gia
đình. Từ năm 1984, Hải cùng vợ ở tại đó. Cũng trong thời gian này, gia đình anh
Lũy, người lái xe lâu năm của Bố tôi, đưa cả nhà lên sinh sống tại gian giữa.
Gian cuối vẫn do anh Quyền sử dụng trong một thời gian khá dài, mãi cho đến khi
nghỉ hưu. Sau khi anh chuyển đi, tôi sửa lại căn phòng này để làm nhà bếp riêng
cho gia đình mình.
Năm 1986, Trần Hải chuyển nhà vào miền Nam sinh sống.
Căn phòng đầu tiên của dãy nhà ngang lại tiếp tục được cải tạo. Lần này Trần
Điền sửa thành bếp phục vụ cho gia đình. Sự thay đổi ấy phản ánh rất rõ quá
trình chuyển dịch từ không gian làm việc và phục vụ công tác sang không gian
sinh hoạt gia đình. Những căn phòng từng gắn với cán bộ, lái xe hay thư ký nay
dần trở thành nơi ở của con cháu trong nhà.
Đầu những năm 1990, gia đình anh Lũy chuyển đi. Trần
Điền tiếp tục sửa chữa gian giữa của dãy nhà ngang thành một phòng sinh hoạt
chung. Vì đây là căn phòng đầu tiên trong nhà được lắp điều hòa nhiệt độ nên
mọi người quen gọi vui là “phòng lạnh”. Thời ấy điều hòa còn là một thiết bị
khá hiếm trong các gia đình, vì vậy căn phòng nhanh chóng trở thành nơi tụ họp
của mọi người trong những ngày hè nóng bức.
Từ cuối những năm 1980, khuôn viên ngôi nhà còn chứng
kiến thêm một sự thay đổi đáng kể khác. Trần Điền dựng một cửa hàng buôn bán
trên mảnh vườn nhỏ phía trước nhà. Cửa hàng được xây dựa vào mặt trước của ngôi
nhà hai tầng, tận dụng tối đa diện tích vốn không lớn. Ban đầu quy mô còn khiêm
tốn, nhưng hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển nên diện tích cửa hàng dần
được mở rộng.
Khi Bố tôi nghỉ công tác, sự thay đổi càng rõ nét hơn.
Căn phòng vốn là nơi ông làm việc được nhập vào diện tích cửa hàng. Từ đó, Bố
tôi thu gọn không gian sinh hoạt của mình vào gian phòng phía trong. Đó vừa là
nơi nghỉ ngơi, vừa là nơi đọc tài liệu, tiếp khách và làm việc. Căn phòng nhỏ
phía sau vốn được ông sử dụng làm buồng tối để rửa ảnh cũng được cải tạo thành
phòng vệ sinh khép kín, thuận tiện hơn cho sinh hoạt tuổi già.
Mùa hè năm 1992 đánh dấu một đợt cải tạo lớn đối với
toàn bộ dãy nhà ngang. Trần Điền và tôi cùng nhau bàn bạc, thiết kế rồi trực
tiếp giám sát việc sửa chữa. Mái che được kéo dài ra phía sân bằng hệ khung
thép chắc chắn, lợp tôn phía trên. Xung quanh được quây kín bằng khung nhôm và
kính. Công trình mới hoàn thành sáng sủa, thoáng đãng và hiện đại hơn hẳn nên
mọi người gọi là “nhà kính”.
Sau khi hoàn thành, anh em trong gia đình thống nhất chia
nhau sử dụng không gian mới: Gia đình tôi sử dụng gian đầu cùng một nửa diện
tích nhà kính phía ngoài. Nhà Điền sử dụng hai gian phía sau và phần nhà kính
phía trong. Từ đó, dãy nhà ngang vốn được xây dựng để phục vụ công tác của Bố
tôi đã hoàn toàn chuyển thành không gian sinh hoạt của thế hệ con cháu. Qua
nhiều lần sửa chữa, thay đổi công năng và đổi chủ sử dụng, từng gian nhà vẫn âm
thầm lưu giữ những dấu ấn của mỗi giai đoạn trong lịch sử gia đình, trở thành
một phần ký ức không thể nào quên đối với tất cả chúng tôi.
Dãy nhà phía sau cũng được cải tạo và sửa chữa khá
nhiều trong những năm ấy. Gian bếp của Mẹ tôi được chuyển sang vị trí nền nhà
để xe cũ, bởi lúc đó chiếc xe đã không còn được sử dụng nữa. Khoảng không gian
vốn chỉ để chứa xe được ngăn lại, xây thêm bàn bếp, lát nền xi măng và lắp đặt
lại hệ thống thoát nước để trở thành một căn bếp gọn gàng, thuận tiện hơn cho
sinh hoạt hằng ngày.
Gian bếp cũ trước đây từng là nơi
cấp dưỡng Hồng Quyền nấu ăn được Trần Điền cải tạo thành khu vệ sinh riêng có
cửa thông với gian cuối cùng của dãy nhà ngang. Ngay cả khu hố xí chung của nhà
97 cũng được sửa chữa. Chiếc bệ xí xổm cũ kỹ được thay bằng một bệ sứ mới sạch
sẽ hơn, khiến việc sử dụng thuận tiện và vệ sinh hơn rất nhiều.
Phía sau khu vệ sinh có một khoảng hẹp rộng chừng gần
một mét. Có một thời gian, Mẹ tôi tận dụng nơi đó để làm chuồng nuôi lợn. Những
năm tháng khó khăn ấy, việc chăn nuôi là một nguồn hỗ trợ đáng kể cho cuộc sống
gia đình. Hằng ngày, Bà cần mẫn đạp chiếc xe đạp mini mà Trần Điền mang từ
Bungari về, rong ruổi khắp các con phố để nhặt nhạnh rau cỏ, lá cây và các loại
thức ăn thừa mang về nấu cám cho lợn. Hình ảnh người phụ nữ nhỏ bé lóc cóc trên
chiếc xe đạp giữa phố phường Hà Nội đã trở thành một kỷ niệm khó quên trong ký
ức của tôi. Công việc tuy vất vả nhưng đem lại niềm vui mỗi khi đến ngày xuất
chuồng. Hôm bán lợn bao giờ gia đình cũng có một bữa ăn tươi thịnh soạn hơn
thường ngày, điều mà trong hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn lúc ấy là niềm vui
không nhỏ.
Ngoài những thay đổi ở khu nhà ngang, tôi còn tiến
hành sửa chữa khu vệ sinh trên tầng hai. Căn buồng vệ sinh nhỏ nằm ở chân cầu
thang được chuyển vào gian “buồng tối” để Bố tôi sử dụng thuận tiện hơn. Nhân
dịp đó, tôi cũng sửa sang và nâng cấp toàn bộ khu vực này để cả gia đình cùng
dùng. Tuy nhiên, mọi cố gắng cải thiện điều kiện sinh hoạt vẫn không giải quyết
được một vấn đề nan giải nhất lúc bấy giờ: nước sinh hoạt.
Bước sang những năm 1980, tình trạng thiếu nước ở Hà
Nội ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nước máy thường chỉ chảy yếu vào ban đêm,
còn ban ngày gần như không có giọt nào. Cả gia đình phải tranh thủ thức khuya
hoặc dậy sớm để tích trữ nước cho việc ăn uống, tắm giặt và nấu nướng.
Khó khăn càng chồng chất khi cơn bão lớn năm 1989 quật
đổ cây hoa sữa trước cổng nhà. Bộ rễ lớn của cây khi bật lên đã kéo đứt toàn bộ
đường ống cấp nước vào nhà 97, khiến gia đình rơi vào cảnh mất nước hoàn toàn.
Suốt gần một tuần lễ, Mẹ tôi phải đi khắp nơi xin nước. Vợ tôi thì sang vòi
nước công cộng ở ngõ Tức Mặc để gánh từng đôi thùng nước về nhà. Những công
việc tưởng như đơn giản như tắm giặt, vệ sinh cá nhân đều phải thực hiện tại cơ
quan hoặc nhờ cậy người quen.
Sau đó, đường nước mới được lắp
đặt nhưng tình hình cũng chẳng cải thiện được bao nhiêu. Lưu lượng nước vẫn quá
yếu và thất thường. Cuối cùng, gia đình buộc phải xây một bể chứa bằng xi măng
ngay cạnh cổng để hứng nước mỗi khi nước máy chảy. Từ bể này, mọi người lại
xách từng xô nước vào trong nhà để sử dụng. Về sau, khi điều kiện khá hơn,
trong thời gian làm “nhà kính”, chúng tôi lắp thêm một máy bơm trực tiếp vào
đường ống cấp nước để bơm nước lên bể inox đặt trên sân thượng. Nhờ vậy, việc
sinh hoạt của cả gia đình mới dần ổn định và bớt đi những nhọc nhằn kéo dài
suốt nhiều năm trời.
Lại
kể thêm câu chuyện về điện đóm ở nhà 97. Khu nhà vốn dĩ là nhà công vụ được hình
thành từ thời mới giải phóng 1954. Ban
đầu, nơi đây là khu nhà riêng dành cho một số tướng lĩnh quân đội. Sau đó, có
thời gian được sử dụng làm nơi ở tạm cho các chuyên gia nước ngoài sang giúp
Việt Nam. Về sau nữa, khi chức năng thay đổi, nó trở thành một cơ sở thông tin
liên lạc quân sự. Chính vì từng phục vụ nhiều mục đích như vậy nên hệ thống
điện của khu nhà cũng khá đặc biệt so với các khu dân cư thông thường.
Khi gia đình chúng
tôi chuyển về ở, nguồn điện cấp cho khu nhà là điện ba pha. Từ cột điện ngoài
đường kéo vào có ba sợi cáp lớn cỡ khoảng mười ly, để trần hoàn toàn, cùng với
một dây “mát”. Hồi đó tôi chẳng hiểu gì về kỹ thuật điện, chỉ thấy mấy sợi dây
to tướng vắt ngang không trung trông rất oai. Sau này mới biết đó là một hệ
thống cấp điện tương đối tốt so với mặt bằng chung lúc bấy giờ.
Có điều, hệ thống tốt
là một chuyện, còn điện có ổn định hay không lại là chuyện khác. Những năm cuối
thập niên 1970 và đầu thập niên 1980 là thời kỳ thiếu điện triền miên. Điện lúc
có lúc không, mà thời gian mất điện thường nhiều hơn thời gian có điện. Người
dân khi ấy quen với cảnh đang ăn cơm thì đèn phụt tắt, đang xem ti vi thì màn
hình tối om, hoặc nửa đêm đang ngủ phải giật mình vì quạt ngừng quay.
Ngay cả khi có điện
thì điện áp cũng rất thấp. Buổi tối, cả khu nhà sáng lờ mờ. Bóng đèn dây tóc
treo trên trần nhà chỉ phát ra thứ ánh sáng vàng úa yếu ớt. Người ta thường nói
đùa ánh đèn lúc ấy giống như ánh sáng của con đom đóm đực. Ngồi dưới bóng đèn
có thể nhìn rõ từng vòng dây tóc đỏ hồng bên trong mà vẫn thấy tối. Muốn đọc
sách phải kéo đèn sát xuống bàn. Những hôm trời mưa hoặc thời tiết nồm ẩm, ánh
sáng càng yếu hơn, nhìn người đối diện cứ mờ mờ ảo ảo.
Sau năm 1975, nhiều
gia đình có người thân từ miền Nam mang ra những chiếc súc-von-tơ (biến áp tự ngẫu). Đó được coi là một tài sản
quý giá. Nhà nào có biến áp thì điện áp được nâng lên phần nào, đèn sáng hơn,
ti vi đỡ nhòe hơn. Thế nhưng việc sử dụng biến áp lại tạo ra một vấn đề khác.
Càng nhiều nhà dùng biến áp thì lưới điện chung càng bị quá tải, điện áp toàn
khu lại càng tụt xuống thấp. Thành thử người không có biến áp thì khổ, còn
người có biến áp cũng chưa chắc đã sung sướng hơn bao nhiêu.
Những thiết bị điện
thời ấy hoạt động vô cùng vất vả. Chiếc ti vi đen trắng của gia đình thường
xuyên co hẹp màn hình. Có lúc hình ảnh chỉ còn một khoảng nhỏ ở giữa màn ảnh,
rung lên bần bật như người bị sốt rét. Tủ lạnh thì làm việc èo uột, đá đóng
không nổi, nước chảy lênh láng dưới chân tủ. Quạt điện quay chậm đến mức có cảm
giác như chỉ đang phe phẩy cho có lệ.
Nguy hiểm nhất là
những lúc điện áp bất ngờ tăng vọt. Khi cả khu phố đồng loạt tắt ti vi đi ngủ
hoặc khi phụ tải giảm đột ngột, điện áp có thể tăng rất nhanh. Những chiếc biến
áp tự ngẫu lập tức phát ra tiếng chuông báo động inh ỏi. Âm thanh ấy vang lên
từ nhiều nhà cùng lúc, nghe chẳng khác nào còi báo động phòng không ngày trước.
Chủ nhà phải chạy vội đi rút điện hoặc điều chỉnh biến áp. Chỉ chậm tay một
chút là có thể cháy động cơ tủ lạnh, hỏng ti vi hoặc bốc khói thiết bị điện.
Bởi vậy, mỗi tối trước khi đi ngủ, nhiều người còn phải kiểm tra lại điện áp
như một thói quen bắt buộc.
Rồi đến trận bão lịch
sử năm 1989. Đó là một trong những cơn bão mạnh nhất mà tôi từng chứng kiến.
Gió giật liên hồi, cây cối đổ ngổn ngang. Hệ thống điện của khu nhà cũng không
tránh khỏi thiệt hại. Ba sợi cáp điện lớn bị gió quật đứt. Sau khi ngành điện
khắc phục và nối lại đường dây, khu nhà không còn được cấp điện ba pha như
trước mà chỉ còn một pha duy nhất. Cũng vào thời gian đó, hệ thống điện chuyển
sang sử dụng điện áp 220V đồng bộ.
Mặc dù nguồn điện đã
được cải thiện phần nào, tình trạng thiếu điện vẫn còn kéo dài. Chính vì vậy mà
cơ quan của Bố tôi đã tìm cách “móc nối” cho ông một nguồn điện ưu tiên. Nguồn
điện này được kéo từ bên số nhà 101, nơi có một cơ quan thuộc ngành giáo dục
đóng trụ sở. Với chức vụ của Bố tôi lúc bấy giờ, việc được sử dụng điện ưu tiên
được coi là phù hợp với tiêu chuẩn công tác.
Tuy nhiên, trong nhà
ai cũng rất nghiêm túc. Đường điện ưu tiên được tách riêng hoàn toàn với hệ
thống điện sinh hoạt của gia đình. Chỉ có phòng làm việc của Bố tôi được sử
dụng nguồn điện đó. Ngoài ra, chiếc tủ lạnh của cả nhà cũng được cắm chung vào
đường điện ưu tiên để bảo quản thực phẩm. Mọi sinh hoạt khác vẫn dùng nguồn
điện bình thường như các hộ dân xung quanh.
Nguồn điện ưu tiên ấy
tồn tại được một thời gian thì xảy ra chuyện. Một đoàn thanh tra điện lực đến
kiểm tra. Không rõ họ phát hiện bằng cách nào, nhưng sau khi lập biên bản và
báo cáo lên cấp trên, ít lâu sau đường điện ưu tiên bị tháo bỏ hoàn toàn. Cả
nhà lại trở về với nguồn điện chung như trước. Dù vậy, đúng vào giai đoạn ấy,
thủy điện Hòa Bình bắt đầu phát huy hiệu quả. Nguồn điện quốc gia được cải
thiện đáng kể, nên cuộc sống không còn khó khăn như những năm trước.
Rồi thời kỳ mới đến.
Ngành điện bắt đầu triển khai việc ký hợp đồng tiêu thụ điện và tính tiền theo
chỉ số công tơ một cách chặt chẽ hơn. Đây cũng là lúc xuất hiện đủ loại mẹo vặt
mà người ta truyền tai nhau để “ăn cắp” điện. Hồi ấy, đi đâu cũng nghe bàn tán
về những sáng kiến kỳ quặc nhằm làm cho công tơ quay chậm hoặc quay ngược.
Phổ
biến nhất là một thiết bị rất đơn giản. Chỉ cần cắm nó vào ổ điện, sau đó nối
thêm một đầu dây thứ ba vào dây “lửa” là chiếc đĩa nhôm trong công tơ bắt đầu
quay ngược chiều. Khi quay ngược như vậy, chỉ số điện đã tiêu thụ sẽ giảm xuống
thay vì tăng lên. Người sử dụng tha hồ bật quạt, xem ti vi hay dùng các thiết
bị điện khác mà tiền điện vẫn rất ít. Đó là một thứ “bí quyết” được truyền
miệng khá rộng rãi vào thời điểm ấy.
Sau khi Bố tôi qua đời vào năm 2002, ngôi nhà số 97
bước sang một giai đoạn mới. Khi ấy, trong khuôn viên chỉ còn hai hộ gia đình
là nhà tôi và nhà Điền cùng sinh sống, mỗi người đảm nhận một phần việc để duy
trì nếp nhà và chăm lo hương khói tổ tiên. Bà Hằng vẫn sử dụng căn phòng tầng
một phía sau và quản lý một gian bếp nhỏ được cải tạo từ khu nhà để xe trước
đây. Căn phòng mà Bố tôi từng sống được dành làm nơi thờ tự trang nghiêm, đồng
thời là chỗ nghỉ ngơi cho Trần Thắng và Trần Hải mỗi khi từ xa trở về thăm gia
đình.
Trong những năm chúng tôi sống ở ngôi nhà số 97, mọi
việc diễn ra khá yên bình, mọi việc hanh thông. Mọi người tuy có những công
việc và cuộc sống riêng nhưng vẫn giữ được sự gắn bó, tôn trọng lẫn nhau. Những
dịp giỗ chạp hay lễ tết, con cháu lại tụ họp đông đủ, khiến ngôi nhà luôn ấm áp
tiếng cười và tình thân. May mắn cho chúng tôi là bằng ấy năm ở đây, không xảy
ra một sự vụ tranh chấp nhỏ nào. Và điều ấy càng làm cho chúng tôi ghi nhớ nhiều
về những kỷ niệm của cả gia đình.




Nhận xét
Đăng nhận xét