Những đổi thay trong ngôi nhà cũ

 

Bước sang đầu những năm 1990, đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ sau công cuộc đổi mới. Cơ chế bao cấp dần lùi vào quá khứ, nhường chỗ cho những cách làm mới năng động hơn. Trong cuộc sống thường ngày, người dân ai cũng cố gắng tìm một lối đi riêng để cải thiện hoàn cảnh gia đình. Người thì mở cửa hàng buôn bán nhỏ, người nhận làm thêm nghề phụ, người tìm cách mở rộng sản xuất. Dân gian khi ấy thường gọi những cố gắng vượt qua những ràng buộc cũ là “phá rào”. Tuy nhiên, riêng trong lĩnh vực nhà ở và đất đai, đặc biệt là những ngôi nhà thuộc diện Nhà nước quản lý, mọi việc vẫn còn hết sức phức tạp. Các thủ tục hành chính rườm rà, những quy định chồng chéo cùng tâm lý bảo thủ của cán bộ quản lý khiến việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nhà cửa kéo dài qua nhiều năm.


Gia đình tôi sống trong căn nhà số 97 đã từ rất lâu. Ngôi nhà ấy gắn bó với biết bao kỷ niệm của nhiều thế hệ trong gia đình. Đó là nơi chúng tôi lớn lên, học hành, làm việc và trải qua những năm tháng khó khăn nhất của thời bao cấp. Thế nhưng, về mặt pháp lý, quyền sử dụng căn nhà vẫn chưa được xác lập rõ ràng. Gia đình ở đó từ lâu nhưng chưa có giấy tờ hợp lệ đứng tên. Điều này khiến Bố tôi luôn canh cánh trong lòng. Ông hiểu rằng nếu không sớm giải quyết thì về sau sẽ phát sinh nhiều khó khăn cho con cháu.

Là người cẩn thận và có trách nhiệm với gia đình, Bố tôi luôn theo dõi những thay đổi trong chính sách nhà đất của Nhà nước. Khi nhận thấy các quy định mới bắt đầu tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, ông quyết định hành động. Năm 1992, ông tự tay viết đơn trình bày nguyện vọng gửi lên các cơ quan chức năng của Thành phố. Nội dung đơn rất rõ ràng: gia đình đang sinh sống ổn định tại nhà số 97 và mong muốn được công nhận quyền sử dụng hợp pháp, hoặc ít nhất là được ký hợp đồng thuê nhà chính thức đứng tên ông.

Ngày 10 tháng 12 năm 1992, lá đơn được gửi đi. Đó là một việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế lại kéo theo cả một quá trình dài đầy kiên nhẫn. Thời điểm ấy, thông tin về chính sách chưa phổ biến rộng rãi như bây giờ. Người dân muốn làm thủ tục thường phải tự tìm hiểu qua bạn bè, người quen hoặc qua những văn bản hành chính khó đọc. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà đất cũng chưa thực sự quen với việc giải quyết các trường hợp tồn đọng từ nhiều năm trước. Vì vậy, hồ sơ của Bố tôi phải đi qua nhiều cấp, nhiều phòng ban khác nhau.

Những công văn qua lại giữa Sở Nhà đất và chính quyền địa phương kéo dài nhiều tháng. Có những lúc tưởng như mọi việc đã đi vào ngõ cụt. Tuy nhiên, Bố tôi không nản lòng. Ông kiên trì theo dõi tiến độ, bổ sung giấy tờ khi được yêu cầu và tiếp tục chờ đợi. Sự kiên trì ấy cuối cùng cũng được đền đáp. Ngày 21 tháng 8 năm 1993, Xí nghiệp Quản lý Nhà đất quận Hoàn Kiếm gửi giấy mời Bố tôi đến làm thủ tục ký hợp đồng thuê nhà. Chỉ vài ngày sau, vào ngày 26 tháng 8 năm 1993, hợp đồng thuê nhà chính thức được lập đứng tên ông. Đó là một dấu mốc rất quan trọng đối với gia đình tôi. Sau nhiều năm sinh sống trong tình trạng pháp lý chưa rõ ràng, cuối cùng căn nhà cũng đã có một cơ sở pháp lý chính thức.

Trong hợp đồng ghi rõ diện tích nhà chính là 143,3 mét vuông cùng với 40,2 mét vuông khu phụ. Văn bản cũng xác nhận ba hộ khẩu đang cùng sinh sống tại đây, gồm gia đình ông Độ – bà Hằng, gia đình Lan Điền và gia đình Nguyệt Quang. Những con số khô khan ấy đối với người ngoài có thể không mang nhiều ý nghĩa, nhưng với gia đình tôi, đó là thành quả của biết bao công sức và sự kiên trì.

Tuy đạt được điều mình mong muốn, Bố tôi vẫn chưa thật sự yên tâm. Thực tế, căn nhà lúc đó đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều hạng mục được xây dựng từ rất lâu nên xuất hiện tình trạng nứt tường, dột mái và hư hỏng ở nhiều nơi. Mỗi mùa mưa đến, cả nhà lại thấp thỏm lo lắng. Không ai có thể chắc chắn rằng ngôi nhà già nua ấy sẽ còn đứng vững được bao lâu nữa.

Bên cạnh vấn đề xuống cấp, cách bố trí sinh hoạt trong căn nhà cũng bộc lộ nhiều bất cập. Ba gia đình cùng chung sống trên một diện tích không quá rộng khiến không gian sinh hoạt bị chia cắt. Những khu vực dùng chung như sân, lối đi hay khu phụ đôi khi phát sinh những bất tiện không thể tránh khỏi. Điều này càng trở nên khó khăn khi số lượng thành viên trong các gia đình ngày một tăng lên.

Đúng vào thời điểm đó, ngoài xã hội bắt đầu xuất hiện tin đồn rằng Thành phố sẽ thu mua hoặc thuê lại các biệt thự dọc phố để phục vụ mục đích kinh doanh và phát triển đô thị. Nhận thấy đây có thể là cơ hội để giải quyết tận gốc những khó khăn về nhà ở, đầu năm 1994 Bố tôi lại tiếp tục viết đơn kiến nghị.

Trong lá đơn đề ngày 8 tháng 1 năm 1994, ông đề xuất một phương án khá táo bạo. Gia đình sẽ trả lại toàn bộ khu biệt thự số 97 cho Thành phố và đổi lấy một mảnh đất khác có diện tích khoảng 400 mét vuông, tương đương với diện tích khu đất đang sử dụng. Đồng thời, ông mong muốn được tạo điều kiện để xây dựng một ngôi nhà mới với diện tích sử dụng tương đương nơi ở hiện tại. Theo suy nghĩ của ông, đây là giải pháp hợp lý cho cả hai phía: Nhà nước có thể sử dụng khu biệt thự vào mục đích khác, còn gia đình ông có cơ hội xây dựng một nơi ở khang trang, phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.

Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng diễn ra theo những dự định tốt đẹp. Lá đơn ấy đã không nhận được phản hồi nào. Không có văn bản trả lời, cũng không có cuộc gặp gỡ trao đổi. Mọi thứ rơi vào im lặng. Có lẽ các cơ quan chức năng khi đó nhận thấy việc thực hiện đề xuất này quá phức tạp. Nó liên quan đến nhiều cấp quản lý, nhiều quy định và rất nhiều thủ tục hành chính. Trong bối cảnh hệ thống quản lý nhà đất vẫn còn mang nặng dấu ấn của thời bao cấp, một phương án như vậy gần như không có cơ hội trở thành hiện thực.

Nhìn lại sau nhiều năm, tôi vẫn nhớ hình ảnh Bố mình cặm cụi viết từng lá đơn bằng nét chữ nắn nót và đầy hy vọng. Dù thành công hay không, những việc ông làm đều xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình và mong muốn tạo dựng một cuộc sống ổn định hơn cho con cháu. Những lá đơn ấy không chỉ là giấy tờ hành chính mà còn phản ánh tinh thần chủ động của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, bao cấp rồi bước vào thời kỳ đổi mới với khát vọng xây dựng tương lai tốt đẹp hơn. Và ngôi nhà số 97, dù đã trải qua bao đổi thay, vẫn mãi là một phần ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời mỗi thành viên của gia đình tôi.

Trong khu nhà số 97 có một căn nhà hai tầng được xây dựng từ những năm đầu tiếp quản Thủ đô. So với các công trình xung quanh, đây là ngôi nhà có chất lượng tốt nhất, kết cấu chắc chắn, tường xây dày, mái lợp ngói cẩn thận và được thiết kế khá hợp lý. Tuy nhiên, thời gian là kẻ thù của mọi công trình. Hơn nửa thế kỷ trôi qua với biết bao biến động của đất nước và gia đình, ngôi nhà dần xuống cấp. Điều đáng nói là trong suốt nhiều năm, căn nhà không được bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên. Cơ quan quản lý nhà đất chỉ đứng tên trong các giấy tờ hợp đồng, còn việc duy tu hay đầu tư sửa chữa hầu như không được thực hiện. Mọi khó khăn, hư hỏng đều do gia đình tự xoay xở khắc phục.

Mái ngói vốn chắc chắn ngày nào bắt đầu dột nát. Mỗi khi mùa mưa đến, cả gia đình lại thấp thỏm lo âu. Những trận mưa lớn kèm gió mạnh thường làm nước mưa hắt qua các khe ngói, nhỏ xuống nền nhà, bàn ghế và cả giường ngủ. Có những đêm mưa kéo dài, mọi người phải thức dậy giữa khuya để kê chậu hứng nước hoặc chuyển chỗ nằm. Cuộc sống trong ngôi nhà cũ kỹ ấy tuy vất vả nhưng đã trở thành một phần quen thuộc của gia đình chúng tôi. Ngay sau đó, chúng tôi tự lo lắng khắc phục, sửa chữa lại để ổn định cuộc sống. Việc sửa chữa tiêu tốn không ít công sức và tiền bạc, nhưng ai cũng hiểu rằng đó là việc không thể trì hoãn.

Chứng kiến cảnh nhà cửa xuống cấp từng ngày, Bố tôi nhiều lần trăn trở về tương lai của ngôi nhà. Ông luôn hy vọng một ngày nào đó các cơ quan chức năng sẽ giải quyết dứt điểm quyền sở hữu để gia đình có thể chủ động hơn trong việc sửa chữa, sử dụng hoặc định đoạt tài sản. Theo suy nghĩ của ông, nếu được cấp quyền sở hữu hợp pháp thì mọi vướng mắc tồn tại nhiều năm sẽ có cơ hội được giải quyết một cách rõ ràng và hợp tình hợp lý.

Khoảng năm 1999, khi tuổi đã cao nhưng vẫn còn minh mẫn, Bố tôi bắt đầu tính toán cho tương lai. Ông cho rằng nếu gia đình được công nhận quyền sở hữu nhà số 97 thì có thể bán căn nhà theo giá thị trường lúc bấy giờ. Sau khi tham khảo ý kiến của Trần Điền về giá trị bất động sản, ông hình dung rằng số tiền thu được sẽ khá lớn. Một nửa số tiền có thể dùng để xây dựng một ngôi nhà mới gồm hai phần riêng biệt dành cho gia đình Trần Quang và gia đình Trần Điền. Bố và Mẹ sẽ lần lượt sống cùng các con trong điều kiện thuận lợi hơn.

Không dừng lại ở đó, Bố tôi còn hình dung rất cụ thể về ngôi nhà tương lai. Ông mong muốn công trình phải có tường bao kiên cố, có sân vườn thoáng đãng và có lối đi ra vào đàng hoàng. Sau nhiều năm sống trong hoàn cảnh chật hẹp và xuống cấp, ông luôn ao ước con cháu được hưởng một môi trường sống tốt hơn. Trong suy nghĩ của ông, một ngôi nhà không chỉ là nơi che mưa che nắng mà còn là không gian để các thế hệ trong gia đình gắn bó với nhau.

Với phần tiền còn lại, ông dự định dành một phần để xây dựng một căn nhà tình nghĩa hoặc thực hiện các hoạt động thiện nguyện. Ông cũng muốn có những món quà dành cho người thân và những người đã từng giúp đỡ gia đình trong những năm tháng khó khăn. Đó là cách ông thể hiện lòng biết ơn đối với những tình cảm và sự hỗ trợ mà gia đình đã nhận được trong suốt cuộc đời.

Bố tôi còn dự tính mua sắm thêm các vật dụng cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Trong những câu chuyện gia đình, ông đôi khi hài hước nói rằng nếu điều kiện cho phép thì sẽ mua cả một chiếc ô tô để đi lại cho thuận tiện và “cho biết với đời”. Dù nghe có vẻ viển vông đối với hoàn cảnh lúc bấy giờ, nhưng qua đó có thể thấy ông đang mơ về một cuộc sống an nhàn sau nhiều năm vất vả.

Điều quan trọng nhất trong dự định của ông là phải giữ lại một khoản vốn ổn định. Ông mong muốn gửi tiết kiệm để có nguồn thu nhập hằng tháng phục vụ các chi phí sinh hoạt thiết yếu. Xa hơn nữa, ông nghĩ tới việc thuê người chăm sóc vườn tược, giúp việc gia đình hoặc hỗ trợ những công việc mà tuổi già không còn đủ sức đảm đương. Đó là những suy tính rất thực tế của một người cha luôn lo xa cho bản thân và con cháu.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, vào tháng 12 năm 1998, Bố tôi bắt đầu soạn thảo bản ý nguyện cuối cùng, gần giống như một bản di chúc. Trong đó, vấn đề khiến ông băn khoăn nhiều nhất vẫn là số phận của ngôi nhà 97. Ban đầu, ông viết rằng muốn giao lại trách nhiệm cho hai người con đang sinh sống tại đây là Trần Quang và Trần Điền tiếp tục làm việc với các cơ quan nhà nước để thực hiện các chính sách liên quan đến nhà đất.

Đến tháng 9 năm 2000, sau nhiều lần suy nghĩ, ông sửa lại nội dung này. Ông viết rằng nếu quyền sở hữu được giải quyết thì ngôi nhà cùng diện tích đất đi kèm sẽ trở thành một tài sản lớn của gia đình. Ông mong muốn giá trị đó được chia đều cho các con, bảo đảm sự công bằng giữa các thành viên. Đồng thời, ông giao cho người con trai cả là Trần Thắng, sinh năm 1947, trách nhiệm chủ trì việc xử lý các vấn đề cụ thể.

Nhìn lại ngày hôm nay, những dự định của Bố tôi có thể đã không hoàn toàn trở thành hiện thực. Thế nhưng qua từng dòng chữ còn lưu lại, chúng tôi cảm nhận được tấm lòng của một người cha luôn nghĩ cho gia đình. Dù trong hoàn cảnh nhà cửa xuống cấp, quyền sở hữu chưa rõ ràng và tương lai còn nhiều bất định, ông vẫn cố gắng hoạch định một con đường tốt đẹp nhất cho con cháu. Ngôi nhà số 97 vì thế không chỉ là một tài sản vật chất, mà còn là nơi lưu giữ những ký ức, những hy vọng và tình yêu thương mà Bố tôi đã gửi gắm cho các thế hệ sau.

Sang năm 2000, gia đình tôi đứng trước một cơ hội mà đã nhiều năm trước đó chúng tôi không dám nghĩ tới. Nhà nước ban hành chính sách bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê, tạo điều kiện để nhiều gia đình có hoàn cảnh đặc biệt được ổn định nơi ở. Cùng thời điểm ấy, ngày 3 tháng 2 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng trước năm 1945 cải thiện nhà ở. Đối với gia đình tôi, đây không chỉ là một chính sách thông thường mà còn là tia hy vọng sau nhiều năm sống trong tâm trạng chờ đợi và mong mỏi được giải quyết quyền lợi chính đáng.

Bố tôi, Trung tướng Trần Độ, vốn là người hoạt động cách mạng từ rất sớm. Trong suốt nhiều năm, ông đã gửi nhiều đơn thư đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết vấn đề nhà ở cho gia đình. Thế nhưng, những lá đơn ấy hầu như không nhận được hồi âm. Hết lần này đến lần khác, gia đình lại chờ đợi trong vô vọng. Điều duy nhất chúng tôi nhận thấy có chút chuyển biến là việc Xí nghiệp Kinh doanh nhà quận Hoàn Kiếm cử cán bộ xuống đo vẽ hiện trạng căn nhà số 97 vào ngày 24 tháng 7 năm 2001. Dù chỉ là một bước thủ tục rất nhỏ, nhưng đối với chúng tôi lúc ấy, đó cũng là dấu hiệu cho thấy hồ sơ đã bắt đầu được quan tâm.

Những năm cuối đời của Bố là khoảng thời gian đầy khó khăn. Sức khỏe ông suy giảm nhanh chóng vì bệnh tật. Dẫu vậy, ông vẫn luôn đau đáu chuyện nhà cửa của gia đình. Ông hiểu rằng nếu vấn đề này không được giải quyết thì sau khi ông mất, vợ con sẽ còn phải tiếp tục vất vả. Chính vì vậy, ngay trong những ngày ông nằm trên giường bệnh, chúng tôi vẫn cố gắng hoàn thiện hồ sơ và tiếp tục gửi đơn kiến nghị.

Ngày 30 tháng 7 năm 2002, gia đình làm đơn gửi Thủ tướng Chính phủ, đề nghị xem xét giải quyết căn nhà số 97. Khi đó, chúng tôi không biết rằng con đường phía trước sẽ còn rất dài và nhiều trở ngại hơn những gì đã hình dung. Hệ thống chính sách hỗ trợ nhà ở dành cho người có công liên quan tới nhiều đối tượng, nhiều cơ quan quản lý khác nhau, vì thế việc triển khai phải qua rất nhiều tầng nấc thủ tục. Hồ sơ đi từ nơi này sang nơi khác, bổ sung văn bản này rồi lại cần thêm xác nhận khác. Có những lúc tưởng như mọi việc đã gần hoàn tất, nhưng rồi lại phát sinh yêu cầu mới khiến tiến trình tiếp tục kéo dài.

Phải đến ngày 12 tháng 11 năm 2002, sau khi Văn phòng Thủ tướng Chính phủ có ý kiến về việc giải quyết chính sách hỗ trợ nhà ở cho gia đình ông Trần Độ, mọi việc mới thực sự bắt đầu chuyển động. Điều khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng là thời điểm đó Bố tôi đã qua đời. Người đã kiên trì theo đuổi sự việc suốt nhiều năm cuối cùng lại không thể chứng kiến kết quả của những nỗ lực ấy. Sự ra đi của ông để lại khoảng trống rất lớn trong gia đình, nhưng đồng thời cũng khiến chúng tôi có thêm quyết tâm tiếp tục hoàn thành những công việc dang dở mà ông để lại.

Nếu như quá trình xin giải quyết chính sách đã khó khăn thì việc hoàn tất các thủ tục để mua căn nhà số 97 còn gian nan hơn nhiều. Chính sách hỗ trợ người có công có quy định rất rõ ràng: những đối tượng đủ điều kiện sẽ được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất khi mua nhà thuộc sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, để được hưởng chính sách đó, người dân phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ chứng minh theo quy định.

Khi làm việc với Sở Nhà đất Hà Nội thông qua Ban 61, chúng tôi được yêu cầu bổ sung hàng loạt văn bản. Trong số đó, tài liệu quan trọng nhất là giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc công nhận Bố và Mẹ tôi là những người hoạt động cách mạng lão thành. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định mức ưu đãi mà gia đình được hưởng.

Về phía Mẹ tôi, thủ tục tương đối thuận lợi. Bà đã có văn bản xác nhận của Thành ủy Hà Nội, ghi nhận quá trình tham gia hoạt động cách mạng liên tục trong bảy năm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Những đóng góp của bà đã được xác nhận đầy đủ bằng hồ sơ và tư liệu lưu trữ. Vì vậy, phần thủ tục liên quan đến Mẹ gần như không gặp trở ngại.

Trường hợp của Bố tôi lại hoàn toàn khác. Mặc dù ông là người hoạt động cách mạng từ rất sớm, từng trải qua nhiều chiến trường, giữ nhiều trọng trách quan trọng của Đảng, Nhà nước và Quân đội, nhưng vào giai đoạn đó, quan hệ giữa ông với một số cơ quan Trung ương Đảng đang tồn tại nhiều căng thẳng. Chính vì thế, việc xin một văn bản xác nhận tưởng chừng rất đơn giản lại trở nên vô cùng khó khăn.

Khi hồ sơ mua nhà gần hoàn tất, chúng tôi phát hiện chỉ còn thiếu duy nhất văn bản xác nhận Bố tôi là “Lão thành cách mạng”. Đây lại chính là giấy tờ có ý nghĩa quyết định. Nếu cả Bố và Mẹ đều có đầy đủ xác nhận theo quy định, toàn bộ số tiền sử dụng đất của căn nhà số 97 có thể được miễn giảm hoàn toàn. Nói cách khác, gia đình có khả năng được mua căn nhà với chi phí tượng trưng, gần như là một “ngôi nhà 0 đồng”.

Theo hướng dẫn tận tình của một chị Phó Ban 61 thuộc Sở Nhà đất, tôi được anh Nghiêm Hà dẫn đến Ban Tổ chức Trung ương để liên hệ với Vụ Chính sách. Chúng tôi mang theo toàn bộ hồ sơ cần thiết với hy vọng có thể xin được văn bản xác nhận còn thiếu.

Khi gặp một cán bộ của Vụ và trình bày sự việc, phản ứng của anh ta khiến chúng tôi hoàn toàn bất ngờ. Anh nói ngay rằng việc xác nhận là không cần thiết. Giọng nói mỗi lúc một lớn hơn, như thể đang tranh luận chứ không phải giải quyết công việc hành chính. Anh lý sự rằng ai cũng biết ông Trần Độ là lão thành cách mạng, vậy thì cần gì phải có thêm một tờ giấy xác nhận nữa.

Nghe vậy, tôi cố gắng bình tĩnh giải thích rằng chính gia đình tôi cũng không cần thêm sự khẳng định nào về quá trình hoạt động cách mạng của Bố. Điều chúng tôi cần chỉ là một văn bản theo đúng quy định của cơ quan Nhà nước để hoàn tất hồ sơ. Nếu pháp luật không yêu cầu thì chúng tôi đã không phải đến đây.

Tuy nhiên, lời giải thích ấy dường như không có tác dụng. Người cán bộ lập tức nhấc điện thoại gọi cho chị Phó Ban 61 mà tôi vừa nhắc đến. Ngồi ngay bên cạnh, tôi nghe rõ anh tiếp tục lặp lại những lập luận trước đó với giọng điệu gay gắt. Anh cho rằng nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao như Đỗ Mười, Lê Đức Anh cũng không cần loại giấy xác nhận này, vậy tại sao gia đình ông Trần Độ lại phải xin.

Cuộc điện thoại kéo dài khá lâu. Một đầu dây liên tục lớn tiếng trình bày quan điểm của mình, trong khi đầu dây bên kia dường như chỉ lặng lẽ lắng nghe. Cuối cùng, cuộc trao đổi kết thúc mà không có bất kỳ kết quả tích cực nào. Người cán bộ khép lại câu chuyện bằng thái độ dứt khoát từ chối giải quyết.

Chúng tôi ra về trong tâm trạng nặng nề và thất vọng. Điều khiến tôi buồn nhất không phải là việc thiếu một tờ giấy hay chậm thêm một thủ tục. Điều day dứt hơn cả là cảm giác trước một sự thật quá hiển nhiên, một quá trình cống hiến đã được lịch sử ghi nhận, vậy mà gia đình vẫn phải đi gõ cửa từng cơ quan để xin một văn bản xác nhận. Đó là một nghịch lý khó lý giải.

Nhìn lại chặng đường ấy, tôi càng thấm thía rằng phía sau mỗi hồ sơ hành chính đôi khi là biết bao số phận, biết bao nỗi niềm và cả những năm tháng chờ đợi. Đối với gia đình chúng tôi, câu chuyện căn nhà số 97 không chỉ là câu chuyện về quyền sở hữu một ngôi nhà. Đó còn là hành trình đi tìm sự công bằng, là nỗ lực thực hiện tâm nguyện cuối đời của Bố tôi, và cũng là một ký ức khó quên về những thử thách mà gia đình đã trải qua trong những năm đầu thế kỷ XXI.

Một buổi lên làm việc tại Sở Nhà đất Hà Nội là một dấu mốc mà bốn anh em chúng tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Hôm ấy, chị Phó Ban 61 tiếp chúng tôi với thái độ chân thành và cởi mở. Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, chị khuyên chúng tôi nên suy nghĩ thật kỹ nhưng cũng cần nhanh chóng nắm lấy cơ hội hiếm có để giải quyết dứt điểm vấn đề ngôi nhà số 97. Chị phân tích rằng các chính sách về nhà thuộc sở hữu nhà nước đang trong giai đoạn chuyển đổi, không ai có thể biết sau này sẽ thay đổi như thế nào. Nếu chần chừ, có thể gia đình sẽ bỏ lỡ một cơ hội mà nhiều người khác đang mong muốn có được.

Lời khuyên ấy khiến chúng tôi suy nghĩ rất nhiều. Trên đường trở về, ký ức về những năm tháng trước đây lại hiện lên trong tâm trí mỗi người. Từ khi còn sống, Bố tôi luôn canh cánh trong lòng về số phận của ngôi nhà 97. Cụ đã dành nhiều tâm sức để gìn giữ, chăm lo cho căn nhà ấy và luôn mong một ngày nào đó gia đình sẽ có được quyền sở hữu hợp pháp. Mỗi lần nhắc đến chuyện nhà cửa, ánh mắt của Bố thường chất chứa một nỗi băn khoăn khó diễn tả. Chính vì vậy, khi đứng trước cơ hội giải quyết dứt điểm vấn đề mà Bố hằng trăn trở, bốn anh em chúng tôi đều cảm thấy mình có trách nhiệm phải thực hiện tâm nguyện của cụ.

Sau nhiều lần bàn bạc, chúng tôi đi đến quyết định sẽ cố gắng thu xếp tài chính để mua lại ngôi nhà càng sớm càng tốt. Đó không phải là một quyết định dễ dàng. Số tiền phải bỏ ra vào thời điểm ấy là rất lớn, vượt xa khả năng tích lũy của từng người. Tuy nhiên, ai cũng hiểu rằng nếu bỏ lỡ cơ hội này thì sau đó có thể sẽ không bao giờ có cơ hội thứ hai.

Ngày 11 tháng 6 năm 2003, hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho Mẹ tôi – bà Hằng – chính thức được hoàn tất. Sau khi trừ các khoản ưu đãi dành cho Bố và Mẹ theo chính sách của Nhà nước, số tiền gia đình phải nộp vẫn lên tới gần 1,9 tỷ đồng. Vào thời điểm năm 2003, đây là một khoản tiền khổng lồ, tương đương hơn 120.000 đô la Mỹ. Số tiền này được chia đều cho bốn anh em chúng tôi cùng gánh vác. Ngoài ra, một số công việc vận động, giao dịch và xử lý các thủ tục phát sinh bên ngoài do Trần Điền trực tiếp thực hiện và chi trả.

Những tháng ngày ấy là quãng thời gian khá nhộn nhịp. Từ việc chuẩn bị tiền bạc, hoàn thiện giấy tờ cho đến việc đi lại giữa các cơ quan chức năng đều đòi hỏi nhiều công sức. Tuy nhiên, mọi người đều động viên nhau cố gắng bởi ai cũng hiểu rằng mình đang làm một việc có ý nghĩa đối với gia đình.

Đến ngày 17 tháng 11 năm 2003, niềm vui cuối cùng cũng đến. Mẹ tôi chính thức nhận được Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, thường gọi là Sổ Đỏ. Theo giấy chứng nhận, khu đất có diện tích 437,9 mét vuông, còn diện tích xây dựng của ngôi nhà là 207,68 mét vuông. Khi cầm cuốn sổ trên tay, Mẹ tôi xúc động thấy rõ. Sau bao nhiêu năm chờ đợi và bao nhiêu thủ tục phức tạp, cuối cùng quyền sở hữu ngôi nhà đã được pháp luật công nhận.

Nhìn lại, gia đình chúng tôi còn gặp một may mắn nữa. Vào thời điểm đó, nhà 97 không nằm trong danh mục các công trình kiến trúc cần được thành phố bảo tồn như một ngôi nhà cổ. Nếu bị xếp vào diện bảo tồn, việc sửa chữa, cải tạo hay chuyển nhượng sau này chắc chắn sẽ gặp nhiều hạn chế. Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những dự định tương lai của gia đình.

Tuy nhiên, có được Sổ Đỏ mới chỉ là bước khởi đầu. Ngay sau đó, một câu hỏi lớn được đặt ra: nên xử lý tài sản này như thế nào để vừa hợp lý, vừa bảo đảm quyền lợi cho tất cả mọi người?

Các cuộc họp gia đình bắt đầu diễn ra thường xuyên hơn. Nhiều phương án được đưa ra bàn bạc. Có người đề nghị chia đất để mỗi anh em xây một căn nhà riêng rồi cùng quản lý. Có người lại cho rằng nên bán toàn bộ ngôi nhà, chia đều số tiền thu được để ai cũng chủ động cuộc sống riêng. Thậm chí, có thời điểm chúng tôi còn tính đến việc phá dỡ công trình cũ, xây dựng lại một ngôi nhà mới khang trang hơn, vừa để ở vừa cho thuê nhằm tạo nguồn thu lâu dài.

Thế nhưng, càng bàn càng thấy khó. Khu đất của nhà 97 có hình chữ nhật, chiều dài khoảng bốn mươi mét. Giá trị thương mại tập trung chủ yếu ở phần mặt tiền rộng hơn mười mét tiếp giáp với đường phố. Nếu chia đều theo diện tích thì người có phần phía trong sẽ thiệt thòi. Nếu chia theo giá trị sử dụng thì lại rất khó đạt được sự công bằng tuyệt đối. Chưa kể còn phải tính đến quyền lợi của Mẹ tôi và những yếu tố tình cảm trong gia đình.

Một vấn đề khác cũng khiến mọi người trăn trở. Sau khi phân chia, tài sản sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của từng người. Có người sẽ ở, có người cho thuê, người khác có thể kinh doanh hoặc bán lại. Khi đó, sự gắn kết vốn có của ngôi nhà gia đình nhiều thế hệ có thể không còn nữa. Điều mà chúng tôi lo ngại nhất không phải là chuyện tiền bạc, mà là nguy cơ những tính toán về lợi ích làm ảnh hưởng đến tình cảm anh em.

Vì vậy, dù đã bàn đi bàn lại rất nhiều lần, chúng tôi vẫn không tìm được một phương án thực sự thỏa đáng. Những kế hoạch chia đất để xây nhà riêng dần dần ít được nhắc tới. Theo thời gian, ý tưởng ấy gần như bị gạt bỏ khỏi suy nghĩ của mọi người. Có lẽ tất cả đều nhận ra rằng giá trị lớn nhất của ngôi nhà 97 không chỉ nằm ở đất đai hay tiền bạc, mà còn ở những ký ức, những kỷ niệm gia đình và tâm nguyện mà Bố tôi đã gửi gắm trong suốt cuộc đời mình.

Cuối năm 2003, câu chuyện về ngôi nhà số 97 lại trở thành chủ đề được nhắc đến nhiều nhất trong gia đình. Khi ấy, thị trường bất động sản bắt đầu sôi động hơn trước, giá nhà đất liên tục tăng và không ít người tìm đến đặt vấn đề mua lại căn nhà. Có những người chỉ hỏi thăm dò, nhưng cũng có những đối tác tỏ ra rất nghiêm túc, chuẩn bị cả phương án giao dịch cụ thể với lộ trình thanh toán rõ ràng. Trước những lời đề nghị hấp dẫn ấy, Trần Điền đã nhiều lần trao đổi với anh em trong nhà để cùng cân nhắc tương lai của tài sản mà cha mẹ để lại.

Những cuộc họp gia đình diễn ra trong không khí vừa cởi mở vừa đầy suy tư. Mỗi người đều có những lý lẽ riêng và không ai muốn đưa ra quyết định vội vàng. Một số ý kiến cho rằng nếu bán được nhà với giá tốt thì đó sẽ là cách giải quyết dứt điểm mọi vấn đề. Sau khi chia phần rõ ràng, mỗi gia đình nhỏ sẽ chủ động hơn trong cuộc sống của mình, không còn phải bận tâm đến những chuyện liên quan đến tài sản chung. Về lâu dài, con cháu các thế hệ sau cũng sẽ tránh được những tranh chấp hay phiền phức phát sinh từ việc sở hữu chung một ngôi nhà. Đó là cách giải quyết đơn giản, minh bạch và có vẻ rất hợp lý.

Tuy nhiên, bên cạnh những suy tính về vật chất, mọi người đều cảm thấy có điều gì đó khiến mình chưa thể yên tâm. Ngôi nhà số 97 không chỉ đơn thuần là một tài sản có thể quy đổi thành tiền. Đó còn là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của gia đình qua nhiều thế hệ. Từ những ngày cha mẹ còn khỏe mạnh, những bữa cơm đông đủ, những lần giỗ chạp, lễ tết, cho đến tiếng cười đùa của con cháu trong sân nhà – tất cả đều gắn bó với từng góc tường, từng bậc cầu thang và khoảng sân quen thuộc ấy. Nhiều người lo ngại rằng nếu bán nhà đi, mỗi gia đình sẽ chuyển đến một nơi khác, cuộc sống cuốn theo những bộn bề riêng tư. Theo thời gian, anh em có thể ít gặp nhau hơn, sự gắn kết cũng dần phai nhạt. Điều khiến mọi người trăn trở nhất là việc chăm sóc, thờ cúng cha mẹ và tổ tiên sẽ được duy trì như thế nào khi không còn một mái nhà chung làm nơi hội tụ.

Vào thời điểm đó, đã có người trả mức giá gần tương đương với con số mà ông Độ từng dự tính trước đây. Thế nhưng, khi ngồi xuống tính toán chi tiết, mọi người mới nhận ra rằng mọi chuyện không hề đơn giản. Nếu bán nhà rồi chia đều số tiền thu được, mỗi gia đình sẽ phải tìm nơi ở mới. Trong điều kiện giá đất và giá nhà tại Hà Nội ngày càng tăng, số tiền nhận được tuy lớn nhưng chưa chắc đã đủ để mua một căn nhà phù hợp. Thực tế cho thấy, bán một căn nhà ở vị trí thuận lợi để đổi lấy một nơi ở tương đương không phải chuyện dễ dàng. Có khi số tiền ấy chỉ đủ mua một diện tích tương tự, hoặc đáp ứng nhu cầu tối thiểu về chỗ ở, trong khi chất lượng cuộc sống và các điều kiện sinh hoạt lại chưa chắc được đảm bảo.

Cũng có người đưa ra phương án trao đổi bằng nhiều căn nhà và mảnh đất ở các khu vực khác nhau. Ý tưởng này ban đầu nghe có vẻ hấp dẫn vì mỗi gia đình có thể nhận một phần tài sản riêng biệt. Mấy anh em đã không ít lần cùng nhau đi xem nhà, xem đất ở nhiều nơi. Những chuyến đi ấy giúp mọi người hiểu thêm về thị trường bất động sản, nhưng càng xem càng thấy khó tìm được nơi nào tạo cảm giác gắn bó như căn nhà số 97. Các khu đất được giới thiệu thường nằm rải rác, xa nhau, thiếu sự thuận tiện hoặc không phù hợp với nhu cầu thực tế. Sau nhiều lần cân nhắc, mọi người vẫn không thực sự mặn mà với phương án này.

Trong quá trình bàn bạc, dần dần xuất hiện một hướng suy nghĩ mới. Càng phân tích, mọi người càng cảm thấy đây là phương án có nhiều triển vọng. Hồi đó, mỗi khi nhận ra một hướng đi khả quan, anh em thường vui vẻ nói với nhau rằng “đã sáng ra rồi”. Phương án ấy là xây dựng lại toàn bộ khu nhà số 97 thành một tòa nhà cao tầng hiện đại. Công trình mới vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của các gia đình, vừa có thể dành một phần diện tích để kinh doanh hoặc cho thuê, tạo nguồn thu nhập lâu dài.

Ý tưởng này nhanh chóng nhận được sự đồng tình của nhiều người. Đầu những năm 2000 là giai đoạn nền kinh tế phát triển mạnh, nhiều lĩnh vực mới như bất động sản, tài chính, ngân hàng và chứng khoán đang mở ra những cơ hội hấp dẫn. Trong bối cảnh đó, đầu tư vào xây dựng được xem là hướng đi an toàn. Tài sản không bị bán đi hay thất thoát mà còn có khả năng gia tăng giá trị theo thời gian. Hơn nữa, vấn đề chỗ ở của các gia đình cũng được giải quyết một cách thuận lợi. Mọi người không phải đi tìm nơi ở mới, không phải bắt đầu lại từ đầu ở một khu vực xa lạ. Tất cả vẫn được sống trên mảnh đất quen thuộc đã gắn bó với gia đình từ bao năm qua.

Khi bàn về ngôi nhà tương lai, trí tưởng tượng của mọi người như được chắp cánh. Người nghĩ đến những căn hộ rộng rãi, người hình dung một không gian sinh hoạt chung cho con cháu, người lại mơ về những tầng nhà có thể cho thuê làm văn phòng hoặc cửa hàng. Các bản vẽ, ý tưởng thiết kế được đem ra trao đổi với niềm hứng khởi hiếm thấy. Nhưng vượt lên trên tất cả những lợi ích kinh tế và sự tiện nghi ấy là một điều quan trọng hơn nhiều.

Đó là cảm giác yên tâm khi biết rằng gia đình vẫn giữ được “quê hương” của mình. Ngôi nhà số 97 không chỉ là một địa chỉ trên giấy tờ mà còn là nơi lưu giữ ký ức, tình cảm và cội nguồn của nhiều thế hệ. Giữ lại mảnh đất ấy cũng đồng nghĩa với việc giữ lại nơi để con cháu sau này có thể trở về, gặp gỡ nhau trong những ngày lễ tết, cùng thắp nén hương tưởng nhớ cha mẹ và tổ tiên. Chính suy nghĩ ấy đã khiến nhiều người cảm thấy tâm đắc nhất. Bởi cuối cùng, giá trị lớn nhất của ngôi nhà không nằm ở số tiền có thể bán được, mà nằm ở những tình cảm và ký ức mà không một phép tính vật chất nào có thể định giá được.

Những cuộc trao đổi về tương lai của ngôi nhà số 97 ngày càng trở nên sôi nổi và cuốn hút. Ban đầu chỉ là vài ý kiến trao đổi trong những buổi gặp mặt gia đình, nhưng càng về sau, câu chuyện càng thu hút sự quan tâm của mọi người. Có những ngày sáng vừa bàn xong một phương án, chiều lại có người nghĩ thêm một ý tưởng mới, tối đến lại tiếp tục bổ sung những chi tiết khác. Không khí thảo luận lúc nào cũng hào hứng, ai cũng mong muốn tìm ra một giải pháp tốt nhất để vừa phát huy được giá trị của ngôi nhà, vừa bảo đảm quyền lợi cho tất cả các thành viên trong gia đình.

Nhìn lại, tôi vẫn nhớ khoảng thời gian từ cuối năm 2003 đến nửa đầu năm 2004 như một giai đoạn đầy hy vọng. Mỗi lần gặp nhau, mọi người lại say sưa nói về viễn cảnh một công trình mới sẽ mọc lên trên nền ngôi nhà cũ. Có người hình dung đó sẽ là một tòa nhà khang trang, hiện đại, vừa làm nơi ở vừa có thể kinh doanh, tạo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Có người lại quan tâm đến việc bố trí không gian sao cho thuận tiện cho các thế hệ cùng chung sống. Những câu chuyện ấy khiến ai nấy đều cảm thấy phấn khởi, như thể ngôi nhà mới đã hiện hữu đâu đó trước mắt.

Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui và sự háo hức, chúng tôi cũng không tránh khỏi những nỗi lo. Ai từng tham gia xây dựng hoặc đầu tư đều hiểu rằng từ ý tưởng đến hiện thực là một chặng đường dài với vô vàn khó khăn. Chúng tôi phải tính đến các thủ tục xin phép xây dựng, các quy định pháp lý liên quan đến việc cho thuê nhà, rồi những biến động về giá vật liệu xây dựng có thể làm tăng chi phí bất cứ lúc nào. Nhưng điều khiến mọi người trăn trở nhất vẫn là vấn đề tài chính. Một công trình quy mô như mong muốn sẽ cần một khoản kinh phí rất lớn, vượt xa khả năng tích lũy của từng cá nhân trong gia đình. Câu hỏi “lấy đâu ra tiền để làm nhà?” thường xuyên được nhắc đến trong các cuộc họp và luôn là bài toán khó nhất.

Trong quá trình bàn bạc, có thời điểm gia đình còn nghĩ đến phương án kết hợp với ngôi nhà số 99 ở bên cạnh để “hợp khối”. Nếu thực hiện được, công trình mới sẽ có diện tích lớn hơn, quy mô hơn và khả năng khai thác kinh doanh cũng tốt hơn. Ý tưởng này được thảo luận khá kỹ, tuy cuối cùng không trở thành hiện thực nhưng nó cho thấy quyết tâm và khát vọng của mọi người trong việc tìm kiếm một hướng đi tối ưu cho tài sản chung.

Cũng trong giai đoạn đó, nhiều bản thiết kế đã được các kiến trúc sư gửi đến để tham khảo. Mỗi bản vẽ mang một phong cách khác nhau, từ những phương án đơn giản, thực dụng đến những thiết kế hiện đại và sang trọng. Mỗi lần trải những tờ bản vẽ ra bàn, cả nhà lại quây quần cùng xem xét, góp ý và tranh luận. Chính những bản thiết kế ấy đã làm cho giấc mơ về một ngôi nhà mới trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Nhiều người bắt đầu tưởng tượng đến ngày được chuyển vào sinh sống trong một không gian tiện nghi và khang trang hơn.

Nhận thấy nếu chỉ dừng lại ở việc bàn bạc thì mọi kế hoạch sẽ khó đi đến kết quả cụ thể, từ cuối tháng Ba năm 2004, gia đình quyết định xây dựng một quy ước chung để làm cơ sở giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của từng người sau này. Sau nhiều tháng trao đổi, chỉnh sửa và thống nhất ý kiến, một bản thỏa thuận chính thức đã được hoàn thành. Nội dung chủ yếu của văn bản là xác định việc phân chia tài sản nhà số 97 thành hai phần tương ứng với quyền lợi của ông Độ và bà Hằng, quy định cách thức phân chia cho các con, thống nhất việc sử dụng tài sản để xây dựng lại nhằm mục đích kinh doanh, đồng thời bảo đảm chỗ ở ổn định cho bà Hằng và các gia đình đang sinh sống tại đây trong thời gian thi công. Văn bản cũng đề cập đến nguyên tắc sử dụng và phân chia lợi nhuận sau khi công trình hoàn thành.

Ngày 18 tháng 8 năm 2004 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi tất cả các thành viên liên quan cùng ký vào văn bản mang tên “Bản Thỏa thuận về việc Phân chia và Sử dụng tài sản của Cha Mẹ cho các con”. Đây không chỉ là một tờ giấy mang tính pháp lý, mà còn là kết quả của nhiều tháng bàn bạc, thấu hiểu và nhường nhịn lẫn nhau. Từ thời điểm đó, mỗi người đều có cơ sở rõ ràng để yên tâm về phần quyền lợi của mình. Quan trọng hơn, bản thỏa thuận đã tạo nên nền tảng vững chắc cho những bước đi tiếp theo, giúp việc quản lý, sử dụng và phát triển tài sản chung được thực hiện trên tinh thần minh bạch, đồng thuận và trách nhiệm. Đó cũng là dấu mốc mở đầu cho một chặng đường mới của ngôi nhà số 97 và của cả gia đình chúng tôi.

Để triển khai dự án xây dựng lại ngôi nhà số 97, gia đình chúng tôi phải trải qua một quá trình chuẩn bị kéo dài với rất nhiều thủ tục pháp lý phức tạp. Đây là giai đoạn đòi hỏi sự kiên trì, cẩn trọng và phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình cùng các cơ quan chức năng. Nhiều văn bản, hợp đồng và giấy tờ cần được hoàn thiện với sự hỗ trợ của các Văn phòng Công chứng cũng như các cơ quan quản lý xây dựng của thành phố Hà Nội.

Bước đầu tiên được thực hiện vào ngày 23 tháng 11 năm 2004, khi bà Hằng cùng các con lập Hợp đồng cho và nhận nhà. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm xác lập quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản của các thành viên trong gia đình trước khi tiến hành các bước tiếp theo. Sau đó, ngày 31 tháng 3 năm 2005, một Hợp đồng Ủy quyền được ký kết, giao cho Trần Điền toàn quyền đại diện gia đình thực hiện các công việc liên quan đến việc xây dựng ngôi nhà mới.

Trong suốt năm 2005, hồ sơ xây dựng được hoàn thiện dần. Ngày 11 tháng 10 năm 2005, Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội có văn bản chấp thuận phương án xây dựng nhà số 97 theo các quy định hiện hành. Đây là dấu mốc quan trọng bởi khi có sự đồng ý của cơ quan quy hoạch, dự án mới có thể tiếp tục tiến tới giai đoạn xin giấy phép xây dựng.

Đến ngày 9 tháng 1 năm 2006, gia đình chính thức nhận được Giấy phép Xây dựng. Theo giấy phép này, ngôi nhà số 97 được phép xây dựng với quy mô 12 tầng, gồm một tầng hầm, một tầng lửng, chín tầng nổi và một tầng áp mái. Tổng diện tích sàn xây dựng lên tới 2.970 mét vuông, chiều cao công trình đạt 30,7 mét. Đối với gia đình chúng tôi, đây không chỉ là một công trình xây dựng đơn thuần mà còn là thành quả của nhiều năm tích lũy, tính toán và kỳ vọng.

Ngay sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, vấn đề cấp bách tiếp theo là tìm nơi ở tạm trong thời gian thi công. May mắn thay, các hộ dân đang sinh sống tại nhà số 97 đã thuê được một căn nhà trong ngõ Tức Mặc, chỉ cách nơi ở cũ khoảng một trăm mét. Gia đình tôi chuyển sang nhà thuê tại số 2 ngõ Tức Mặc từ ngày 10 tháng 2 năm 2006.

Việc chuyển nhà tuy quãng đường ngắn nhưng lại vô cùng vất vả. Đồ đạc tích lũy qua nhiều năm khá nhiều, trong khi phương tiện vận chuyển chủ yếu chỉ là chiếc xe máy 82 cũ kỹ, vốn nổi tiếng bền bỉ với biệt danh “nồi đồng cối đá”. Một mình tôi phải tự xoay xở, chở từng chuyến đồ từ sáng đến tối. Công việc kéo dài gần một tháng mới hoàn tất. Đến ngày 6 tháng 3 năm 2006, toàn bộ tài sản đã được chuyển hết sang nơi ở mới.

Ngay ngày hôm sau, 7 tháng 3 năm 2006, việc tháo dỡ ngôi nhà cũ chính thức bắt đầu. Những bức tường, mái ngói và các kết cấu đã gắn bó với gia đình suốt nhiều năm lần lượt được tháo bỏ. Đến ngày 17 tháng 3 năm 2006, công tác phá dỡ hoàn thành. Chứng kiến ngôi nhà cũ biến mất, ai cũng có chút bâng khuâng, nhưng đồng thời cũng đầy hy vọng vào một công trình mới khang trang hơn.

Trong thời gian này, Trần Thắng đưa bà Hằng vào miền Nam sinh sống. Dự định của gia đình là sau khi công trình hoàn thành khoảng hai năm sau đó sẽ đón bà trở lại Hà Nội để ở trong ngôi nhà mới.

Vấn đề khó khăn nhất tiếp theo là nguồn vốn xây dựng. Ngày 12 tháng 9 năm 2006, các thành viên trong gia đình lập một thỏa thuận nội bộ, thống nhất ủy quyền cho Trần Điền làm chủ đầu tư công trình và tổ chức kinh doanh khai thác tòa nhà sau khi hoàn thành. Hai ngày sau, ngày 14 tháng 9 năm 2006, gia đình tiếp tục ký thỏa thuận cho Công ty Trần của Trần Điền vay vốn ngân hàng và được quyền sử dụng tòa nhà trong thời hạn mười năm nhằm bảo đảm khả năng hoàn vốn. Ngày 15 tháng 9 năm 2006, Ngân hàng VPBank chính thức phê duyệt khoản vay phục vụ việc xây dựng.

Sau bao nhiêu tháng ngày chuẩn bị, thời khắc được mong đợi nhất cuối cùng cũng đến. Ngày 22 tháng 9 năm 2006, đúng mồng Một tháng Tám âm lịch, lễ khởi công xây dựng nhà số 97 được tiến hành. Chiếc máy khoan cọc nhồi đầu tiên bắt đầu hoạt động, đánh dấu sự khởi đầu của công trình. Từ đó, ngày nào công trường cũng nhộn nhịp tiếng máy móc. Đến ngày 25 tháng 10 năm 2006, hạng mục khoan cọc nhồi hoàn thành với tổng cộng 36 cọc bê tông đường kính một mét, sâu tới 40 mét. Những chiếc cọc đó không chỉ là nền móng của tòa nhà tương lai mà còn là nền móng cho những hy vọng và ước mơ mà cả gia đình đã kiên trì vun đắp suốt nhiều năm.

Trong suốt hơn hai năm xây dựng lại ngôi nhà số 97, đó là quãng thời gian đầy thử thách nhưng cũng chứa đựng nhiều kỷ niệm khó quên đối với gia đình chúng tôi. Từ khi công trình khởi công cho đến ngày hoàn thành, hai anh em là Trần Điền và Trần Hải gần như dành toàn bộ thời gian cho công việc xây dựng. Họ có mặt tại công trường từ sáng sớm đến tối muộn, trực tiếp theo dõi từng hạng mục, giải quyết từng khó khăn phát sinh. Có những ngày cao điểm, đặc biệt là những đợt đổ bê tông sàn hoặc dựng cột chịu lực, công việc kéo dài xuyên đêm. Khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ, họ vẫn còn tất bật dưới ánh đèn công trường. Nhiều lần phải đến hai hoặc ba giờ sáng mới trở về nhà nghỉ ngơi đôi chút trước khi lại tiếp tục một ngày làm việc mới.

Trong quá trình thi công, có nhiều việc tưởng chừng đơn giản nhưng lại đòi hỏi rất nhiều công sức và thủ tục. Một trong số đó là việc phải hạ một cây sấu cổ thụ đứng trong khuôn viên để tạo mặt bằng thuận lợi cho xây dựng. Đây là cây đã tồn tại từ rất lâu, gắn bó với cảnh quan khu vực nên việc chặt hạ không thể tiến hành tùy tiện. Gia đình phải thực hiện các thủ tục xin phép theo quy định. Sau nhiều cố gắng và chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 24 tháng 10 năm 2006, cây sấu đã được hạ xuống an toàn, không gây ảnh hưởng đến các công trình xung quanh.

Các hạng mục xây dựng lần lượt được triển khai. Đêm 19 rạng sáng ngày 20 tháng 01 năm 2007, công trình tiến hành đổ bê tông sàn tầng một. Một tuần sau, vào đêm 26 rạng sáng ngày 27 tháng 01 năm 2007, việc đổ bê tông các cột chống tầng một tiếp tục được thực hiện. Những đêm như vậy luôn là thời điểm căng thẳng nhất vì chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình. Vì vậy, mọi người đều phải tập trung cao độ cho đến khi công việc hoàn tất.

Trong quá trình thi công, chúng tôi nhận thấy cần phải điều chỉnh và hoàn thiện thêm một số chi tiết về kết cấu cũng như cách bố trí không gian bên trong tòa nhà. Những thay đổi này giúp công trình phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng lâu dài nhưng lại khiến một số nội dung không còn hoàn toàn giống với giấy phép xây dựng ban đầu. Do đó, gia đình phải thực hiện các thủ tục xin điều chỉnh giấy phép. Sau một thời gian làm việc với các cơ quan chức năng, ngày 17 tháng 4 năm 2007, giấy phép xây dựng sửa đổi đã được cấp. Theo giấy phép mới, công trình được xây dựng với quy mô 11 tầng, gồm 9 tầng nổi, một tầng trệt và một tầng kỹ thuật. Tổng diện tích sàn xây dựng đạt 2.760 mét vuông, chiều cao toàn bộ tòa nhà là 30,7 mét.

Công trình càng lên cao thì niềm tin vào tương lai càng lớn. Khi tòa nhà đang xây dựng đến tầng thứ tám, ngân hàng VPBank đã quyết định thuê tầng hai từ ngày 13 tháng 8 năm 2007. Đây là tín hiệu rất tích cực, cho thấy dự án đã nhận được sự quan tâm của các khách hàng tiềm năng ngay từ khi chưa hoàn thành.

Cuối năm 2007, công trình triển khai công đoạn hoàn thiện cuối cùng. Ngày 15 tháng 12 năm 2007, Trần Thắng đưa bà Hằng từ quê ra Hà Nội để tạm thời ở tại căn nhà thuê của Trần Quang. Sau nhiều tháng chờ đợi, ngày 26 tháng 4 năm 2008, tôi chính thức làm lễ nhập trạch tại tầng chín của tòa nhà. Đó là một dấu mốc đặc biệt, đánh dấu sự hoàn thành của một công trình mà cả gia đình đã dồn rất nhiều tâm huyết, công sức và tiền bạc.

Việc chuyển đồ từ căn nhà thuê ở số 2 ngõ Tức Mặc về nhà mới bắt đầu từ ngày 02 tháng 5 năm 2008. Công việc kéo dài liên tục trong nhiều ngày và đến 11 giờ trưa ngày 11 tháng 5 năm 2008 mới hoàn tất. Tuy nhiên, phải đến ngày 23 tháng 7 năm 2008, hệ thống điện chính thức của tòa nhà mới được đưa vào sử dụng đầy đủ.

Sau khi đi vào hoạt động, tình hình cho thuê văn phòng phát triển khá thuận lợi. Đến tháng 10 năm 2008, tòa nhà đã cho thuê được sáu tầng với tổng diện tích sử dụng 1.510 mét vuông trên tổng số 1.760 mét vuông diện tích kinh doanh. Hai tháng sau, tầng bảy cũng có khách thuê, nâng tỷ lệ lấp đầy lên khoảng 97%. Đến tháng 01 năm 2009, toàn bộ diện tích cho thuê đã được khai thác hết. Doanh thu đạt mức cao nhất kể từ khi công trình đi vào hoạt động, đủ để trang trải chi phí vận hành, trả lãi vay, đồng thời từng bước hoàn trả khoản vốn vay ngân hàng.

Nhìn lại chặng đường ấy, chúng tôi hiểu rằng thành công không đến từ may mắn mà là kết quả của sự kiên trì và nỗ lực không ngừng. Đến cuối năm 2010, gia đình đã trả được hơn 10% số vốn gốc vay ngân hàng. Con số ấy tuy chưa lớn nhưng là minh chứng cho hiệu quả của một quyết định táo bạo, đánh dấu sự trưởng thành của cả gia đình sau những năm tháng đầy gian khó nhưng cũng rất đáng tự hào.

Mùa xuân năm 2011 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời tôi. Sau nhiều năm lao tâm khổ tứ với công trình xây dựng tòa nhà số 97, cuối cùng tôi cũng có thể đứng lặng trước ban công và tận hưởng cảm giác nhẹ nhõm hiếm hoi của một người vừa hoàn thành được gánh nặng lớn nhất trên vai mình. Trước cửa số nhà 101, dãy cây sưa đồng loạt nở hoa trắng xóa. Những chùm hoa nhỏ li ti phủ kín các cành cây, tạo nên một khoảng trời trắng tinh khôi giữa lòng thành phố. Chỉ ít tuần sau, cây phượng trước cửa tòa nhà 97 cũng bắt đầu khoe sắc. Màu đỏ rực của những chùm hoa nổi bật trên nền trời xanh đầu hạ, làm sáng bừng cả mặt tiền công trình.

Khi quyết định xây dựng tòa nhà, tôi và gia đình đều tin rằng đây sẽ là một tài sản bền vững, mang lại nguồn thu ổn định trong tương lai. Thực tế trong những năm đầu cũng diễn ra khá thuận lợi. Các công ty thuê văn phòng hoạt động hiệu quả, nhu cầu thuê mặt bằng tương đối cao. Công trình mới, vị trí đẹp nên việc tìm kiếm khách thuê không gặp nhiều khó khăn. Những tín hiệu tích cực ấy càng củng cố niềm tin rằng quyết định đầu tư của chúng tôi là đúng đắn.

Nhưng cuộc đời vốn không diễn ra theo những kế hoạch được vạch sẵn. Năm 2011, nền kinh tế bắt đầu bộc lộ nhiều dấu hiệu suy giảm. Những khó khăn từ thị trường tài chính và bất động sản nhanh chóng lan rộng sang nhiều lĩnh vực khác. Các doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô hoạt động, cắt giảm chi phí để tồn tại. Tòa nhà 97 cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó.

Ban đầu, một số công ty chứng khoán đang thuê văn phòng đề nghị được giảm giá thuê. Họ giải thích rằng doanh thu sụt giảm nghiêm trọng, nếu không tiết kiệm chi phí sẽ rất khó duy trì hoạt động. Chúng tôi hiểu tình cảnh của họ nên cố gắng chia sẻ trong khả năng có thể. Tuy nhiên, khó khăn không dừng lại ở đó. Sau khi được giảm giá thuê, một số đơn vị tiếp tục trả lại bớt diện tích văn phòng. Những căn phòng vốn nhộn nhịp người ra vào bắt đầu thưa vắng dần.

Cùng lúc ấy, lãi suất ngân hàng liên tục tăng cao. Khoản vay phục vụ cho việc xây dựng công trình tuy đã giảm đáng kể nhưng tiền lãi phải trả hàng tháng vẫn là một gánh nặng không nhỏ. Doanh thu giảm trong khi chi phí tài chính tăng khiến bài toán kinh doanh trở nên ngày càng khó khăn. Để duy trì hoạt động, Công ty buộc phải tìm thêm những nguồn vốn khác ngoài ngân hàng. Đó thường là các khoản vay theo hình thức thỏa thuận dân sự với mức lãi suất không hề thấp. Mỗi tháng trôi qua lại là một lần cân đối thu chi đầy căng thẳng.

Tình hình tiếp tục xấu đi trong những năm sau đó. Đến tháng 3 năm 2012, diện tích cho thuê chỉ còn khoảng 80%. Nhiều văn phòng bị bỏ trống trong thời gian dài. Chúng tôi nỗ lực tìm khách thuê mới, điều chỉnh giá cả, thay đổi phương thức tiếp thị nhưng kết quả không được như mong muốn. Thị trường vẫn ảm đạm. Những con số thống kê doanh thu hàng tháng ngày càng khiến mọi người lo lắng hơn. Đầu năm 2015, tỷ lệ lấp đầy chỉ còn khoảng 60%. Nhìn những tầng nhà sáng đèn thưa thớt vào buổi tối, tôi không khỏi chạnh lòng.

Trước tình hình đó, gia đình bắt đầu nghiêm túc bàn đến phương án bán tòa nhà. Đây là một quyết định không dễ dàng. Công trình này là kết quả của biết bao công sức, tâm huyết và cả những năm tháng chịu đựng áp lực tài chính nặng nề. Ai cũng có tình cảm đặc biệt với nó. Thế nhưng, trong kinh doanh đôi khi phải biết chấp nhận thực tế và lựa chọn phương án hợp lý nhất.

Ban đầu, chúng tôi cân nhắc nhiều giải pháp khác nhau. Có người đề xuất bán một phần cổ phần. Có người nghĩ đến việc chuyển đổi công năng hoặc bán từng phần diện tích. Thậm chí phương án chia nhỏ thành các căn hộ để chuyển nhượng cũng được đưa ra thảo luận. Mỗi phương án đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Những cuộc họp gia đình kéo dài hàng giờ, nhiều khi kết thúc mà vẫn chưa tìm được tiếng nói chung.

Đến tháng 7 năm 2016, một bước ngoặt bất ngờ xuất hiện. Có một khách hàng đặc biệt tỏ ra rất yêu thích tòa nhà 97. Sau nhiều lần gặp gỡ và trao đổi, họ đưa ra mức giá mua gần với kỳ vọng mà chúng tôi đã dự tính từ trước. Kể từ thời điểm ấy, ý tưởng bán tòa nhà không còn là giả thiết mà dần trở thành một kế hoạch thực tế. Các cuộc thảo luận trong gia đình cũng chuyển sang một nội dung khác quan trọng không kém: phân chia thành quả như thế nào cho hợp lý sau khi chuyển nhượng tài sản.

May mắn là từ năm 2004, gia đình đã lập một văn bản thỏa thuận làm cơ sở cho việc xác định quyền lợi của từng thành viên. Nhờ đó, việc bàn bạc sau này không phải bắt đầu từ con số không. Tuy nhiên, càng đi sâu vào chi tiết, chúng tôi càng nhận thấy cần phải tính toán cẩn thận hơn để đảm bảo sự công bằng và minh bạch cho tất cả mọi người.

Cuộc sống trong tòa nhà mới tuy rất thoải mái, nhưng không chỉ gói gọn trong bốn bức tường của ngôi nhà. Bước chân ra khỏi cửa là một thực tế hoàn toàn khác. Vỉa hè trước nhà luôn trong tình trạng nhếch nhác. Hết đơn vị này đến đơn vị khác đào lên rồi lấp xuống để sửa chữa các công trình ngầm. Mặt đường và vỉa hè hiếm khi được bằng phẳng trong thời gian dài. Dọc tuyến phố là các điểm trông giữ xe máy và ô tô chen chúc. Nhiều đoạn vỉa hè gần như không còn chỗ cho người đi bộ.

Muốn đi dạo một quãng ngắn cũng phải luồn lách qua đủ loại chướng ngại vật: xe máy dựng san sát, hàng quán lấn chiếm, người bán hàng rong và dòng người tấp nập qua lại. Khung cảnh ấy tương phản hoàn toàn với sự tiện nghi và yên tĩnh bên trong ngôi nhà. Nó khiến tôi nhiều lần suy nghĩ về quyết định chuyển đổi đúng đắn và phù hợp về thời điểm.

Dẫu vậy, tòa nhà 97 vẫn là một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời tôi. Nó ghi lại những năm tháng lao động, đầu tư, hy vọng, thành công rồi lại đối mặt với thử thách. Công trình ấy không chỉ là một tài sản vật chất mà còn là chứng nhân của biết bao kỷ niệm, vui có, buồn có, tự hào có và cả những trăn trở khó quên trên hành trình của một đời người. Có lần dừng đèn đỏ ở đầu phố Phan Bội Châu, tôi nghe thấy người đàn ông đứng bên cạnh nói với con trai rằng: Ngôi nhà mới 97 giống như tượng đài của ông Trần Độ sừng sững giữa trời xanh mà vô cùng tự hào.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 đánh dấu một cột mốc đặc biệt trong lịch sử gia đình khi khách hàng chính thức đặt cọc mua căn nhà số 97. Như vậy, sau 44 năm gắn bó với biết bao kỷ niệm vui buồn, ngôi nhà thân thuộc ấy chuẩn bị được chuyển giao cho chủ sở hữu mới. Đó là một quyết định không dễ dàng đối với tất cả anh em chúng tôi, bởi mỗi góc nhà đều lưu giữ dấu ấn của cha mẹ và những năm tháng tuổi thơ.

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, bốn anh em đã cùng nhau ký Thỏa thuận phân chia tài sản. Theo thỏa thuận, anh Trần Thắng nhận trách nhiệm phụng dưỡng bà Hằng, đồng thời quản lý Quỹ Phụng dưỡng do cả bốn anh em cùng đóng góp. Một phần tài sản được dành để chuyển trả cho chị Tâm, người con nuôi mà bố mẹ luôn yêu thương như con ruột. Ngoài ra, gia đình cũng dành các khoản hỗ trợ cho những người thân thiết như anh Nghiêm Hà, gia đình anh Quyền, đồng thời giúp ổn định nơi ở mới cho gia đình Trần Quang và Trần Điền. Sau khi thanh toán các khoản vay, chi phí mua bán nhà và xử lý những công việc còn lại của công ty, số tài sản còn lại được chia đều cho bốn anh em. Ngày 01 tháng 8 năm 2018, căn nhà số 97 chính thức được bàn giao cho chủ mới, khép lại một chặng đường dài đầy kỷ niệm của gia đình.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cuộc duyệt binh lịch sử

Có một thời như thế đấy

Những kỷ niệm về ngôi nhà 97