Những kỷ niệm… xe máy

 

Người ta thường nói mỗi thời đều có những dấu ấn riêng của nó. Với nhiều người sinh ra và lớn lên ở thành phố, một trong những dấu ấn khó quên nhất chính là những chiếc xe máy. Có người nhớ cảm giác phóng xe vun vút trên những con đường rộng, gió tạt vào mặt mát rượi. Có người nhớ những lần xe chết máy giữa đường, phải vừa dắt vừa thở dài. Cũng có người còn nhớ những cú ngã bất ngờ khiến chân tay bầm tím nhiều ngày. Riêng tôi, những kỷ niệm với xe máy lại gắn với những năm tháng ngay sau ngày đất nước thống nhất, khi xe máy vẫn còn là một thứ tài sản đáng giá và là niềm mơ ước của không ít người.


Khoảng cuối năm 1975 hoặc đầu năm 1976, tôi có dịp vào Sài Gòn chơi. Đó là chuyến đi đáng nhớ đối với một thanh niên vừa trải qua những năm tháng học tập, sơ tán và lao động trong hoàn cảnh chiến tranh. Thành phố Sài Gòn khi ấy vừa bước sang một giai đoạn mới. Mọi thứ đều mang dáng dấp của sự chuyển mình. Người dân vẫn đang làm quen với cuộc sống sau chiến tranh, còn những người từ miền Bắc vào như tôi thì không khỏi ngỡ ngàng trước một đô thị rộng lớn, hiện đại hơn rất nhiều so với những gì từng hình dung.

Ông anh tôi khi đó là bộ đội thông tin của Quân Giải phóng. Sau ngày giải phóng, anh vẫn còn công tác trong Nam nên có điều kiện đưa tôi đi tham quan thành phố. Phương tiện của anh là một chiếc Honda Cub 50 màu xanh lá cây, loại xe rất phổ biến ở miền Nam thời bấy giờ. Đối với tôi lúc đó, chiếc xe ấy trông thật đẹp và hiện đại. So với những chiếc xe đạp quen thuộc mà sinh viên chúng tôi vẫn sử dụng hằng ngày, Honda Cub giống như một phương tiện của một thế giới khác.

Một buổi chiều, anh chở tôi đi vòng quanh thành phố. Chúng tôi chạy qua nhiều con đường thuộc khu vực quận 1 và quận 3 ngày nay. Điều làm tôi ngạc nhiên là đường phố khá vắng vẻ. Xe cộ không nhiều, người đi đường cũng thưa thớt. Tôi nghe nói ban đêm khi ấy vẫn còn áp dụng một số quy định nghiêm ngặt về đi lại nên không khí thành phố có phần trầm lắng hơn so với những năm sau này.

Ngồi sau xe, tôi vừa ngắm phố phường vừa cảm thấy thích thú. Những hàng cây, những ngôi nhà, những bảng hiệu và cả những dòng người qua lại đều mang đến cho tôi cảm giác mới lạ. Đó là lần đầu tiên tôi được ngắm nhìn một thành phố lớn từ trên yên một chiếc xe máy đang bon bon trên đường.

Sau khi chạy được một vòng khá dài, ông anh bất ngờ tấp xe vào lề rồi hỏi tôi có muốn thử lái không. Tất nhiên là tôi gật đầu ngay. Trước đó tôi đã quen đi xe đạp từ nhiều năm nên nghĩ rằng điều khiển xe máy chắc cũng không quá khó khăn. Anh hướng dẫn sơ qua cách vào số, cách tăng ga, cách bóp phanh rồi nhường tay lái cho tôi.

Tôi hồi hộp ngồi lên yên trước, nổ máy rồi từ từ cho xe chuyển động. Chỉ vài giây sau, sự hồi hộp nhanh chóng biến thành cảm giác phấn khích. Chiếc xe lao đi nhẹ nhàng và êm ái hơn rất nhiều so với xe đạp. Tôi chỉ cần vặn nhẹ tay ga là xe đã tăng tốc. Gió lùa vào mặt, hai bên đường lùi dần về phía sau. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như mình đang bay. Đó là một cảm giác rất khó diễn tả, nhất là với một thanh niên lần đầu tiên tự điều khiển một chiếc xe máy.

Tuy nhiên, ông anh tôi không dám để tôi lái lâu. Anh hiểu rằng tôi hoàn toàn chưa quen với đường sá Sài Gòn cũng như những quy tắc giao thông ở đây. Sau một đoạn ngắn, anh lại đổi chỗ và tiếp tục cầm lái. Dù chỉ được điều khiển xe vài phút nhưng trải nghiệm ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc.

Thực ra, đó không phải lần đầu tiên tôi chạm tay vào tay lái xe máy. Trước đó khoảng một năm, vào năm 1974, tôi đã có một kỷ niệm khá vui với một chiếc Peugeot 102. Hôm ấy, tôi rủ Duy Cường sang Bắc Ninh thăm chú Điền đang tập trung lên đường sang Bungari học nghề kỹ thuật. Chiếc xe chúng tôi sử dụng là xe mượn của Duy Tiến.

Sau khi hoàn thành công việc và lên đường trở về Hà Nội, ông bạn bất ngờ bảo tôi thử lái một đoạn. Có lẽ bạn thấy tôi đi xe đạp khá vững và lần nào đi với nhau cũng đèo bạn cũng rất yên tâm giao tay lái. Tôi nhảy ngay lên ghế lái. Con đường từ Bắc Ninh về Hà Nội hôm đó khá thuận lợi. Chiếc Peugeot 102 điều khiển không quá khó vì chỉ cần vặn ga là xe chạy. Thế là tôi hào hứng tăng tốc, chạy một mạch về phía thành phố.

Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ cho đến khi chúng tôi đi tới khu vực ngã ba từ Hàng Mã ra Phùng Hưng. Vì quá tự tin và cũng vì chưa quen với đặc tính của xe máy, tôi ôm cua hơi rộng rồi bất ngờ đánh lái gấp. Kết quả là bàn chân của ông bạn ngồi phía sau va mạnh vào mép vỉa hè. Một tiếng “bốp” vang lên khá rõ khiến tôi giật mình. Ông bạn đau quá liền kêu ầm lên, còn tôi thì vừa lo vừa buồn cười.

May mắn cho cả hai là hôm ấy anh đi dép nhựa Tiền Phong. Đôi dép tuy giản dị nhưng lại đóng vai trò như một tấm lá chắn bất đắc dĩ. Nếu đi dép mỏng hoặc đi chân trần thì có lẽ bàn chân đã bị thương nặng. Sau khi kiểm tra thấy không có vấn đề gì nghiêm trọng, chúng tôi tiếp tục lên đường, nhưng từ đó tôi cẩn thận hơn rất nhiều mỗi khi vào cua.

Năm 1976, sau ngày đất nước thống nhất chưa lâu, gia đình tôi dần dần đoàn tụ. Ông anh tôi là người sau cùng xa nhà cũng được chuyển công tác ra Bắc. Điều làm tôi háo hức nhất không phải là chuyện công tác của anh, mà là việc anh được phép mang theo hai chiếc xe máy từ trong Nam ra. Đó là một chiếc Honda 67 và một chiếc Honda Cub 50. Vào thời điểm ấy, xe máy là tài sản vô cùng quý giá. Cả khu phố có lẽ chỉ lác đác vài nhà sở hữu được một chiếc. Vì vậy, khi biết anh mang về hai chiếc xe, ai cũng tò mò và thích thú.

Sau khi ổn định công việc và chỗ ở, anh quyết định giao cho tôi sử dụng chiếc Honda Cub 50. Có thể nói, đó là món quà quý giá nhất mà tôi nhận được trong những năm tuổi trẻ. Chiếc xe tuy nhỏ bé nhưng rất đẹp. Nước sơn còn bóng, máy nổ êm và đặc biệt rất tiết kiệm xăng. Được sở hữu chiếc xe ấy, tôi có cảm giác như mình vừa bước sang một giai đoạn mới của cuộc sống.

Lúc đó, để sử dụng hợp pháp, người lái phải có bằng do cơ quan công an cấp. Thế là hai anh em rủ nhau đi thi lấy bằng. Ngày nay nghĩ lại, việc thi lấy bằng thời ấy thật đơn giản so với bây giờ. Địa điểm thi nằm ở khu quảng trường bên phải Nhà hát Lớn Hà Nội. Không có sân tập hiện đại, không có hệ thống cảm biến hay camera chấm điểm tự động như hiện nay. Toàn bộ bài thi chỉ gồm một quãng đường ngắn được đánh dấu bằng các vạch vôi trắng.

Thí sinh xuất phát từ vị trí quy định, vào số một rồi chạy đến đoạn đường cua hẹp nằm giữa hai vạch trắng. Khi chuẩn bị vào cua thì chuyển sang số hai. Ra khỏi đoạn cua, tiếp tục lên số ba và chạy đến vạch đích. Tại đây phải dừng xe đúng trước vạch quy định, trả số về mo và tắt máy. Chỉ thế là hoàn thành bài thi.

Đối với hai anh em tôi, bài thi ấy không có gì khó khăn. Chúng tôi đã sử dụng xe máy từ trước nên khá quen tay. Hơn nữa, chiếc Honda Cub hoạt động rất ổn định, máy nổ đều, côn số nhẹ nhàng nên mọi thao tác đều diễn ra thuận lợi. Khi nhận được giấy phép lái xe, tôi cảm thấy vô cùng sung sướng. Từ nay việc đi lại đã chính thức và hợp pháp, không còn tâm trạng thấp thỏm mỗi khi gặp công an giao thông như trước.

Tuy nhiên, điều tôi nhớ nhất trong buổi thi hôm ấy lại không phải là phần thi của mình mà là câu chuyện của một người dự thi khác.

Đó là một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi. Qua câu chuyện với những người xung quanh, tôi được biết anh vừa từ chiến trường trở về. Phương tiện của anh là một chiếc xe máy Sachs của Đức. Dáng xe khá giống loại Peugeot mà hồi ấy người ta vẫn quen gọi là “cá xanh”. So với những chiếc Honda Nhật Bản gọn nhẹ, chiếc Sachs trông cồng kềnh và có phần cổ lỗ hơn nhiều.

Khó khăn bắt đầu ngay từ lúc khởi động xe. Muốn nổ máy, anh phải dựng chân chống giữa rồi đứng bên cạnh đạp pê-đan như đạp xe đạp. Anh cong người, dồn sức đạp liên tục nhiều vòng. Tiếng máy cuối cùng cũng nổ phành phạch, khói xanh phụt ra mù mịt. Nhưng để điều khiển được chiếc xe lại là một chuyện khác. Anh phải vừa giữ ga cho máy khỏi chết, vừa bóp phanh để xe không lao đi. Sau đó từ từ hạ xe xuống khỏi chân chống rồi tìm cách ngồi lên yên.

Những người đứng xung quanh đều chăm chú theo dõi. Khi mọi việc tưởng như đã ổn, anh nhả phanh. Chiếc xe đang được giữ ga lớn liền chồm mạnh về phía trước rồi bất ngờ tiếng máy tắt phụt. Tiếng cười bật lên từ nhiều phía. Anh đỏ mặt nhưng vẫn kiên nhẫn làm lại từ đầu.

Lần thứ hai, chiếc xe khởi động thành công. Có lẽ rút kinh nghiệm từ lần trước, anh vừa giữ ga vừa rà phanh rất khéo. Xe tiến vào bài thi trong tiếng động cơ gầm gừ. Nhưng đến đoạn cua hẹp, do phải căng cả hai tay để điều khiển chiếc xe khó tính, anh không giữ được hướng đi chính xác. Bánh xe lao ra ngoài vạch giới hạn.

Anh cuống cuồng đánh lái để đưa xe trở lại đúng phần đường quy định. Thế nhưng đúng lúc ấy, động cơ lại chết máy. Cả sân thi vang lên những tiếng xuýt xoa tiếc nuối. Anh đành xuống xe, xin giám khảo cho thi lại.

Những tưởng lần sau sẽ thành công hơn, nhưng vận may dường như không đứng về phía anh. Chiếc Sachs bướng bỉnh không chịu nổ máy nữa. Anh mở yên xe, tháo bugi ra kiểm tra rồi thay bugi dự phòng mang theo. Hết lần này đến lần khác, anh đạp pê-đan đến toát mồ hôi nhưng động cơ vẫn im lìm. Cuối cùng, sau gần nửa giờ vật lộn, anh đành bất lực dắt xe ra khỏi khu vực thi.

Hình ảnh người lính từ chiến trường trở về với gương mặt đầy thất vọng dắt chiếc xe cũ kỹ lầm lũi đi về khiến tôi nhớ mãi. Tôi không biết sau đó anh có quay lại thi và lấy được bằng lái hay không. Nhưng mỗi lần nhớ đến buổi thi hôm ấy, tôi luôn nhớ đến anh.

Sau khi có bằng lái, chiếc Honda Cub 50 trở thành người bạn đồng hành thân thiết của tôi trong nhiều năm. Khi ấy tôi bắt đầu nhận công tác tại Sơn Tây. Khoảng cách từ nhà đến đơn vị không quá xa. Với chiếc xe nhỏ bé nhưng bền bỉ ấy, tôi chỉ mất khoảng một giờ đồng hồ để đi hết quãng đường.

Những năm đó, giao thông chưa đông đúc như bây giờ. Ra khỏi nội thành Hà Nội là những con đường dài với hàng cây, ruộng đồng và những làng quê yên bình. Tôi thường xuyên đi về giữa nhà và đơn vị. Đều đặn mỗi tuần hai lần, chiều thứ Bảy tôi lại lên xe trở về Hà Nội.

Trước khi đi, anh em trong đơn vị thường đùa nhau câu cửa miệng: “Cắt cơm, bơm xe, nghe thời tiết”. Nghĩa là chuẩn bị đầy đủ mọi thứ trước khi lên đường. Hồi ấy đường sá còn khó khăn, gặp mưa gió là vất vả ngay. Vì vậy việc xem dự báo thời tiết trở thành một thói quen quan trọng.

Sáng thứ Hai, khi thành phố còn ngái ngủ, tôi đã rời nhà để trở lại đơn vị. Ngoài công việc chuyên môn, tôi còn theo học một lớp ngoại ngữ buổi tối. Lớp học diễn ra vào tối Chủ Nhật và tối thứ Tư hằng tuần. Chính vì thế mà lịch đi lại của tôi càng dày hơn.

Chiều thứ Tư, tôi lại từ Sơn Tây chạy xe về Hà Nội để kịp giờ học. Học xong tối muộn mới nghỉ ngơi. Sáng sớm hôm sau lại lên xe quay về đơn vị. Cứ như thế, chiếc Honda Cub cần mẫn đưa tôi đi hàng trăm, hàng nghìn cây số mà gần như không hề hỏng hóc.

Tôi từng nghĩ chiếc xe ấy sẽ chẳng bao giờ gặp sự cố. Nhưng rồi một lần chuyện không may cũng xảy ra.

Hôm đó tôi chở thêm một anh bạn cùng đơn vị. Hai người vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ. Khi đến đoạn dốc ven đê thuộc xã Tam Hiệp, chiếc xe đột nhiên khựng lại. Điều lạ là động cơ vẫn nổ đều đều như không có chuyện gì xảy ra.

Tôi vặn ga mạnh hơn nhưng xe vẫn đứng ì tại chỗ. Thử vào số rồi trả số nhiều lần, chiếc xe vẫn không nhúc nhích. Cả hai đành xuống xe dắt bộ. Đi được gần một cây số thì may mắn gặp một cửa hàng sửa xe bên đường.

Người thợ chỉ nhìn qua đã phát hiện nguyên nhân. Xích tải của xe đã bị đứt. Anh thợ cầm đoạn xích lên rồi cười bảo:

– May cho cậu đấy! Nhiều trường hợp xích đứt khi xe đang chạy nhanh, nó quật ngược vào lốc máy làm vỡ cả máy xe. Thế thì còn khổ hơn nhiều.

Nghe vậy tôi mới thấy mình thực sự gặp may. Người thợ nhanh chóng nối lại xích. Chỉ một lúc sau, chiếc Honda Cub lại nổ máy giòn giã như chưa từng có sự cố gì xảy ra. Chúng tôi tiếp tục lên đường và về đến nơi an toàn.

Sau lần ấy, chiếc xe vẫn tiếp tục đồng hành cùng tôi trong công việc và cuộc sống. Nó đưa tôi qua biết bao cung đường, qua những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết. Mãi đến khi được chuyển công tác về gần nhà, quãng đường đi lại không còn xa nữa, tôi mới dần ít sử dụng chiếc xe. Nhưng những kỷ niệm gắn với nó vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức. Mỗi khi nhớ lại, tôi không chỉ nhớ về một phương tiện đi lại, mà còn nhớ về cả một thời tuổi trẻ với những con đường vắng, những chuyến đi đều đặn giữa Hà Nội và Sơn Tây, những người bạn đồng hành và cả những câu chuyện giản dị nhưng không thể nào quên của một thời đã xa.

Nhắc đến xe máy thời ấy cũng là nhắc đến một giai đoạn đặc biệt. Những năm cuối thập niên 1970 và đầu những năm 1980, đời sống kinh tế vô cùng thiếu thốn. Xăng dầu được phân phối theo tiêu chuẩn. Phụ tùng thay thế hiếm như vàng. Có xe mà không có xăng để chạy là chuyện rất bình thường.

Nhiều chiếc xe máy phải dựng trong góc nhà, phủ kín bụi và mạng nhện vì chủ nhân không kiếm đâu ra nhiên liệu hoặc phụ tùng sửa chữa. Bởi vậy, ai còn duy trì được một chiếc xe hoạt động ổn định đều được xem là người rất tháo vát.

Người sử dụng xe máy lúc ấy gần như bắt buộc phải biết sửa chữa. Một chiếc bugi bẩn có thể khiến xe không nổ máy. Tháo bugi ra cạo sạch muội than, lau chùi cẩn thận, thậm chí hơ nóng trên bếp dầu rồi mới lắp lại là chuyện diễn ra thường xuyên. Săm lốp thì vá chằng vá đụp. Có chiếc săm mang trên mình cả chục miếng vá mà vẫn tiếp tục phục vụ chủ nhân hàng ngày.

Những chuyến đi xa luôn kèm theo một bộ đồ nghề nhỏ gồm cờ-lê, tua-vít, miếng vá, keo dán và chiếc bơm tay. Xe hỏng giữa đường là chuyện không hiếm. Nhiều người còn truyền cho nhau đủ loại kinh nghiệm sửa chữa rất sáng tạo. Trong số đó, nổi tiếng nhất là cách “vá chín” săm lốp. Sau khi dán miếng vá, người ta dùng dây buộc chặt vào đầu ống xả xe rồi cho máy nổ nhiều phút. Hơi nóng từ ống xả làm miếng vá bám chắc vào cao su. Phương pháp ấy tuy thô sơ nhưng nhiều khi lại rất hiệu quả.

Ngày nay, khi xe máy hiện đại, phụ tùng sẵn có và các cửa hàng sửa chữa xuất hiện khắp nơi, lớp trẻ khó có thể hình dung được những vất vả của người sử dụng xe máy gần nửa thế kỷ trước. Thế nhưng chính những thiếu thốn ấy lại tạo nên vô số câu chuyện đáng nhớ. Và với tôi, vết sẹo ở cổ chân phải vẫn luôn nhắc nhớ về một buổi trưa mùa hè năm 1978, về chiếc xe máy thân thuộc và về một thời gian khó nhưng đầy kỷ niệm không thể nào quên.

Có lần, vì quá tự tin vào “tay nghề cơ khí” của mình, tôi đã quyết định làm một việc mà bây giờ nghĩ lại vẫn thấy vừa buồn cười vừa thót tim. Hồi đó, chiếc xe máy không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là một tài sản rất lớn của gia đình. Vậy mà tôi lại dám tự mình tháo tung cả động cơ để thay xéc măng.

Trước đó, tôi đã nhiều lần tự sửa chữa những hỏng hóc lặt vặt. Từ việc thay bugi, chỉnh chế hòa khí, thay dây phanh, căng xích,… cho đến vệ sinh bình xăng con, tôi đều tự mày mò thực hiện. Mỗi lần sửa xong thấy xe vận hành trơn tru hơn, lòng tôi lại thêm phần phấn khích. Cảm giác tự tay làm được một việc mà người khác phải mang ra cửa hàng sửa chữa khiến tôi vô cùng thích thú.

Lần thay xéc măng đầu tiên diễn ra khá thuận lợi. Sau khi lắp ráp lại, chiếc xe dường như chạy bốc hơn trước. Mỗi lần tăng ga, tiếng máy giòn giã, mạnh mẽ khiến tôi vô cùng đắc ý. Thành công ấy khiến tôi tin rằng mình đã đạt đến trình độ của một người thợ thực thụ.

Chính sự tự tin ấy đã dẫn tôi đến một quyết định táo bạo hơn. Một thời gian sau, trong động cơ xuất hiện tiếng gõ lạ. Nghe nhiều người nói đó có thể là do thanh truyền hoặc trục khuỷu có vấn đề, tôi liền nảy ý định “bổ máy” để kiểm tra. Đây là công việc phức tạp hơn rất nhiều so với thay xéc măng, nhưng lúc đó tôi chẳng hề e ngại.

Tất nhiên, việc làm này được tiến hành trong bí mật. Tôi không nói với ai trong gia đình vì sợ mọi người ngăn cản. Hơn nữa, nếu chẳng may làm hỏng xe thì cũng đỡ bị chê trách. Tôi âm thầm chuẩn bị dụng cụ, rồi dành cả ngày để tháo rời từng bộ phận của động cơ.

Sau nhiều giờ loay hoay, cuối cùng tôi cũng hoàn thành việc lắp ráp lại chiếc xe. Nhìn bề ngoài, mọi thứ đều có vẻ ổn. Tôi khởi động thử, động cơ nổ máy bình thường. Thấy vậy, tôi thở phào nhẹ nhõm và nghĩ rằng mình lại vừa có thêm một chiến công mới.

Nhưng đời không đơn giản như vậy.

Khi lắp ráp, tôi đã mắc một sai lầm nghiêm trọng mà lúc đó hoàn toàn không nhận ra. Đó là không xiết chặt đai ốc ở đầu trục khuỷu. Một chi tiết nhỏ nhưng lại có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động của động cơ.

Lúc đầu, chiếc xe vẫn chạy bình thường. Tôi phóng thử một đoạn ngắn trên đường. Thế rồi tiếng gõ bắt đầu xuất hiện. Ban đầu chỉ là những âm thanh rất nhỏ. Tôi nghĩ chắc động cơ chưa ổn định nên không quá để ý. Nhưng chỉ ít phút sau, tiếng gõ trở nên rõ ràng hơn, rồi ngày càng lớn. Một cảm giác bất an lập tức xuất hiện. Linh tính mách bảo rằng có chuyện không ổn. Tôi vội vàng giảm ga rồi tắt máy. Chiếc xe được dắt lặng lẽ về nhà như một bệnh nhân vừa trải qua ca phẫu thuật thất bại.

Tối hôm đó, tôi gần như mất ngủ. Sáng hôm sau, không còn cách nào khác, tôi phải đưa xe ra cửa hàng sửa chữa. Tuy nhiên, tôi vẫn giấu nhẹm chuyện mình đã tự ý tháo máy. Tôi chỉ nói rằng xe đột nhiên phát ra tiếng động lạ rồi chết máy.

Người thợ sau khi kiểm tra khá lâu mới kết luận rằng trục khuỷu đã bị cong và cần phải chỉnh sửa lại. Công việc mất khá nhiều thời gian. Tôi đứng bên cạnh theo dõi mà trong lòng vừa lo lắng vừa áy náy. Dù người thợ không biết nguyên nhân thực sự, nhưng bản thân tôi hiểu rõ rằng chính sự chủ quan của mình đã gây ra hỏng hóc ấy.

Sau sự việc đó, niềm đam mê tự sửa xe của tôi giảm đi đáng kể. Tôi vẫn có thể thay dầu, bảo dưỡng hoặc xử lý những lỗi đơn giản, nhưng không còn dám tự ý can thiệp sâu vào động cơ nữa. Bài học ấy khiến tôi nhận ra rằng giữa sự tự tin và sự liều lĩnh đôi khi chỉ cách nhau một ranh giới rất mong manh.

Ít lâu sau, chiếc xe cũng không còn được sử dụng nhiều. Đó là thời kỳ đất nước còn vô cùng khó khăn. Xăng dầu khan hiếm đến mức nhiều khi có xe mà không có xăng để đi. Những người sở hữu xe máy thường chỉ sử dụng trong những trường hợp thật cần thiết.

Trong hoàn cảnh ấy, cả tôi và ông anh đều nghĩ đến chuyện bán xe. Nghĩ là làm. May mắn thay, vừa có ý định thì đã có người đến hỏi mua. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh chóng. Cuối cùng, chiếc xe được bán với giá một nghìn đồng, người mua trả bớt năm mươi đồng.

Lúc đó, chúng tôi mừng lắm. Bởi ngày trước mua chiếc xe chỉ hết khoảng bốn trăm đồng. Sau bốn, năm năm sử dụng, lại còn nhiều lần bị tôi mang ra thử nghiệm đủ kiểu, vậy mà bán được giá như thế quả là ngoài mong đợi.

Nếu thời điểm có xe máy được xem là cảnh “lên voi” thì sau khi bán xe, cuộc sống của tôi lại quay về với chiếc xe đạp quen thuộc. Tuy nhiên, điều đó cũng chẳng phải vấn đề lớn. Nơi làm việc cách nhà không xa nên mỗi ngày đạp xe thong thả cũng khá thuận tiện.

Khi cần đi xa hơn, tôi thường mượn chiếc Honda 67 của ông anh. Đó là loại xe côn tay nổi tiếng thời bấy giờ. Mỗi lần nổ máy, tiếng động cơ vang lên đầy mạnh mẽ. Chạy trên đường với chiếc xe ấy cũng có cảm giác rất khác biệt so với những chiếc xe phổ thông khác.

Nhưng rồi cuộc sống tiếp tục thay đổi. Ông anh lấy vợ, xây dựng gia đình riêng. Chiếc Honda 67 cũng được bán đi để trang trải chi phí. Thay vào đó là một chiếc xe hiệu Star, hoặc có thể là Spart gì đó, giờ tôi cũng không còn nhớ chính xác nữa.

Những năm sau, phong trào hợp tác lao động với các nước Đông Âu phát triển mạnh. Nhiều người đi lao động ở nước ngoài gửi xe máy về nước. Một trong số đó là chiếc Babeta mà chú em tôi mua được.

Babeta có kiểu dáng nhỏ gọn, khá giống xe cào cào. Tuy dung tích động cơ không lớn nhưng xe tăng tốc rất nhanh. Mỗi lần vặn ga, chiếc xe lao đi đầy hứng khởi. Tôi khá thích cảm giác điều khiển nó. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà tôi vẫn chưa thực sự tin tưởng để đi xa. Xe chủ yếu chỉ được sử dụng trong những quãng đường ngắn quanh khu vực nhà ở.

Rồi đến thời kỳ xe máy Nhật Bản bãi được nhập về với số lượng lớn. Đây là một giai đoạn đặc biệt đối với gia đình tôi. Nhà tôi khi ấy trở thành một điểm tập kết xe máy bãi khá nổi tiếng ở Hà Nội. Có những thời điểm, sân nhà và khu vực xung quanh chứa tới vài trăm chiếc xe đủ chủng loại.

Từ những chiếc xe cũ kỹ được dân buôn gọi vui là “thiên thần bãi rác” cho tới những chiếc còn mới gần như nguyên vẹn đều có mặt. Ngày nào cũng có người đến xem xe, mua xe hoặc trao đổi phụ tùng. Không khí lúc nào cũng nhộn nhịp.

Ấy vậy mà thật lạ, giữa hàng trăm chiếc xe đẹp, tôi lại chẳng đặc biệt yêu thích chiếc nào. Tôi thường giúp bạn bè, đồng nghiệp tìm mua xe tốt, giới thiệu những chiếc máy còn khỏe, hình thức xe còn mới đẹp, nhưng bản thân lại không quá quan tâm đến việc sở hữu chúng.

Đầu năm 1992, theo xu hướng chung và cũng nhờ sự động viên bằng cả tinh thần và tài chính của chú Điền, tôi quyết định mua một chiếc DD màu đỏ chói. Đối với tôi khi ấy, đây gần như là tài sản giá trị nhất trong nhà. Bởi vậy, tôi chăm sóc nó rất cẩn thận. Hầu như tuần nào cũng tự tay lau rửa, thay dầu, tra mỡ và kiểm tra từng chi tiết nhỏ.

Thế nhưng niềm vui ấy không kéo dài lâu. Chỉ một thời gian ngắn sau, những chiếc Cup 82 có đề điện, nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài, bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều. So với chúng, chiếc DD của tôi nhanh chóng bị đánh giá là lạc hậu. Bạn bè thường đùa rằng đó là loại xe gây ra “bệnh to một chân”, ý nói mỗi lần khởi động đều phải đạp cần nổ máy.

Đúng lúc ấy, lại có người hỏi mua chiếc DD với giá khá tốt. Tính toán thấy vẫn có chút lãi, tôi quyết định bán xe. Đầu năm 1993, tôi vay thêm một ít tiền rồi mua một chiếc Cup 82 loại 70 phân khối mới nguyên thùng. Đó là một trong những chiếc xe khiến tôi hài lòng nhất. Xe vận hành bền bỉ, tiết kiệm nhiên liệu và rất ít hỏng vặt. Tôi sử dụng nó gần mười năm mà hầu như không gặp sự cố lớn nào.

Đến năm 1999, gia đình mua thêm một chiếc Cup 82 nữa. Từ đó, hai vợ chồng mỗi người một xe nhưng cùng một loại. Quan điểm của chúng tôi rất đơn giản: cùng mẫu xe thì dễ sử dụng, dễ sửa chữa, phụ tùng có thể dùng chung. Và thú thực, nhìn hai chiếc xe giống hệt nhau dựng cạnh nhau trước cửa nhà cũng tạo cảm giác rất đẹp mắt, như một cặp bạn đồng hành đã cùng gia đình đi qua biết bao chặng đường của cuộc sống.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Có một thời như thế đấy

Những kỷ niệm về ngôi nhà 97